Soạn bài Vào phủ chúa Trịnh (trích Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác) dưới đây trả lời 4 câu hỏi Đọc – hiểu và bài Luyện tập trong SGK Ngữ văn 11 tập một chương trình cũ (văn bản mở đầu sách, từ trang 3; câu hỏi ở trang 9). Đoạn trích không còn trong sách Ngữ văn 2018 nhưng vẫn là ngữ liệu tiêu biểu khi học thể kí trung đại; các bài khác của lớp 11 xem tại Ngữ văn lớp 11.
Tìm hiểu chung về đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh
Một vài thông tin nền giúp em hiểu vì sao một thầy thuốc vùng quê lại được dẫn vào tận chốn thâm nghiêm của phủ chúa.

Tác giả Lê Hữu Trác
Lê Hữu Trác (1724 – 1791; có tài liệu ghi năm sinh 1720), hiệu Hải Thượng Lãn Ông, quê ở Liêu Xá (Đường Hào, Hải Dương xưa), nay thuộc Yên Mỹ, Hưng Yên. Xuất thân trong gia đình nhiều đời đỗ đạt, ông từng học võ, có thời gian theo nghiệp binh, nhưng chán cảnh quan trường nên về quê mẹ ở Hương Sơn (Hà Tĩnh) làm thuốc, dạy học và viết sách. Ông là danh y lớn nhất thời trung đại, đồng thời là cây bút văn xuôi tài hoa. Bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 66 quyển là kết quả gần bốn mươi năm ông miệt mài nghiên cứu y học.
Xuất xứ đoạn trích
- Thượng kinh kí sự (Kí sự lên kinh) là tác phẩm chữ Hán, viết xong năm 1783, được đặt ở quyển cuối của bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh. Tác phẩm ghi lại những điều tác giả mắt thấy tai nghe từ khi nhận lệnh lên kinh chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán (cuối năm 1781 – đầu năm 1782) cho đến lúc được về lại Hương Sơn.
- Đoạn trích ghi lại buổi đầu tiên tác giả bước vào phủ, bắt mạch và tính phương thuốc cho thế tử.
- Thể loại: kí sự – ghi chép sự việc có thật theo trình tự thời gian, kèm cảm nghĩ của người viết.
Bố cục đoạn trích
- Phần 1 (từ đầu đến chỗ tác giả được dẫn vào xem mạch cho thế tử): cảnh vật cùng nếp sinh hoạt nơi phủ chúa qua con mắt người lần đầu bước vào.
- Phần 2 (còn lại): việc khám bệnh, chẩn đoán và những đắn đo trước khi ông viết đơn thuốc.
Hướng dẫn soạn bài Vào phủ chúa Trịnh (SGK Ngữ văn 11 cũ)
Phần Đọc – hiểu văn bản có 4 câu hỏi, phần Luyện tập có 1 bài, đều ở trang 9.
Câu 1: Quang cảnh, cung cách sinh hoạt và thái độ của tác giả (trang 9)
Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào? Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa ra sao? Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa như thế nào?
Trả lời:
a. Quang cảnh: cực kì tráng lệ nhưng thâm u, cách biệt
- Đường vào phủ phải qua nhiều lớp cửa, những dãy hành lang dài quanh co; trong vườn cây cối rậm rạp, “chim kêu ríu rít”, hoa thơm thoang thoảng.
- Nội thất sơn son thếp vàng: kiệu son, võng điều, những đồ nghi trượng lộng lẫy; người hầu hạ đứng chực khắp nơi.
- Càng vào sâu càng kín và tối: muốn tới chỗ thế tử phải vén qua “năm, sáu lần trướng gấm”, trong phòng thắp nến, hương hoa ngào ngạt.
b. Cung cách sinh hoạt: cầu kì, nhiều lễ nghi, đầy uy quyền
- Lệnh triệu thầy thuốc là “thánh chỉ”; người được triệu phải lên cáng đi gấp, chạy “như ngựa lồng”.
- Lời lẽ khi nói về chúa và thế tử đều cung kính tuyệt đối: chúa thì “Thánh thượng đang ngự”, thế tử thì phải lạy bốn lạy mới được xem mạch.
- Bữa sáng dọn bằng “mâm vàng, chén bạc”, toàn của ngon vật lạ; đi đâu cũng có người truyền báo, canh gác.
c. Người viết nhìn phủ chúa ra sao? ông quan sát tỉ mỉ, ghi chép khách quan, xen những lời cảm thán như thật như đùa (“khác hẳn người thường”). Đằng sau là thái độ dửng dưng, thậm chí mỉa mai kín đáo với cuộc sống xa hoa mà thiếu sinh khí; ông không hề bị cảnh giàu sang cám dỗ, trái lại còn thấy ngột ngạt, mong sớm được về núi.
Câu 2: Những chi tiết “đắt” làm nổi bật giá trị hiện thực (trang 9)
Phân tích những chi tiết trong đoạn trích mà anh (chị) cho là “đắt”, có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm.
Trả lời:
- Thế tử nhỏ tuổi ngồi trên sập vàng, cụ thầy thuốc già lạy bốn lạy, thế tử bật cười khen “Ông này lạy khéo!”. Chi tiết vừa buồn cười vừa chua chát: lễ nghi phong kiến đã đảo lộn cả trật tự tự nhiên, bắt người già phải quỳ trước một đứa trẻ; còn đứa trẻ thì ngây thơ, coi việc người khác lạy mình là chuyện thường.
- Đường tới phòng thế tử qua năm, sáu lớp trướng gấm, trong phòng tối om phải thắp nến. Hình ảnh ấy cho thấy sự cách biệt, bí bách: cái giàu sang biến thành chiếc lồng giam con người, giải thích luôn căn bệnh của thế tử.
- Bữa ăn “mâm vàng, chén bạc”. Chỉ một bữa sáng của khách cũng phô bày sự xa xỉ tột bậc nơi phủ chúa, trong khi ngoài kia dân chúng đói khổ.
- Thân hình thế tử gầy yếu, rốn lồi, gân xanh. Một đứa trẻ sống giữa nhung lụa lại ốm yếu, vì được nuôi quá kĩ, quá đầy đủ, không được vận động, không được tiếp xúc với gió trời.
Những chi tiết nhỏ nhưng chính xác ấy tố cáo một lối sống xa hoa, quyền uy mà ốm yếu từ bên trong – mầm mống suy tàn của tập đoàn phong kiến họ Trịnh.
Câu 3: Con người Lê Hữu Trác qua cách chữa bệnh và tâm tư khi kê đơn (trang 9)
Cách chẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến tâm tư của ông khi kê đơn cho ta hiểu gì về người thầy thuốc này?
Trả lời:
- Thầy thuốc giỏi: ông xem mạch, quan sát kĩ sắc mặt, thân hình rồi chỉ ra đúng căn nguyên: bệnh sinh ra từ lối sống “trong chốn màn che trướng phủ”, ăn mặc quá đầy đủ khiến tạng phủ yếu. Ông chủ trương bồi bổ, khác với phương pháp công phạt của các thầy thuốc trong phủ, và không ngại giữ vững chính kiến.
- Có lương tâm nghề nghiệp: lúc kê đơn, ông từng nghĩ chữa qua loa để khỏi bị giữ lại làm quan, nhưng rồi tự nhủ không thể làm trái y đức và phụ lòng trung của cha ông. Cuối cùng ông chọn kê đơn đúng bệnh.
- Khinh danh lợi, yêu tự do: ông chán cảnh phủ chúa, chỉ mong sớm được trở về với núi rừng Hương Sơn.
⇒ Lê Hữu Trác là một danh y tài đức vẹn toàn, một nhà nho thanh cao, coi trọng nhân cách hơn công danh.
Câu 4: Nét đặc sắc của bút pháp kí sự (trang 9)
Theo anh (chị), bút pháp kí sự của tác giả có gì đặc sắc? Phân tích những nét đặc sắc đó.
Trả lời:
- Quan sát tinh tường, ghi chép trung thực: tác giả kể theo trình tự thời gian và không gian, từ ngoài vào trong, từ cảnh vật đến con người; cảnh nào, việc nào cũng cụ thể, như dẫn người đọc cùng đi vào phủ.
- Chọn chi tiết sắc sảo: những chi tiết nhỏ (cái lạy, mâm vàng, lớp trướng gấm) nói được nhiều điều về hiện thực.
- Kết hợp kể, tả và bộc lộ cảm xúc: giọng văn khách quan nhưng thỉnh thoảng có câu cảm thán, câu thơ ứng khẩu, lời tự vấn, khiến trang kí vừa chân thực vừa có hồn.
- Giọng điệu châm biếm nhẹ nhàng, kín đáo: tác giả không trực tiếp phê phán mà để sự việc tự lên tiếng.
Câu 5 (Luyện tập): So sánh với một tác phẩm kí trung đại khác (trang 9)
So sánh đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh với một tác phẩm (hoặc đoạn trích) kí khác của văn học trung đại Việt Nam mà anh (chị) đã đọc và nêu nhận xét về nét đặc sắc của đoạn trích này.
Trả lời: Có thể so sánh với đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh của Phạm Đình Hổ (rút từ tập Vũ trung tùy bút):
- Giống nhau: cùng viết về phủ chúa Trịnh cuối thế kỉ XVIII, cùng phơi bày lối sống xa hoa, hưởng lạc của tầng lớp thống trị; cùng là văn xuôi chữ Hán ghi chép chuyện có thật.
- Khác nhau: Phạm Đình Hổ viết theo lối tùy bút, ghi lại điều nghe kể và nhớ lại, cảm xúc tự do, tập trung vào thú chơi cây cảnh của chúa và sự nhũng nhiễu của bọn hoạn quan. Lê Hữu Trác là người trong cuộc, kể theo lối kí sự với trình tự thời gian chặt chẽ, chi tiết tận mắt chứng kiến và có cả diễn biến nội tâm của chính mình.
- Nét đặc sắc riêng của Vào phủ chúa Trịnh: tính chân thực cao, nhân vật “tôi” hiện lên rõ nét với nhân cách thanh cao, giọng châm biếm tinh tế.
Kết luận
Soạn Vào phủ chúa Trịnh, em cần nắm được bức tranh xa hoa mà ngột ngạt của phủ chúa, những chi tiết “đắt” giàu giá trị hiện thực, nhân cách thanh cao của người thầy thuốc và đặc điểm bút pháp kí sự. Đó cũng là những ý chính khi viết bài phân tích đoạn trích.
Xem thêm: