Soạn bài Quang Trung đại phá quân Thanh (trích Hoàng Lê nhất thống chí, Ngô gia văn phái) theo sách Ngữ văn 8 Cánh diều tập 2, Bài 8 – Truyện lịch sử và tiểu thuyết. Bài soạn đi qua phần Chuẩn bị, 6 câu hỏi trong khi đọc và 6 câu hỏi cuối bài (trang 56–63), trả lời ngắn gọn, có dẫn chứng từ văn bản.
Lưu ý: đoạn trích trong sách Cánh diều mở đầu bằng cảnh Tôn Sĩ Nghị kiêu căng ở Thăng Long, khác với bản Kết nối tri thức (bắt đầu từ lúc Bắc Bình Vương nhận tin cấp báo). Nếu em học sách Kết nối tri thức, hãy xem bài soạn bài Quang Trung đại phá quân Thanh KNTT.
Chuẩn bị đọc Quang Trung đại phá quân Thanh (trang 56–57)
Phần Chuẩn bị yêu cầu em xem lại Kiến thức ngữ văn về truyện lịch sử, đọc trước văn bản và tìm hiểu nhóm tác giả Ngô gia văn phái. Dưới đây là gợi ý cho từng yêu cầu.

Truyện viết về sự kiện gì? Liên quan thế nào với lịch sử dân tộc?
- Sự kiện: cuộc tiến quân thần tốc ra Bắc và chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa của vua Quang Trung vào dịp Tết Kỷ Dậu (đầu năm 1789), đánh tan quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu.
- Bối cảnh: cuối năm 1788, Lê Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh; quân Thanh kéo vào chiếm Thăng Long, quân Tây Sơn do Ngô Văn Sở chỉ huy rút về giữ Tam Điệp.
- Nhân vật chính: Quang Trung – Nguyễn Huệ, Tôn Sĩ Nghị, Lê Chiêu Thống; bên cạnh là Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp, Sầm Nghi Đống… Đây đều là những con người có thật; sự kiện và địa danh (Tam Điệp, Hà Hồi, Ngọc Hồi, đầm Mực, sông Nhị Hà) cũng đúng với sử sách.
Chủ đề, tư tưởng, thông điệp của văn bản
- Chủ đề: chiến công đại phá quân Thanh mùa xuân năm 1789.
- Tư tưởng: ngợi ca người anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ và sức mạnh của chính nghĩa; phơi bày sự thảm bại của kẻ xâm lược và sự hèn kém của vua tôi nhà Lê.
- Thông điệp: đất nước có chủ quyền thì không kẻ thù nào khuất phục được; kẻ cậy thế ngoại bang để giữ ngai vàng rốt cuộc chỉ chuốc lấy nhục nhã.
Đặc điểm hình thức nổi bật của truyện
- Viết theo lối chương hồi: đầu hồi có hai câu tóm ý đối nhau (“Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận / Bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài”); chuyển mạch bằng những lời quen thuộc như “Lại nói”, “Nhắc lại”.
- Sự kiện được ghi theo mốc thời gian rất cụ thể (ngày 29 đến Nghệ An, ngày 30 tháng Chạp khao quân, nửa đêm mồng 3 tháng Giêng vây Hà Hồi, mờ sáng mồng 5 đánh Ngọc Hồi).
- Nhân vật hiện lên chủ yếu qua hành động và lời nói; ngôn ngữ mang dấu ấn thời phong kiến (chúa công, tiên sinh, thiên triều, thái hậu…), nhiều từ Hán Việt, giọng kể trang trọng.
Tình cảm, cảm hứng chủ đạo của người viết
Cảm hứng chủ đạo là ngợi ca và tự hào trước chiến thắng của dân tộc và tài năng của vua Quang Trung; xen vào đó là giọng mỉa mai, chê trách khi kể về Tôn Sĩ Nghị và vua tôi Lê Chiêu Thống. Điều đáng chú ý là nhóm tác giả vốn là bề tôi nhà Lê, vậy mà vẫn viết về Quang Trung bằng thái độ khâm phục – nhờ tôn trọng sự thật lịch sử và ý thức dân tộc.
Thông tin về nhóm tác giả Ngô gia văn phái
- Ngô gia văn phái là nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai (nay thuộc Hà Nội), một dòng họ nổi tiếng về văn học.
- Hoàng Lê nhất thống chí (Ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê) viết bằng chữ Hán, gồm 17 hồi. Theo nhiều nhà nghiên cứu, Ngô Thì Chí viết 7 hồi đầu, Ngô Thì Du viết 7 hồi tiếp (có hồi thứ mười bốn), 3 hồi cuối do người khác viết thêm.
- Tác phẩm tái hiện biến động xã hội Việt Nam từ khi Trịnh Sâm lên ngôi chúa (1767) đến khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua (1802). Đoạn trích trong SGK lấy từ hồi thứ mười bốn.
Câu hỏi trong khi đọc Quang Trung đại phá quân Thanh (trang 57–62)
Các câu hỏi này nằm ở ô bên lề văn bản, giúp em theo dõi từng tuyến nhân vật khi đọc.
Câu 1: Phần (1) kể về tuyến nhân vật nào? (trang 57)
Trả lời:
Phần (1) kể về tuyến nhân vật phía quân Thanh và triều đình Lê Chiêu Thống:
- Tôn Sĩ Nghị và tướng tá nhà Thanh: vào Thăng Long dễ dàng “như vào chỗ không người” nên sinh kiêu căng, để quân lính bỏ đội ngũ đi kiếm củi, buôn bán; tướng tá ngày ngày tiệc tùng, coi quân Tây Sơn như cá chậu chim lồng và định đến mồng 6 tháng Giêng mới xuất quân.
- Vua tôi Lê Chiêu Thống: dựa hẳn vào quân Thanh, bỏ bê việc nước; chỉ khi người cung nhân cũ cảnh tỉnh thái hậu thì nhà vua mới hoảng sợ, cùng Lê Quýnh đến xin Tôn Sĩ Nghị xuất quân và bị y căn vặn, trách móc.
Câu 2: Tóm tắt ý chính lời dụ của Quang Trung (trang 59)
Trả lời:
Lời dụ quân lính ở Nghệ An có bốn ý chính:
- Khẳng định chủ quyền: phương Nam, phương Bắc đã chia nhau mà cai trị; người phương Bắc không cùng nòi giống, “bụng dạ ắt khác”.
- Tố cáo tội ác của giặc phương Bắc từ đời Hán: cướp bóc, giết hại nhân dân, vơ vét của cải.
- Nêu truyền thống đánh giặc giữ nước: Trưng Nữ Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Trần Hưng Đạo, Lê Thái Tổ; từ đó khẳng định việc đánh quân Thanh là chính nghĩa.
- Kêu gọi quân sĩ đồng tâm hiệp lực và nghiêm lệnh: ai ăn ở hai lòng sẽ bị trị tội ngay.
Lời dụ ngắn mà đủ lí lẽ, có sức khích lệ như một bài hịch, khiến quân lính đồng thanh “xin vâng lệnh, không dám hai lòng”.
Câu 3: Ý nào trong lời của Quang Trung thể hiện tầm nhìn biết “lo xa”? (trang 60)
Trả lời:
Đó là đoạn Quang Trung nói với các tướng ở Tam Điệp: nhà vua tin chỉ khoảng mười ngày là đuổi được quân Thanh, nhưng đã tính đến chuyện sau chiến thắng – nước lớn gấp mười nước mình bị thua ắt sẽ thẹn mà lo báo thù, binh đao sẽ kéo dài, khổ cho dân. Vì thế ông dự định để Ngô Thì Nhậm, người “khéo lời lẽ”, lo việc ngoại giao, và mong có mười năm yên ổn để nuôi dưỡng lực lượng cho “nước giàu quân mạnh”. Chưa đánh trận nào mà đã nghĩ tới việc giữ hòa bình lâu dài: đó là tầm nhìn của một bậc quân vương.
Câu 4: Cách đánh giặc của Quang Trung có gì đặc biệt? (trang 61)
Trả lời:
- Thần tốc: từ Phú Xuân ra Nghệ An, Tam Điệp rồi tối 30 Tết lên đường; hẹn mồng 7 vào Thăng Long nhưng trưa mồng 5 đã vào thành.
- Bất ngờ, giữ bí mật: đánh đúng dịp Tết khi địch mải yến tiệc; đuổi bắt sống toàn bộ toán quân do thám ở Phú Xuyên nên không ai kịp chạy về báo tin.
- Mưu lược, đánh vào tâm lí: vây kín làng Hà Hồi, bắc loa gọi, quân lính dạ ran như có mấy vạn người khiến đồn giặc xin hàng mà không cần giao chiến.
- Sáng tạo chiến thuật: ở Ngọc Hồi, cho ghép ván phủ rơm ướt làm lá chắn, dàn trận chữ “nhất”, áp sát rồi đánh giáp lá cà bằng dao ngắn; đặt nghi binh ở đê Yên Duyên, dùng quân voi từ Đại Áng dồn giặc xuống đầm Mực.
- Trực tiếp chỉ huy: nhà vua cưỡi voi đốc thúc ngay giữa trận, khích lệ tinh thần quân sĩ.
Câu 5: Phần (3) có thể coi là một tuyến truyện không? Vì sao? (trang 62)
Trả lời:
Có. Phần (3) có nhân vật riêng (Tôn Sĩ Nghị, vua Lê, thái hậu, Lê Quýnh, Trịnh Hiến, người thổ hào) và chuỗi sự việc riêng: đang yến tiệc thì nghe tin Ngọc Hồi thất thủ, Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy qua cầu phao, cầu đứt, vua Lê cướp thuyền đánh cá chạy sang bờ bắc, trốn lên cửa ải. Tuyến này diễn ra song song với cuộc tiến công của Quang Trung, nối tiếp phần (1) và được mở bằng lời chuyển “Lại nói” – dấu hiệu quen thuộc của việc chuyển tuyến trong truyện chương hồi.
Câu 6: Hình dung thái độ và hành động của vua Lê (trang 62)
Trả lời:
Vua Lê hiện lên hốt hoảng, cuống quýt: nghe tin biến liền vội đưa thái hậu chạy, thấy cầu đứt thì cướp thuyền đánh cá sang sông, rồi bám theo đoàn quân Thanh tháo chạy. Nhịn đói mấy ngày, được người thổ hào giết gà làm cơm, ăn chưa xong nghe tin quân Tây Sơn đuổi tới lại rối rít van xin một con đường sống. Đến cửa ải, vua tôi chỉ còn biết “nhìn nhau than thở”. Một ông vua mà thân phận chẳng khác kẻ lưu vong – cái giá của việc cõng rắn cắn gà nhà.
Trả lời câu hỏi cuối bài Quang Trung đại phá quân Thanh (trang 63)
Sáu câu hỏi cuối bài giúp em khái quát sự kiện, bố cục, nhân vật và đặc điểm truyện lịch sử có cốt truyện đa tuyến.
Câu 1: Văn bản kể về những sự kiện gì, liên quan đến những tuyến nhân vật nào? (trang 63)
Trả lời:
- Sự kiện: (1) quân Thanh chiếm Thăng Long, kiêu căng chủ quan, vua tôi nhà Lê ỷ lại; (2) Quang Trung tiến quân ra Bắc, dụ quân sĩ, khao quân ở Tam Điệp, hạ đồn Hà Hồi, phá đồn Ngọc Hồi và tiến vào Thăng Long; (3) Tôn Sĩ Nghị tháo chạy, quân Thanh tan rã, vua Lê trốn theo lên cửa ải.
- Tuyến nhân vật: tuyến Quang Trung và nghĩa quân Tây Sơn (Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp…); tuyến Tôn Sĩ Nghị và quân Thanh (Sầm Nghi Đống…); tuyến Lê Chiêu Thống và bầy tôi (thái hậu, Lê Quýnh, Trịnh Hiến).
Câu 2: Đặt tên và nêu nội dung chính của mỗi phần (trang 63)
Trả lời:
- Phần (1) – “Giặc kiêu, vua hèn” (từ đầu đến lời vua Lê dặn Lê Quýnh): quân Thanh chủ quan, lơi lỏng; vua tôi Lê Chiêu Thống ỷ lại rồi hoảng hốt xin Tôn Sĩ Nghị xuất quân.
- Phần (2) – “Quang Trung thần tốc ra Bắc” (từ “Nhắc lại, Ngô Văn Sở…” đến “…rồi kéo vào thành”): cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung.
- Phần (3) – “Kẻ xâm lược tan tác, vua bán nước lưu vong” (còn lại): Tôn Sĩ Nghị tháo chạy, quân Thanh chết đuối nghẽn sông Nhị Hà; vua Lê chạy trốn thảm hại lên cửa ải.
Một số tài liệu chia bố cục theo bản SGK cũ (bắt đầu từ lúc Bắc Bình Vương nhận tin báo), không khớp với đoạn trích Cánh diều; em nên bám vào các số (1), (2), (3) đánh dấu trong sách.
Câu 3: Làm rõ tính cách của Quang Trung và Lê Chiêu Thống qua chi tiết (trang 63)
Trả lời:
| Nhân vật | Chi tiết tiêu biểu | Tính cách |
|---|---|---|
| Quang Trung | Hỏi kế Nguyễn Thiếp, tuyển quân, duyệt binh, dụ quân lính ở Nghệ An | Quyết đoán, biết lắng nghe, biết khơi dậy lòng yêu nước |
| Ở Tam Điệp: tính trước kế ngoại giao, mong “mười năm” yên ổn | Trí tuệ sáng suốt, tầm nhìn xa | |
| Khao quân 30 Tết, hẹn mồng 7 vào Thăng Long; trưa mồng 5 đã vào thành | Tự tin, tài dụng binh như thần | |
| Cưỡi voi đốc thúc trận Ngọc Hồi, dùng ván ghép phủ rơm ướt | Dũng cảm, mưu lược, sáng tạo | |
| Lê Chiêu Thống | Dựa vào Tôn Sĩ Nghị như “bức trường thành”, bỏ bê việc nước | Nhu nhược, ỷ lại ngoại bang |
| Chỉ lo người trong nước bàn tán, sợ thiên triều quở trách | Đặt ngai vàng lên trên quyền lợi dân tộc | |
| Cướp thuyền đánh cá chạy trốn, van xin người thổ hào chỉ đường | Hèn yếu, số phận thảm hại, nhục nhã |
Hai nhân vật được đặt cạnh nhau như một phép đối lập: một bên là người anh hùng cứu nước, một bên là ông vua cầu viện giặc để rồi phải bỏ nước ra đi.
Câu 4: Đặc điểm truyện lịch sử có cốt truyện đa tuyến qua đoạn trích (trang 63)
Trả lời:
- Nhiều tuyến nhân vật: ba tuyến Quang Trung – Tôn Sĩ Nghị – Lê Chiêu Thống, mỗi tuyến có nhân vật trung tâm và nhân vật phụ riêng.
- Nhiều chuỗi sự kiện diễn ra song song trong cùng khoảng thời gian cuối năm Mậu Thân – đầu năm Kỷ Dậu: trong khi quân Thanh yến tiệc ở Thăng Long thì Quang Trung đang thần tốc tiến quân.
- Các tuyến đan xen và có quan hệ nhân quả: sự chủ quan của quân Thanh (tuyến 1) tạo thời cơ cho đòn bất ngờ của Quang Trung (tuyến 2); chiến thắng ấy dẫn tới cảnh tháo chạy ở tuyến 3.
- Dấu hiệu chuyển tuyến: lời kể “Lại nói”, “Nhắc lại” đặt ở đầu mỗi phần.
- Tính lịch sử: nhân vật, thời gian, địa danh đều có thật, được kể theo trình tự thời gian rõ ràng.
Câu 5: Thông điệp của đoạn trích và giá trị với cuộc sống hôm nay (trang 63)
Trả lời:
Qua đoạn trích, tác giả gửi gắm niềm tin rằng chính nghĩa và lòng yêu nước, cùng một người lãnh đạo tài đức, sẽ chiến thắng; còn kẻ xâm lược kiêu căng và kẻ bán nước cầu vinh tất yếu thất bại nhục nhã. Thông điệp ấy vẫn còn nguyên giá trị: nó bồi đắp lòng tự hào dân tộc, nhắc chúng ta trân trọng độc lập, chủ quyền mà cha ông đã đổi bằng xương máu. Ở phạm vi nhỏ hơn, cảnh quân Thanh thua vì chủ quan cũng là bài học cho mỗi người: dù trong học tập hay công việc, xem thường khó khăn là tự đặt mình vào thế thua.
Câu 6: Những ý chính khi viết bài giới thiệu nhân vật Quang Trung (trang 63)
Trả lời:
- Giới thiệu chung: Quang Trung – Nguyễn Huệ (1753–1792), lãnh tụ phong trào Tây Sơn, nhân vật được khắc họa nổi bật trong hồi thứ mười bốn Hoàng Lê nhất thống chí.
- Hoàn cảnh xuất hiện: quân Thanh chiếm Thăng Long, Ngô Văn Sở rút về Tam Điệp và cấp báo vào Phú Xuân.
- Phẩm chất, tài năng: hành động quyết đoán; trí tuệ sáng suốt, biết người biết ta; tầm nhìn xa; tài dụng binh thần tốc, bất ngờ; oai phong, dũng cảm nơi trận mạc.
- Chiến công tiêu biểu: hạ đồn Hà Hồi, phá đồn Ngọc Hồi, giải phóng Thăng Long chỉ trong mấy ngày Tết Kỷ Dậu.
- Nghệ thuật khắc họa: qua hành động, lời nói, đặt trong thế đối lập với Tôn Sĩ Nghị và Lê Chiêu Thống.
- Đánh giá: hình tượng người anh hùng áo vải, niềm tự hào của dân tộc.
Kết luận
Soạn bài Quang Trung đại phá quân Thanh Cánh diều cần nắm hai điều: đoạn trích có ba tuyến nhân vật đan xen (quân Thanh, Quang Trung, vua tôi nhà Lê) và hình tượng vua Quang Trung là trung tâm, được làm nổi bật bằng thủ pháp đối lập. Khi làm bài, em nhớ dẫn chứng bằng hành động cụ thể trong văn bản thay vì nhận xét chung chung.
Xem thêm: