Bỏ qua tới nội dung
Thư viện văn học số
Tra chính tả
Lớp mấy?

Viết báo cáo kết quả của bài tập dự án – Dàn ý + 10 bài mẫu hay nhất (lớp 12)

Cập nhật 09/10/2026·MMavrick Nguyễn·60 phút đọc·Ngữ văn 12·Bài 2: Hài kịch
Nội dung chính
  • Yêu cầu của kiểu bài báo cáo kết quả bài tập dự án
  • Báo cáo dự án gắn với bài học trong sách
  • Báo cáo dự án về vấn đề xã hội ở trường và quanh trường
  • Báo cáo dự án lưu giữ văn hóa và kí ức

Báo cáo kết quả của bài tập dự án là văn bản nhóm viết sau khi đã làm xong một việc có thật: dựng một vở diễn, quay một bộ phim, mở một tủ sách, khảo sát một vấn đề xã hội. Đề viết báo cáo kết quả của bài tập dự án xuất hiện trong cả ba bộ sách lớp 12: Ngữ văn 12 Kết nối tri thức (tập hai, Bài 6 Hồ Chí Minh – Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi), Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo (tập hai, Bài 7 Trong ánh đèn thành thị, với đề dự án về một vấn đề xã hội) và Ngữ văn 12 Cánh diều (tập một, Bài 2 Hài kịch). Trang gồm bảng yêu cầu của từng bộ, một dàn ý chung, 10 báo cáo mẫu về mười dự án khác nhau, các lỗi hay gặp và gợi ý cho phần trình bày nói. Mọi tên trường, tên làng, người thực hiện và con số trong các mẫu là hư cấu, dựng lên nhằm cho thấy cách trình bày, không phải kết quả của một nhóm có thật.

viết báo cáo kết quả của bài tập dự án lớp 12
Viết báo cáo kết quả của bài tập dự án – văn mẫu lớp 12

Yêu cầu của kiểu bài báo cáo kết quả bài tập dự án

Bài tập dự án là việc làm kéo dài vài tuần, thường theo nhóm, kết thúc bằng một sản phẩm có thể đem ra trưng bày hay giới thiệu. Báo cáo kết quả không kể lại cảm xúc của nhóm; nó cho người đọc biết nhóm định làm gì, đã làm đến đâu, sản phẩm ra sao, tốt ở chỗ nào, hỏng ở chỗ nào, và sản phẩm ấy sẽ được dùng vào việc gì.

Tiêu chí Đạt khi
Thông tin chung Tên dự án nằm trong nhan đề; có nhóm thực hiện, người hướng dẫn, thời gian bắt đầu – kết thúc.
Mục tiêu, nội dung Nói rõ dự án đòi hỏi làm ra cái gì, cho ai dùng, vì sao cần làm.
Tổ chức thực hiện Có phân công theo thế mạnh từng người và các bước (giai đoạn) có mốc thời gian; nêu những yếu tố đã giúp hoặc cản trở dự án.
Kết quả – phần trọng tâm Liệt kê sản phẩm cụ thể (bao nhiêu, dạng gì), mô tả nội dung, có số liệu do nhóm tự ghi; bảng, sơ đồ, ảnh có số thứ tự và lời thuyết minh.
Trung thực Không thổi phồng kết quả, ghi đúng nguồn tư liệu, xin phép người được ghi hình, ghi âm; nói rõ phần nào chưa làm được.
Tự đánh giá, bài học Đối chiếu kết quả với mục tiêu ban đầu; chỉ ra nguyên nhân thành công hoặc chưa thành công ở khâu tổ chức.
Hướng sử dụng, đề xuất Sản phẩm được cất ở đâu, dùng khi học bài nào, chia sẻ cho ai; việc cần làm tiếp.
Ngôn ngữ Khách quan, gọn; thuật ngữ dùng đúng; nguồn trích có ghi rõ, cước chú và danh mục tài liệu theo một quy cách thống nhất.

Ba bộ sách cùng tên kiểu bài nhưng đặt trọng tâm khác nhau:

Bộ sách Vị trí Điểm nhấn của sách
Kết nối tri thức Tập hai, Bài 6 Yêu cầu nêu nội dung và mục đích dự án, các yếu tố chi phối thành công, mô tả và tự đánh giá kết quả nổi bật (có phương tiện phi ngôn ngữ), đề xuất cách dùng kết quả, ý nghĩa của dự án với nhóm. Sách nhắc học sinh không khai khống kết quả, không vi phạm bản quyền, và gợi ý những đề tài như lập bản đồ hành trình cứu nước của Bác, dựng một đêm hài kịch, làm video về các văn bản thông tin.
Chân trời sáng tạo Tập hai, Bài 7 Trong ánh đèn thành thị Dự án phải là một vấn đề xã hội, nên báo cáo gần với báo cáo nghiên cứu: phần mở đầu giới thiệu tên và hình thức dự án, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu cùng nhiệm vụ, cách nghiên cứu, sản phẩm phải làm và thời gian; sau đó nêu những gì nghiên cứu tìm ra, cuối cùng là kết luận (đề xuất giải pháp hay chỉ ra điều phải tìm hiểu tiếp). Ngữ liệu là một dự án tìm hiểu học sinh khối 11 quan tâm tới Truyện Kiều đến mức nào. Sách đòi hỏi có bảng biểu, ghi nguồn khi trích, có cước chú và danh mục tài liệu.
Cánh diều Tập một, Bài 2 Hài kịch Báo cáo gồm bốn nội dung: mục tiêu, nội dung, kết quả (phần chính, chia nhỏ thành: bao nhiêu tài liệu, sản phẩm có nội dung gì, minh họa ra sao, sản phẩm đạt đến đâu), tự đánh giá và kiến nghị. Ảnh đưa vào phải có thuyết minh. Bài tập yêu cầu thay mặt nhóm báo cáo một trong hai dự án: sức mạnh của tiếng cười qua một số tác phẩm hài kịch, hoặc tác động của phương tiện nghe – nhìn tới văn hóa đọc của người trẻ.
Dàn ý

Dàn ý báo cáo kết quả của bài tập dự án

410 từ

1. Mở bài (thông tin chung)

– Nhan đề: Báo cáo kết quả bài tập dự án + tên dự án.
– Nhóm thực hiện, lớp, người hướng dẫn; thời gian thực hiện.
– Mục tiêu và nội dung dự án: làm ra sản phẩm gì, phục vụ ai, vì sao chọn đề tài (gắn với bài học nào trong sách).
– Với Chân trời sáng tạo: thêm câu hỏi nghiên cứu, phương pháp, hình thức dự án.

2. Thân bài (quá trình và kết quả)

a. Tổ chức thực hiện: bảng phân công; các giai đoạn và mốc thời gian; những điều kiện đã giúp dự án (người hỗ trợ, tư liệu, thiết bị).
b. Kết quả chính: từng sản phẩm, số lượng, nội dung, chất lượng; số liệu nhóm tự ghi đặt trong bảng; ảnh, sơ đồ có thuyết minh; đường dẫn tới sản phẩm nghe – nhìn nếu có.
c. Khó khăn đã gặp và cách nhóm xử lí.
d. Tự đánh giá: so với mục tiêu đã đạt bao nhiêu; điểm mới, điểm sáng tạo; chỗ còn non.

3. Kết bài (sử dụng kết quả và bài học)

– Hướng sử dụng sản phẩm: lưu ở đâu, dùng vào tiết học, hoạt động nào.
– Bài học kinh nghiệm cho lần sau; ý nghĩa của dự án với nhóm.
– Đề xuất, kiến nghị; hướng làm tiếp.
– Tài liệu tham khảo, minh chứng, phụ lục (phiếu hỏi, ảnh, biên bản).

Mẹo nhỏ: viết phần kết quả trước, vì đó là phần người chấm đọc kĩ nhất; phần mở và phần bài học viết sau sẽ gọn hơn, ít lan man hơn.

Báo cáo dự án gắn với bài học trong sách

Hai mẫu đầu đi thẳng vào gợi ý của hai bộ sách: dự án tìm hiểu lịch sử địa phương sau bài học về Hồ Chí Minh (Kết nối tri thức) và dự án dựng một cảnh hài kịch (Cánh diều).

Mẫu 1

Mẫu 1: Bản đồ số các di tích lịch sử – cách mạng của xã

1.616 từ

Tình huống giả định: năm học sinh lớp 12A3 ở một trường THPT vùng đồng bằng làm dự án trong năm tuần; tên xã, tên di tích và mọi con số dưới đây là tưởng tượng.

BÁO CÁO KẾT QUẢ BÀI TẬP DỰ ÁN
Bản đồ số Dấu tích cách mạng quê mình

1. Thông tin chung

Nhóm thực hiện: nhóm 2, lớp 12A3. Người hướng dẫn: cô giáo dạy Ngữ văn và thầy giáo dạy Lịch sử của lớp. Thời gian: từ tuần thứ hai tháng Ba đến hết tuần thứ hai tháng Tư.

Lí do chọn đề tài: học xong Tuyên ngôn Độc lập và phần tác gia Hồ Chí Minh, cả nhóm nhận ra mình biết khá nhiều về Quảng trường Ba Đình nhưng gần như không biết gì về những nơi ở chính xã mình từng gắn với cách mạng. Bài 6 lấy tên là lời Bác về văn hóa soi đường; nhóm muốn bắt đầu từ việc soi lại con đường làng.

Yêu cầu dự án: lập một bản đồ số đánh dấu các di tích lịch sử – cách mạng trong xã; mỗi điểm có ảnh, đoạn giới thiệu ngắn, nguồn tư liệu; có mã QR in ra để dán ở lớp và thư viện.

2. Phân công và các bước tiến hành

Thành viên Việc chính
Đàm Thanh Dao (trưởng nhóm) Lập kế hoạch, liên hệ ủy ban xã và hội cựu chiến binh, duyệt nội dung cuối
Ông Đức Khoát Dựng bản đồ trên một ứng dụng bản đồ trực tuyến, tạo mã QR
Lưu Thảo Nhu Chụp ảnh từng điểm, ghi tọa độ, xin phép trước khi chụp nơi thờ tự
Âu Văn Đôn Phỏng vấn người cao tuổi, ghi âm, chép lại lời kể
Yên Gia Ngự Viết các đoạn giới thiệu, đối chiếu với tư liệu thư viện xã

Bảng 1. Phân công trong nhóm.

Dự án đi qua bốn bước: (1) tuần đầu, đọc cuốn lịch sử địa phương mượn ở thư viện xã, lập danh sách địa điểm; (2) tuần hai và ba, đi thực địa vào chiều thứ Bảy, chụp ảnh, phỏng vấn; (3) tuần bốn, viết thuyết minh, dựng bản đồ; (4) tuần năm, gửi thầy Lịch sử đọc soát, sửa, in mã QR.

3. Kết quả chính

Bản đồ hoàn thành có 9 điểm, chia ba lớp màu: đỏ là nơi diễn ra sự kiện, xanh là nơi tưởng niệm, vàng là nhà của những người có công đã được gia đình đồng ý công khai. Mỗi điểm có từ hai đến bốn ảnh, một đoạn giới thiệu khoảng một trăm chữ và một dòng ghi nguồn.

Loại địa điểm Số điểm Tư liệu kèm theo
Nơi diễn ra sự kiện (đình làng, bến sông, gốc đa) 4 Ảnh hiện trạng, lời kể của 3 nhân chứng
Nơi tưởng niệm (nghĩa trang liệt sĩ, bia ghi danh) 3 Ảnh, số liệu đếm trên bia
Nhà người có công 2 Ảnh do gia đình cung cấp

Bảng 2. Các điểm trên bản đồ (số liệu giả định).

Ví dụ một điểm trên bản đồ: đình làng phía bắc xã (tên giả định). Đoạn giới thiệu cho biết đình từng là nơi họp của thanh niên trong làng những năm kháng chiến, nay được dùng làm nơi sinh hoạt cộng đồng; ảnh chụp cổng đình, gian giữa và tấm bảng ghi dấu; dòng nguồn ghi: theo cuốn lịch sử địa phương và lời kể của hai cụ trong hội người cao tuổi. Mỗi đoạn giới thiệu được viết ngắn để đọc hết trên màn hình điện thoại mà không phải kéo.

Bản đồ được giới thiệu trong tiết Ngữ văn ngày cuối dự án. Sau tiết ấy, nhóm đếm được 117 lượt mở bản đồ từ mã QR trong một tuần và nhận 6 góp ý sửa lỗi, trong đó có hai góp ý từ một cựu giáo viên về hưu của trường.

4. Khó khăn và cách xử lí

Khó nhất là lời kể không khớp nhau. Hai cụ cùng nhắc một cuộc họp bí mật ở bến sông, nhưng một cụ nói năm này, cụ kia nói năm khác, còn cuốn lịch sử địa phương không ghi. Nhóm quyết định không ghi năm cho điểm này, chỉ ghi: theo lời kể của nhân chứng, chưa đối chiếu được tư liệu. Thầy Lịch sử đồng ý cách làm ấy. Khó khăn thứ hai là thời tiết: hai buổi thực địa bị mưa, nhóm phải dời sang sáng Chủ nhật.

5. Những yếu tố giúp dự án thành công

Thứ nhất là có người giới thiệu: nhờ cô chủ nhiệm gọi điện trước cho hội cựu chiến binh, nhóm được đón tiếp chứ không bị hỏi han nghi ngại. Thứ hai là nhóm có sẵn một bạn quen làm bản đồ trực tuyến, nên phần kĩ thuật không làm chậm tiến độ. Thứ ba là việc đọc tài liệu trước khi đi thực địa: biết trước nơi nào cần hỏi điều gì nên mỗi buổi phỏng vấn chỉ mất chừng bốn mươi phút.

6. Hướng sử dụng kết quả

Bản đồ có thể dùng khi học Bài 6, trong buổi sinh hoạt dưới cờ dịp kỉ niệm Cách mạng tháng Tám, và cho các lớp 10 khi làm dự án tìm hiểu địa phương. Mã QR được in khổ A4 đặt ở thư viện trường; đường dẫn gửi cho đoàn xã nếu xã muốn dùng.

7. Rút kinh nghiệm và tự đánh giá

So với kế hoạch, nhóm đạt 9/10 điểm dự kiến; điểm còn thiếu là một hầm bí mật nay đã bị lấp, không còn dấu vết để chụp. Điều nhóm làm tốt là ghi nguồn cho từng điểm và tách rõ đâu là tư liệu, đâu là lời kể. Điều chưa tốt: chia việc chưa đều, phần viết dồn vào một bạn ở tuần cuối. Lần sau nhóm sẽ viết ngay sau mỗi buổi thực địa. Với từng thành viên, dự án đổi cách nhìn con đường đi học hằng ngày: cái gốc đa ở ngã ba giờ có tên, có chuyện.

Minh chứng kèm theo: đường dẫn bản đồ; 31 ảnh; 3 tệp ghi âm (đã được người kể đồng ý); biên bản họp nhóm 4 buổi.

Điểm cần học: khi lời kể và tư liệu lệch nhau, báo cáo nói thẳng điều chưa kiểm được thay vì chọn đại một con số; đó chính là phần trung thực mà Kết nối tri thức nhắc tới.

Mẫu 2

Mẫu 2: Dựng hoạt cảnh Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục cho đêm văn nghệ

1.007 từ

Tình huống giả định: tập thể lớp 12D1 chọn dự án sân khấu hóa sau khi học bài Hài kịch; số buổi tập, số khán giả và kết quả phiếu hỏi không lấy từ buổi diễn thật.

BÁO CÁO KẾT QUẢ DỰ ÁN SÂN KHẤU HÓA
Tiếng cười trên sân khấu trường

1. Mục tiêu của dự án

Chuyển một cảnh hài kịch thành tiết mục khoảng mười hai phút cho đêm văn nghệ 20/11, qua đó hiểu tiếng cười hài kịch sinh ra từ đâu: từ chỗ vênh giữa điều nhân vật cố khoe ra và con người thật của hắn.

2. Nội dung của dự án

Lớp chọn cảnh ông Giuốc-đanh mặc lễ phục trong vở Trưởng giả học làm sang của Mô-li-e, vì cảnh ngắn, nhiều hành động, nhiều bạn đã gặp ở lớp 8. Năm bạn giữ việc chính: Giản Hoài Thông đạo diễn và chuyển thể; Đỗ Minh Hoành đóng ông Giuốc-đanh; Thái Kim Phụng đóng bác phó may; Cấn Thế Chương lo phần nhạc; Hầu Ngọc Tuyền làm trang phục và đạo cụ. Bốn vai thợ phụ do các bạn khác trong lớp nhận.

3. Kết quả thực hiện

Sản phẩm 1 – kịch bản chuyển thể. Bản dịch trong sách được giữ phần lớn lời thoại, chỉ rút gọn những câu dài và thêm chỉ dẫn sân khấu cho phù hợp sân khấu hội trường. Lớp không đổi tình tiết: bộ lễ phục may hoa ngược, phó may lấp liếm rằng giới quý phái chuộng đúng kiểu ấy, ông Giuốc-đanh phát hiện tấm áo phó may đang mặc cắt từ xấp vải ông giao, rồi bốn thợ phụ nâng dần danh xưng ông lớn, cụ lớn, đức ông, mỗi nấc lại được một món tiền.

Sản phẩm 2 – tiết mục trên sân khấu. Diễn một lần chính thức trước khoảng 600 học sinh. Điểm cười lớn nhất, như lớp dự đoán, là đoạn thợ phụ nâng dần danh xưng: Hoành móc túi chậm dần, mặt mỗi lúc một rạng rỡ, khán giả đếm theo.

Sản phẩm 3 – video và tập ảnh. Một video quay toàn cảnh 12 phút 40 giây; 48 ảnh hậu trường, mỗi ảnh có chú thích một dòng.

Sản phẩm 4 – phiếu hỏi khán giả. Lớp phát 80 phiếu cho ba lớp ngồi gần sân khấu, thu về 71.

Câu hỏi Kết quả (71 phiếu)
Bạn cười nhiều nhất ở đoạn nào? Thợ phụ gọi danh xưng: 39; hoa may ngược: 20; đoạn khác: 12
Sau khi xem, bạn có muốn đọc cả vở kịch không? Có: 29; chưa chắc: 30; không: 12

Bảng 1. Ý kiến khán giả (số liệu giả định).

4. Tự đánh giá và kiến nghị

Tiết mục đạt mục tiêu chính: người xem cười đúng chỗ tính cách lộ ra, không phải cười vì động tác lố. Nhưng lớp tự thấy hai điểm yếu. Một là phần đầu (thử bít tất, giày) bị kéo dài, nhịp chùng xuống. Hai là bạn đóng phó may nói nhỏ, hàng ghế cuối không nghe rõ. Lớp không có micro cài áo, phải đứng gần micro chân, khiến di chuyển bị bó lại.

Nhiều khán giả chọn chưa chắc muốn đọc cả vở; điều đó cho thấy tiết mục làm người ta cười nhưng chưa làm người ta tò mò về phần còn lại của câu chuyện. Lần sau, lớp đề nghị có một bạn dẫn chuyện nói ba câu trước khi màn mở: ông Giuốc-đanh là ai, muốn gì, chuyện gì sẽ xảy ra với ông.

Kiến nghị với Đoàn trường: cho mượn micro không dây trong buổi tổng duyệt; video được lưu ở thư viện để các lớp 12 năm sau xem khi học bài Hài kịch.

Điểm cần học: phiếu hỏi khán giả biến cảm giác thành số liệu; nhờ đó phần tự đánh giá nói được cả điểm đạt và điểm hụt, không chỉ khen tiết mục của mình.

Báo cáo dự án về vấn đề xã hội ở trường và quanh trường

Ba mẫu tiếp theo hợp với đề của Chân trời sáng tạo: nhóm chọn một vấn đề có thật quanh mình, thu số liệu, đề xuất giải pháp. Mỗi mẫu chọn một cách trình bày khác: mục La Mã, báo cáo đầy đủ có cước chú, và báo cáo cá nhân rất ngắn.

Mẫu 3

Mẫu 3: An toàn giao thông ở cổng trường giờ tan học – đề xuất phân luồng

704 từ

Tình huống giả định: ba học sinh lớp 12A6 của một trường nằm sát đường liên phường đứng đếm xe trong sáu buổi chiều; trường, con đường và mọi số đếm đều là giả định.

I. Thông tin dự án

Tên dự án: Cổng trường an toàn lúc 17 giờ. Hình thức: khảo sát thực địa và đề xuất giải pháp. Nhóm thực hiện: Phạm Thế Duyệt (trưởng nhóm, đếm xe), Tô Hải Thăng (chụp ảnh, vẽ sơ đồ), Bạch Thu Ái (phỏng vấn, tổng hợp). Thời gian: bốn tuần.

Câu hỏi nghiên cứu: (1) Ùn tắc ở cổng trường giờ tan học dồn vào những phút nào, do loại xe nào? (2) Có cách sắp xếp nào giảm ùn mà không cần xây thêm gì?

II. Cách làm

Nhóm đứng ở hai điểm cố định, mỗi chiều từ 16 giờ 50 đến 17 giờ 20, chia thời gian thành ba khung mười phút, đếm xe dừng đón con ở lòng đường. Ngoài ra, nhóm hỏi ngắn 24 phụ huynh đang chờ và hai bác bảo vệ.

III. Kết quả

Khung giờ Xe máy dừng đón (trung bình) Ô tô dừng đón (trung bình)
16:50 – 17:00 38 4
17:00 – 17:10 91 11
17:10 – 17:20 27 3

Bảng 1. Số xe dừng đón ở lòng đường trước cổng, trung bình sáu buổi (số liệu giả định).

Hơn một nửa số xe dồn vào mười phút ngay sau trống tan. Ô tô ít nhưng mỗi xe chiếm chỗ bằng năm, sáu xe máy và thường dừng ngay trước cổng. Phụ huynh được hỏi phần lớn nói họ đến sớm để giữ chỗ gần cổng; nhiều người không biết phía sau trường còn một cổng phụ ra ngõ rộng.

IV. Đề xuất phân luồng

Nhóm vẽ một sơ đồ với ba thay đổi, đều không tốn tiền xây dựng: khối 10 ra cổng phụ, khối 11 và 12 ra cổng chính; các lớp ở tầng trên tan muộn hơn năm phút; kẻ vạch sơn khu chờ cho xe máy trên vỉa hè rộng phía bên trái cổng, đề nghị ô tô dừng cách cổng ít nhất một đoạn bằng chiều dài sân bóng rổ. Bác bảo vệ cho biết việc mở cổng phụ cần thêm một người trực, đó là điểm nhóm chưa giải quyết được.

V. Tự đánh giá và hướng tiếp theo

Số liệu chỉ có sáu buổi, lại vào mùa khô; ngày mưa có thể khác hẳn. Nhóm đã gửi sơ đồ và bảng số liệu cho thầy phụ trách nề nếp, đề nghị cho thử hai tuần rồi đếm lại theo đúng cách cũ để so sánh trước – sau. Nếu được thử, báo cáo lần hai sẽ có cột so sánh ấy.

Điểm cần học: đề xuất chỉ thuyết phục khi bám vào một con số cụ thể, ở đây là mười phút sau trống tan; báo cáo cũng nói luôn việc chưa làm được (người trực cổng phụ) thay vì bỏ qua.

Mẫu 4

Mẫu 4: Khảo sát việc làm thêm của học sinh lớp 12

1.183 từ

Tình huống giả định: nhóm 5 lớp 12C1 hỏi ý kiến học sinh khối 12 trong trường mình bằng phiếu giấy; quy mô, tỉ lệ và lời kể đều được dựng lại cho bài mẫu.

BÁO CÁO KẾT QUẢ BÀI TẬP DỰ ÁN
Học sinh lớp 12 đi làm thêm: được gì, mất gì?

Tóm tắt. Nhóm phát phiếu cho học sinh ba lớp 12, thu về 112 phiếu hợp lệ, phỏng vấn thêm 6 bạn đang đi làm. Khoảng một phần ba số bạn trả lời đã hoặc đang làm thêm, chủ yếu vào cuối tuần. Người làm thêm dưới 8 giờ mỗi tuần nói việc học hầu như không bị ảnh hưởng; người làm trên 15 giờ mỗi tuần thì phần lớn thừa nhận đã ngủ ít đi hoặc bỏ buổi học thêm.

1. Mở đầu

Mục tiêu: mô tả thực trạng làm thêm của học sinh khối 12 và tìm mức thời gian làm thêm không ảnh hưởng nhiều tới năm học cuối cấp. Câu hỏi nghiên cứu: Bao nhiêu bạn đi làm thêm, làm việc gì, bao nhiêu giờ? Số giờ làm thêm liên quan thế nào tới giấc ngủ và việc học? Phương pháp: phiếu hỏi 10 câu; phỏng vấn sâu; tổng hợp bằng bảng tính. Phân công: Kiều Anh Tuân (trưởng nhóm, thiết kế phiếu), Doãn Quốc Uy (nhập liệu, lập bảng), Ninh Hồng Nguyện (phỏng vấn), Lâm Gia Bân (viết báo cáo, làm trang chiếu). Sản phẩm: báo cáo, bộ trang chiếu, tờ thông tin một trang. Thời gian: tháng Mười đến giữa tháng Mười Một.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Khái niệm. Trong dự án này, làm thêm là công việc có trả công, ngoài giờ học, kéo dài ít nhất một tháng(1). Giúp việc nhà, trông em không có lương không tính.

2.2. Kết quả phiếu hỏi.

Nhóm Số bạn Tỉ lệ (/112)
Chưa từng làm thêm 75 67%
Đã hoặc đang làm, dưới 8 giờ/tuần 22 20%
Đang làm, 8–15 giờ/tuần 10 9%
Đang làm, trên 15 giờ/tuần 5 4%

Bảng 1. Thời gian làm thêm của 112 học sinh khối 12 (số liệu giả định).

Việc phổ biến nhất là phục vụ quán đồ uống (14 bạn), bán hàng trực tuyến cho gia đình hoặc người quen (9 bạn), gia sư cho học sinh tiểu học (6 bạn). Lí do nhiều bạn chọn nhất là có tiền tiêu riêng, đứng sau là muốn thử làm việc trước khi chọn ngành; chỉ 4 bạn nói làm vì gia đình cần.

2.3. Làm thêm và việc học. Trong 15 bạn làm từ 8 giờ mỗi tuần trở lên, 11 bạn nói thường ngủ dưới sáu tiếng vào đêm có ca làm, 7 bạn đã bỏ ít nhất một buổi học thêm trong tháng. Ngược lại, nhóm dưới 8 giờ mỗi tuần gần như không ghi nhận thay đổi. Một bạn bán hàng trực tuyến kể rằng việc khó nhất không phải là giờ làm mà là điện thoại cứ rung lên trong giờ học vì khách nhắn tin.

2.4. Bàn luận. Con số không cho phép kết luận làm thêm gây sa sút học tập: có thể chính những bạn vốn học vất vả hơn mới chọn đi làm nhiều. Nhóm chỉ dám nói rằng số giờ làm thêm và giấc ngủ có đi cùng nhau. Mặt khác, gia sư và bán hàng giúp nhiều bạn bạo dạn hơn khi trò chuyện với người lớn – điều các bạn nhắc tới nhiều nhất trong phỏng vấn.

3. Kết luận

Làm thêm ít giờ, vào cuối tuần, gần như không ảnh hưởng tới năm cuối cấp; làm nhiều ca tối trong tuần là điều nên cân nhắc. Nhóm đề xuất đưa nội dung quản lí thời gian và quyền lợi khi đi làm vào một buổi sinh hoạt hướng nghiệp. Nhóm chưa tìm hiểu kĩ quy định pháp luật về lao động chưa thành niên; đây là phần cần mời người có chuyên môn và là hướng làm tiếp của dự án.

Cước chú. (1) Định nghĩa do nhóm tự đặt cho phạm vi dự án, không phải định nghĩa pháp lí.

Tài liệu tham khảo. Ngữ văn 12, tập hai, bộ Chân trời sáng tạo, phần Viết của Bài 7; phiếu hỏi và biên bản phỏng vấn của nhóm (phụ lục 1, 2).

Điểm cần học: phần bàn luận phân biệt hai thứ đi cùng nhau với nguyên nhân – kết quả; một câu dè dặt đúng chỗ khiến người đọc tin báo cáo hơn là nhiều câu khẳng định chắc nịch.

Mẫu 5

Mẫu 5: Tủ sách cầu thang ở khu tập thể

716 từ

Tình huống giả định: một học sinh lớp 12 tự làm dự án cá nhân ở khu nhà mình đang sống; con số sách và lượt mượn là con số tự đặt.

Báo cáo kết quả dự án cá nhân: Tủ sách chiếu nghỉ tầng hai, nhà B (khu tập thể cũ)
Người thực hiện: Quản Đức Thiều, lớp 12A1. Thời gian: tám tuần hè và đầu năm học.

Khu nhà B có bốn tầng, hai mươi tư hộ, một chiếu nghỉ rộng chỉ để xe đạp hỏng. Mục tiêu của em: biến chỗ ấy thành tủ sách mượn – trả tự giác, ai lấy sách thì tự ghi tên vào sổ, khi trả thì gạch đi.

Đã làm được: xin bác tổ trưởng cho dùng chiếu nghỉ; xin được một tủ gỗ cũ của nhà tầng ba; dán thông báo xin sách, nhận 143 cuốn từ 15 hộ; phân thành bốn ngăn (thiếu nhi, truyện, sách nấu ăn và sức khỏe, sách tham khảo cho học sinh); làm sổ mượn treo dây.

Tháng Lượt mượn ghi sổ Sách được trả Sách mới góp thêm
Tháng thứ nhất 52 41 18
Tháng thứ hai 37 30 6

Bảng 1. Sổ mượn hai tháng đầu (số liệu giả định).

Chưa làm được: 18 cuốn chưa thấy trả, trong đó phần lớn là truyện tranh. Lượt mượn tháng thứ hai giảm. Em nghĩ có hai lí do: hết hè, các em nhỏ đi học; sách mới góp thêm ít nên người lớn ghé một lần là đã xem hết. Em cũng nhận ra mình treo sổ mượn quá cao so với các em mới vào tiểu học, nên nhiều lần các em lấy sách mà không ghi.

Phản hồi của người dùng: em hỏi nhanh mười hộ khi gặp ở cầu thang. Bảy hộ nói có ghé tủ ít nhất một lần; hai cô ở tầng bốn đề nghị thêm sách về trồng cây, một chú ở tầng một góp ý nên có giờ khóa tủ ban đêm vì chiếu nghỉ không có đèn. Ý kiến cuối khiến em nhận ra một việc mình chưa nghĩ tới: tủ sách ở nơi chung thì phải tính cả chuyện an toàn, không chỉ chuyện sách.

Tự đánh giá: tủ đã dựng xong và có người dùng thật; còn mục tiêu để tủ tự vận hành thì chưa đạt, vì tháng nào em cũng phải tự đi nhắc người trả. Em định hạ sổ xuống thấp, mỗi tháng đổi chỗ một ngăn sách lên trên cùng cho mới mắt, và nhờ hai bạn nhỏ tầng một làm thủ thư nhí.

Còn một câu hỏi em chưa trả lời được: có nên khóa tủ để giữ sách, hay chấp nhận mất một ít để tủ luôn mở?

Điểm cần học: báo cáo ngắn vẫn đủ khung nếu tách bạch đã làm được – chưa làm được – tự đánh giá; để lại một câu hỏi mở cũng là cách nêu hướng tiếp theo.

Báo cáo dự án lưu giữ văn hóa và kí ức

Ba mẫu dưới đây có sản phẩm là âm thanh, hình ảnh và chữ viết về người thật quanh mình. Chúng hợp với gợi ý làm video, thư viện ảnh của Kết nối tri thức và yêu cầu ảnh có thuyết minh của Cánh diều. Với loại dự án này, xin phép người được ghi âm, ghi hình là một phần của kết quả, nên báo cáo phải nói đến.

Mẫu 6

Mẫu 6: Sổ từ phương ngữ ghi âm từ ông bà (báo cáo dạng trang chiếu)

711 từ

Tình huống giả định: hai bạn cùng lớp có ông bà quê Nghệ Tĩnh làm dự án trong ba tuần và trình bày bằng trang chiếu; bản dưới đây là trang chiếu chuyển thành văn bản, số mục từ là con số minh họa.

Trang chiếu 1 – Tên dự án. Sổ từ “Nhà mình nói rứa”. Thực hiện: Hồ Sĩ Đắc và Lê Hà Mi, lớp 12B4. Người cho tư liệu: ông nội của Đắc, bà ngoại của Mi.

Trang chiếu 2 – Vì sao làm. Ở nhà, ông bà nói giọng quê; bố mẹ hiểu nhưng ít dùng; đến lượt chúng em thì nhiều từ chỉ còn nghe thấy mà không nói được. Học về từ ngữ địa phương ở lớp dưới, chúng em muốn ghi lại vốn từ ấy trước khi nó chỉ còn trong trí nhớ.

Trang chiếu 3 – Cách làm. Mỗi tối thứ Ba và thứ Sáu ghi âm 30 phút chuyện trò với ông bà; nghe lại, nhặt từ; tra nghĩa và đối chiếu với các bài viết về phương ngữ; nhờ ông bà nghe lại phần giải nghĩa xem có đúng ý không.

Trang chiếu 4 – Kết quả. Sổ có 86 mục từ, xếp theo vần chữ cái, mỗi mục có nghĩa phổ thông, một câu ví dụ do ông bà nói và tên tệp ghi âm.

Từ Nghĩa phổ thông Câu ông bà nói (ghi lại)
mô đâu Cháu đi mô về muộn rứa?
răng sao, thế nào Răng không ăn cơm?
mần làm Mần xong bài chưa?
chi gì Mua chi mà nhiều rứa?

Bảng 1. Bốn mục từ trích từ sổ (câu ví dụ là ghi chép giả định).

Trang chiếu 5 – Điều thú vị. Nhiều từ không đứng một mình mà đi thành chuỗi: chỉ ghép mô, tê, răng, rứa với chi, ni là đã nói được cả một câu hỏi. Ông bảo người ngoài nghe thì tưởng nói nhanh, chứ người trong nhà nghe ra cả sự quan tâm.

Trang chiếu 6 – Khó khăn. Có những từ ông bà dùng mà các bài viết chúng em tìm được không có, nghĩa lại thay đổi theo câu. 19 mục như vậy chúng em để riêng một phần, ghi rõ: nghĩa theo lời ông bà, chưa đối chiếu được.

Trang chiếu 7 – Tự đánh giá. Đạt: có sổ, có tệp âm thanh, nhờ người nói gốc kiểm nghĩa. Chưa đạt: chưa ghi được cách phát âm bằng kí hiệu; một số tệp bị lẫn tiếng ti vi.

Trang chiếu 8 – Dùng vào đâu. Tặng một bản in cho thư viện lớp; mở cho các bạn có ông bà ở vùng khác góp thêm phần của nhà mình. Mi muốn làm tiếp một sổ cho giọng quê mẹ ở miền Tây.

Điểm cần học: trình bày theo trang chiếu buộc mỗi phần chỉ một ý, rất hợp khi phải báo cáo nói; và phần chưa đối chiếu được được tách riêng, ghi rõ, không trộn vào phần đã kiểm.

Mẫu 7

Mẫu 7: Podcast “Phố mình ngày trước” – người cao tuổi kể chuyện khu phố xưa

827 từ

Tình huống giả định: ba bạn lớp 12B2 sống cùng một phường cũ làm bốn tập phát trên một nền tảng podcast; người kể, lượt nghe và tên khu phố là hư cấu.

BÁO CÁO KẾT QUẢ BÀI TẬP DỰ ÁN: PODCAST “PHỐ MÌNH NGÀY TRƯỚC”

1. Mục tiêu và nội dung. Ghi lại lời kể của người cao tuổi về khu phố trước khi khu chợ cũ được xây lại, làm thành chuỗi podcast mỗi tập khoảng mười lăm phút để người trẻ trong phường nghe. Nhóm gồm Đường Bảo Hoan (dẫn chuyện, đặt câu hỏi), Kha Nhật Điền (thu âm, dựng tiếng), Lý Thục Xuyên (viết lời giới thiệu, quản lí trang podcast). Thời gian: sáu tuần.

2. Quá trình. Tuần một, nhóm đến nhà văn hóa phường xin giới thiệu người kể và soạn bộ câu hỏi chung. Tuần hai đến bốn, thu âm tại nhà người kể, mỗi buổi không quá một giờ để các cụ không mệt. Tuần năm, dựng tiếng, cho người kể nghe lại trước khi phát. Tuần sáu, phát và giới thiệu trong nhóm tin nhắn của tổ dân phố.

3. Kết quả. Bốn tập đã phát:

Tập Người kể Nội dung chính Thời lượng Lượt nghe sau 3 tuần
1 ông Trịnh Văn Liêm, 84 tuổi Cái giếng chung đầu ngõ và giờ xếp hàng gánh nước 14 phút 312
2 bà Lã Thị Nhị, 79 tuổi Gánh hàng xén ở chợ cũ, cách mặc cả 17 phút 268
3 ông Trịnh Văn Liêm Những đêm cả phố xem chung một chiếc ti vi 15 phút 241
4 bà Lã Thị Nhị và con gái Hai thế hệ nói về một con phố 19 phút 196

Bảng 1. Danh mục bốn tập và lượt nghe (số liệu giả định).

Tập 2 nhận nhiều bình luận nhất; vài người đã chuyển nhà đi xa nhắn lại tên những người bán hàng mà họ còn nhớ.

4. Khó khăn và cách xử lí. Thu âm ở nhà dân luôn có tiếng xe, tiếng chó sủa; Điền phải đặt điện thoại thu âm trên gối mềm và xin tắt quạt trong lúc kể. Ông Liêm hai lần đổi ý về một chi tiết trong tập 1. Nhóm giữ lời ông lần sau cùng và nói rõ trong phần giới thiệu tập rằng đây là kí ức của một người, không phải tư liệu lịch sử.

5. Tự đánh giá. Nhóm làm đủ số tập đã định và được người kể đồng ý cả bốn tập. Chưa đạt: lượt nghe giảm dần từ tập 1 tới tập 4; nhóm đoán vì tập sau dài hơn và đăng cách nhau quá lâu. Nếu làm lại, mỗi tập sẽ dưới mười hai phút và đăng đều vào tối thứ Bảy.

6. Hướng sử dụng. Bản ghi gốc chưa cắt được chép vào hai ổ lưu trữ, một bản gửi nhà văn hóa phường. Nhóm đề nghị dùng tập 1 và tập 3 khi lớp học các văn bản về đời sống đô thị trong bài Trong ánh đèn thành thị.

Phụ lục. (1) Bộ câu hỏi phỏng vấn 12 câu. (2) Giấy đồng ý ghi âm và phát sóng, có chữ kí của người kể. (3) Bản chép lời tập 2.

Điểm cần học: một dự án có người thật phải chứng minh được sự đồng ý của họ; phụ lục giấy đồng ý ở đây quan trọng ngang bảng lượt nghe.

Mẫu 8

Mẫu 8: Phim tài liệu ngắn về một làng đan mây tre

1.370 từ

Tình huống giả định: năm bạn trong câu lạc bộ truyền thông của trường quay một phim ngắn ở một làng nghề cách trường chừng mười cây số; tên làng, tên nghệ nhân, số cảnh quay đều không có thật.

BÁO CÁO KẾT QUẢ BÀI TẬP DỰ ÁN
Phim tài liệu “Sợi mây về phố”

Sản phẩm cuối cùng: một phim dài 9 phút 30 giây, có phụ đề, kèm một tập ảnh 24 tấm có chú thích. Phim kể một ngày làm việc của ông Phan Văn Chấn, 68 tuổi, nghệ nhân đan ở làng Đông Mây (tên giả định), và hai người thợ trẻ đang học nghề với ông.

Nhóm thực hiện và phân công. Đoàn Hữu Cương (đạo diễn, liên hệ làng); Chu Thanh Tịnh (biên kịch, phỏng vấn); Bùi Nhật Quảng (quay phim); Sầm Mỹ Lăng (dựng phim, phụ đề); Ứng Văn Hành (âm thanh, nhạc nền). Thầy cố vấn câu lạc bộ duyệt kịch bản và đi cùng nhóm hai trong bốn buổi quay.

Giai đoạn 1 – Chuẩn bị (2 tuần). Nhóm đọc văn bản thông tin Đồ dùng mây tre đan trong sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập hai, để biết tên gọi các công đoạn và đồ vật, rồi tới làng một buổi không mang máy, chỉ để làm quen và hỏi ý ông Chấn. Tịnh viết kịch bản khung gồm bốn phần: nguyên liệu, đôi tay, người học nghề, sản phẩm ra phố. Kịch bản khung chỉ để biết cần quay gì; lời nhân vật để họ tự nói.

Giai đoạn 2 – Ghi hình (3 tuần, 4 buổi).

Phần Cảnh chính Số cảnh quay được Số cảnh dùng
Nguyên liệu Phơi, chẻ, vót nan 34 9
Đôi tay Cận cảnh ông Chấn đan đáy giỏ 41 12
Người học nghề Hai thợ trẻ và lời ông dặn 27 8
Ra phố Đóng hàng, chở lên xe 19 5

Bảng 1. Cảnh quay theo từng phần (số liệu giả định).

Gần một phần ba thời lượng phim là cận cảnh đôi tay, vì đó là chỗ Quảng quay đẹp nhất và là chỗ người xem ít có dịp thấy. Lời ông Chấn được giữ nguyên giọng, có phụ đề cho những từ địa phương.

Buổi phỏng vấn dài nhất diễn ra ở buổi quay thứ ba. Tịnh hỏi ông Chấn vì sao vẫn đan tay khi ngoài chợ đã có nhiều đồ nhựa rẻ hơn. Ông không trả lời ngay mà đưa cho Tịnh cầm thử một chiếc giỏ, rồi bảo đồ nhựa dùng vài năm thì vứt, còn giỏ này hỏng nan nào thì thay nan ấy. Câu trả lời ấy được đặt ở gần cuối phim, ngay trước cảnh hàng được chở đi. Nhóm cũng hỏi hai thợ trẻ vì sao theo nghề; một người nói học vì thích làm ra món đồ có thể cầm nắm, người kia chỉ cười và bảo để ông nói hộ.

Giai đoạn 3 – Hậu kì (2 tuần). Lăng dựng ba bản: bản 15 phút, bản 12 phút, bản cuối 9 phút 30 giây. Mỗi lần cắt, cả nhóm cùng xem và chỉ giữ cảnh nào nói được điều mà cảnh khác chưa nói. Nhạc nền là đoạn sáo do Hành tự thổi và thu, nên phim không dùng bản nhạc nào của người khác.

Kết quả công chiếu. Phim chiếu trong buổi sinh hoạt câu lạc bộ (khoảng 60 người xem) và chiếu ở nhà văn hóa thôn của làng. Ở buổi chiếu ở làng, hai thợ trẻ nhìn thấy mình trên màn hình thì cười ngượng, còn ông Chấn xin một bản để gửi cho cháu đang làm ăn xa.

Khó khăn và cách xử lí. Buổi quay đầu, ánh sáng trong xưởng tối, cảnh hỏng gần hết; buổi sau nhóm xin quay ở hiên nhà buổi sáng. Thời gian là khó khăn lớn nhất: bốn buổi quay rơi vào tuần kiểm tra giữa kì, hai bạn phải xin đổi lịch trực lớp.

Tự đánh giá. Phim hoàn chỉnh, đúng thời lượng, có lời đồng ý của nhân vật. Tuy vậy, phần người học nghề còn mỏng: hai thợ trẻ ngại máy quay, chỉ trả lời rất ngắn. Nhóm hiểu ra rằng muốn người ta nói thật trước ống kính thì phải gặp họ nhiều lần trước khi bấm máy, không chỉ một lần.

Ý nghĩa với nhóm. Trước dự án, cả năm bạn đều nghĩ phim tài liệu là quay thật nhiều rồi cắt ghép. Sau dự án, nhóm hiểu phần lớn công việc nằm ở chỗ chọn bỏ: từ 121 cảnh chỉ còn 34. Cương, người đạo diễn, viết trong biên bản họp cuối rằng việc khó nhất của cậu là phải cắt cảnh mình thích nhất vì nó không giúp gì cho câu chuyện.

Hướng sử dụng. Phim lưu ở thư viện số của trường và có thể dùng khi học văn bản Đồ dùng mây tre đan; nhóm đã hỏi ý ông Chấn trước khi cho phép chiếu ở trường khác.

Bài học về bản quyền. Bản dựng thứ hai từng dùng một bản nhạc tải trên mạng; thầy cố vấn hỏi nhóm đã xin phép chưa, cả nhóm không trả lời được. Nhóm bỏ bản nhạc ấy, và từ đó mới có đoạn sáo của Hành.

Điểm cần học: báo cáo kể lại cả bản dựng bị bỏ và lí do bỏ; chi tiết ấy cho thấy nhóm đã tự sửa sai về bản quyền, đúng điều sách yêu cầu ở sản phẩm dự án.

Báo cáo dự án cộng đồng ngắn gọn

Hai mẫu cuối là báo cáo gửi một tổ chức (câu lạc bộ, Đoàn trường) chứ không chỉ gửi giáo viên, nên văn phong gần văn bản hành chính hơn. Một mẫu rất ngắn để luyện trình bày gọn trong một trang.

Mẫu 9

Mẫu 9: Vườn rau thủy canh trên sân thượng trường (báo cáo một trang)

679 từ

Tình huống giả định: sáu học sinh trong câu lạc bộ Khoa học ở một trường nội thành trồng rau trong ống nhựa trên sân thượng; sản lượng và chi phí ghi dưới đây là số liệu giả định.

Báo cáo nhanh – Dự án “Sân thượng xanh”
Người viết: Khương Minh Tân (lớp 12A2), thay mặt nhóm 6 thành viên; cùng phụ trách kĩ thuật: Trình Gia Hạo. Thời gian: 10 tuần, học kì I.

Sau mười tuần, sân thượng thu được khoảng 14 kg rau ăn lá, đủ cho bếp ăn bán trú của trường dùng trong ba bữa. Mục tiêu ban đầu là chứng minh có thể trồng rau sạch trên một mặt sàn bê tông bỏ không mà không cần đất.

Tuần Việc đã làm
1–2 Tìm hiểu cách trồng, lập dự trù, xin phép nhà trường
3 Lắp 4 giàn ống nhựa, 120 lỗ trồng, máy bơm nhỏ hẹn giờ
4–9 Gieo cải, rau muống; pha dung dịch dinh dưỡng theo hướng dẫn trên bao bì; trực theo lịch
10 Thu hoạch, cân, giao bếp ăn; tổng kết

Bảng 1. Tiến độ dự án.

Phân công: hai bạn lắp giàn và lo điện nước, hai bạn pha dung dịch và ghi sổ theo dõi chiều cao cây mỗi thứ Hai, hai bạn liên hệ bếp ăn và lo việc thu hoạch. Lịch trực chia theo ngày trong tuần, mỗi ngày một người lên kiểm tra máy bơm vào giờ ra chơi.

Loại rau Số lỗ trồng Thu hoạch (kg)
Cải ngọt 60 8,1
Rau muống 60 5,9

Bảng 2. Thu hoạch theo loại rau (số liệu giả định).

Chi phí khoảng 2,6 triệu đồng, lấy từ quỹ câu lạc bộ và tiền bán cây giống ở hội chợ xuân. Khó khăn lớn nhất là tuần thứ sáu mất điện hai ngày, bơm ngừng, một giàn rau héo; nhóm đã chuyển sang hẹn giờ ngắn hơn và đặt thêm một thùng nước dự phòng có vòi tưới tay.

Tự đánh giá: nhóm chứng minh được điều định chứng minh, nhưng xét về tiền thì chưa hiệu quả, vì 14 kg rau chưa bù được chi phí. Bài học: khâu trực nhật cuối tuần phải có người thay thế ghi sẵn trong lịch, và mọi thiết bị chạy điện đều cần một phương án dự phòng khi mất điện.

Việc cần làm tiếp: bàn giao giàn cho câu lạc bộ khóa sau; thử thêm loại rau ít cần nắng cho góc khuất; mời lớp 10 lên tham quan trong tiết Sinh học.

Điểm cần học: mở bằng kết quả cuối cùng rồi mới nói mục tiêu là lối báo cáo nhanh; một trang vẫn có tiến độ, chi phí, sự cố và việc bàn giao.

Mẫu 10

Mẫu 10: Góc đọc sách cho bệnh nhi ở khoa Nhi bệnh viện tỉnh

747 từ

Tình huống giả định: chi đoàn lớp 12A5 làm dự án tình nguyện trong hai tháng và báo cáo lên Ban Chấp hành Đoàn trường; tên bệnh viện không nêu, số sách và số buổi đọc là giả định.

CHI ĐOÀN 12A5
BÁO CÁO KẾT QUẢ DỰ ÁN
Góc sách cho bạn nhỏ nằm viện

Kính gửi: Ban Chấp hành Đoàn trường.

Thực hiện kế hoạch hoạt động tình nguyện học kì I đã được Đoàn trường duyệt, chi đoàn 12A5 báo cáo kết quả dự án như sau.

1. Mục đích. Làm một góc sách cố định ở phòng sinh hoạt chung của khoa Nhi, giúp các bạn nhỏ nằm viện lâu ngày và người nhà có sách đọc; tổ chức đọc truyện vào chiều thứ Bảy.

2. Người thực hiện. Nhâm Bảo Luận (bí thư chi đoàn, liên hệ khoa), Tăng Ngọc Bội (phụ trách sách), Phó Đình Sỹ (lịch đọc truyện, ghi chép) cùng 18 đoàn viên trong chi đoàn.

3. Kết quả. Quyên góp được 236 cuốn; sau khi chọn lọc theo yêu cầu của khoa (sách còn mới, bìa cứng hoặc bọc nhựa, không có chi tiết nhỏ dễ rời), bàn giao 164 cuốn và một kệ gỗ thấp. Tổ chức 7 buổi đọc truyện, mỗi buổi 45 phút, trung bình 9 bạn nhỏ tham gia. Sổ góp ý đặt cạnh kệ ghi được 23 dòng của người nhà bệnh nhi, phần lớn xin thêm truyện tranh và sách tô màu cho trẻ dưới sáu tuổi. Việc vệ sinh sách làm theo hướng dẫn của điều dưỡng khoa; chi đoàn không tự đưa đồ dùng nào khác vào phòng bệnh.

4. Khó khăn. Lịch đọc trùng giờ thăm khám, hai buổi phải lùi một tiếng. Một số đoàn viên lúng túng khi đọc cho trẻ nhỏ; chi đoàn đã nhờ một cô giáo mầm non là phụ huynh của lớp hướng dẫn một buổi về cách đọc có ngắt nghỉ, hỏi đáp.

5. Tự đánh giá và đề xuất. Dự án đạt mục tiêu dựng góc sách; phần đọc truyện mới đạt 7 trên 8 buổi dự kiến. Chi đoàn đề xuất Đoàn trường giao việc duy trì góc sách cho một chi đoàn lớp 11, bàn giao kèm sổ theo dõi sách và danh sách liên hệ với khoa.

Hồ sơ kèm theo: biên bản bàn giao sách có xác nhận của khoa; danh sách quyên góp; ảnh tại các buổi đọc (chỉ chụp từ phía sau, không chụp mặt trẻ, theo đề nghị của khoa).

Nơi nhận: Ban Chấp hành Đoàn trường; giáo viên chủ nhiệm lớp 12A5; lưu hồ sơ chi đoàn.

T/M Chi đoàn 12A5
Bí thư
(kí, ghi rõ họ tên)
Nhâm Bảo Luận

Điểm cần học: khi người nhận là một tổ chức, báo cáo cần kính gửi, căn cứ, nơi nhận, chữ kí; chi tiết không chụp mặt trẻ cho thấy nhóm tôn trọng quy định của nơi mình đến giúp.

Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao

Lỗi hay gặp Sửa thế nào
Viết thành bài nghị luận: mở bằng vai trò của tiếng cười, của mạng xã hội…, không có sản phẩm nào cụ thể. Câu đầu tiên của phần kết quả phải gọi tên sản phẩm: một vở diễn 12 phút, một bản đồ 9 điểm, 86 mục từ.
Không có phân công, thời gian; người đọc không biết ai làm gì. Một bảng phân công năm dòng hoặc một câu liệt kê là đủ; ghi mốc tuần, tháng.
Chỉ kể điều tốt. Dành ít nhất một đoạn cho khó khăn và cách xử lí, một đoạn cho điều chưa đạt.
Số liệu không rõ gốc, hoặc bịa số cho đẹp. Ghi cách thu (đếm, phiếu hỏi, cân), quy mô (bao nhiêu người, bao nhiêu buổi). Khi làm bài thi, số liệu tự đặt ra phải nói rõ là giả định.
Ảnh, bảng không có tên, không thuyết minh. Đánh số Bảng 1, Ảnh 1; dưới mỗi bảng có một câu nhận xét.
Quên hướng sử dụng sản phẩm. Trả lời ba câu: cất ở đâu, dùng khi nào, ai được dùng.
Bỏ qua chuyện xin phép, bản quyền. Dự án có người thật, ảnh, nhạc thì ghi rõ đã được đồng ý, nhạc tự làm hoặc được phép dùng.
Dùng chung khung Chân trời sáng tạo cho mọi dự án. Dự án vấn đề xã hội cần câu hỏi nghiên cứu, phương pháp; dự án làm sản phẩm (vở diễn, phim) thì tập trung mô tả sản phẩm, quá trình làm và phản hồi của người xem.

Mẹo trong bài kiểm tra: khi đề yêu cầu báo cáo một dự án mà em chưa thực sự làm, hãy chọn một dự án nhỏ, cỡ một nhóm làm xong trong dăm tuần; chi tiết nhỏ (12 phút 40 giây, 71 phiếu, giàn ống 120 lỗ) làm báo cáo có vẻ thật hơn nhiều so với các cụm từ chung như đạt kết quả tốt, được mọi người hưởng ứng.

Gợi ý bài nói: Trình bày báo cáo kết quả của bài tập dự án

Ở cả ba bộ sách, tiết Nói và nghe kế tiếp yêu cầu trình bày lại chính bản báo cáo. Để chuyển bài viết thành bài nói:

  • Chỉ chọn ba ý: sản phẩm là gì, điều làm được tốt nhất, điều chưa làm được. Các bảng chi tiết để trên trang chiếu.
  • Đưa sản phẩm ra trước mặt người nghe: chiếu 30 giây phim, mở mã QR của bản đồ, cho nghe một đoạn ghi âm.
  • Mỗi thành viên nói phần việc của mình trong khoảng một phút, để người nghe thấy sự phân công.
  • Chuẩn bị sẵn câu trả lời cho câu hỏi dễ bị hỏi nhất: số liệu này lấy từ đâu?

Đoạn mở đầu tham khảo (văn nói): Em chào thầy cô và cả lớp. Chúng em có một bản đồ chín điểm, và em xin bắt đầu từ điểm thứ mười – điểm không có trên bản đồ. Đó là một căn hầm bí mật mà nay chỉ còn là một khoảnh vườn bằng phẳng. Vì sao nó không có mặt, và vì sao nhóm em quyết định không đánh dấu nó, xin được nói ở cuối phần trình bày.

Chọn mẫu nào để luyện viết?

Học Kết nối tri thức, nên đọc kĩ Mẫu 1 vì nó đi đủ các điểm sách yêu cầu, từ mục đích đến hướng sử dụng kết quả. Học Cánh diều, Mẫu 2 cho thấy cách chia kết quả thành từng sản phẩm đánh số. Học Chân trời sáng tạo, Mẫu 3 và Mẫu 4 có câu hỏi nghiên cứu, bảng số liệu, cước chú. Nếu chỉ có một tiết để luyện, hãy chép khung của Mẫu 9 (một trang) rồi điền dự án của nhóm mình vào; khi đã quen, viết rộng ra theo Mẫu 8.

Trước kì kiểm tra, em nên làm lại các câu hỏi trong bài ôn tập học kì II Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo.

Xem thêm:

Vietnammm
VJOL
s666
s666
cakhiatv
xoilac
gavangtv
trực tiếp bóng đá
xoilac tv
xoilac tv
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
xem bóng đá trực tiếp
socolive
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
thapcamtv
90phut
luongsontv
Socolive
Cakhiatv
Tiếu lâm tv
90phut
Thapcamtv
Luongsontv
sunwin
hitclub
go88
go88
kèo nhà cái
game bài
sunwin20
lô đề uy tín
https://hitclub3.jp.net/
https://kqbd.deal/
7m
789club
789club
b52
bomwin
https://trangcacuocbongda.bio/
iwin
vaobet
hitclub
https://tylekeonhacai.top/
https://sunwinn.za.com/
https://go881.jp.net/
7m
789club
game bài đổi thưởng
Rikvip
Socolive TV
Socolive TV
kèo nhà cái
hitclub
sunwin
789club
Kèo nhà cái
b52 club
b52 club
sunwin
kèo nhà cái
kèo bóng đá hôm nay
cá cược bóng đá
cakhiatv
socolive
xoilac
Kèo nhà cái
b52 club
ok9
https://fly88h.com/
789bet
tỷ lệ bóng đá hôm nay
tỷ lệ bóng đá hôm nay
Twin68
ww88
hitclub
tỷ lệ kèo
tylekeonhacai
V9bet
tỷ lệ kèo
nổ hũ
sunwin
188bet
Hit club
hitclub
Game bài 789club
BongdaNET
keonhacai5
Sunwin
hitclub
98win
RR88
123Bet
kèo nhà cái 5
NOHU
https://lucky88.us/
kubet
Sunwin
https://da888.app/
five88
da88
vin88
Five88
MAY88
FABET
sunwin
sunwin
sin88
Sumclub
Sao789
tỷ lệ kèo nhà cái
V88
ww88
ww88
Gamvip
Winclub
Xeng88
Vip69
Vic88
Kwin
Sumvip
Hit Club
https://cm88.so/
https://keonhacai.gb.net/
kèo nhà cái
Iwin68
dn88
https://ae8888.gr.com/
cakhiatv
xôi lạc tv
socolive
JBO
CakhiaTV
Socolive
b52club
kèo nhà cái 55
HITCLUB
lô đề online
https://mm88.blog/
8 DAY
kèo nhà cái
88xx
go99
sc88
23win
go8
go8
go99
33win
tỷ lệ kèo
kèo nhà cái
Go88
nowgoal
tỷ lệ kèo bóng đá anh
soi kèo nhà cái
Tài xỉu online
https://keonhacai6.io/
Luck8
B29
go8
https://sunwinor.com/
Rikvip
B52club
Kèo Nhà Cái
Go88
Socolive
Sutbongtv
Socolive
hitclub
bet168
game bài đổi thưởng
w 88
tỷ lệ kèo nhà cái
sun win
kết quả bóng đá
VN88
hello88
sunwin
f168
uu88
nổ hũ
Kèo Nhà Cái
Tài Xỉu
rikvip
xocdia88
xóc đĩa online
88vin
bay789
kwin
sunwin
https://sunwin35.io/
mu88
sunwin
B52
qq887p com
qq88 social
kèo nhà cái
kèo nhà cái
https://sunwins.eu.com
hitclub
Game bài đổi thưởng
v9bet
kubet
go88
b52 club
https://98win.kiwi/
au88
B52club
kèo nhà cái 5
https://sunwinkt.com/
AE888
Sunwin
go88
kqbd
Go88
kèo nhà cái
hit club
https://keonhacaim88.info/
trực tiếp bóng đá
Sunwin
sunwin
ok9
789Club
Sumclub
sonclub
alo789
bet88
123b
cm88
go 88
https://sunwinvy.com/
xoilactv
http://taixiuonline.markets/
nohu90 com
23win
game bai doi thuong
hitclub
sunwin
tài xỉu 789club
Bong88
Tỷ lệ kèo
Sunwin
hitclub
789club
trực tiếp bóng đá socolive
cm88
https://sunwin.vision/
hitclub
du88
du88
9bet
9bet
sunwin
lucky88
uk88
kèo nhà cái 5
Sunwin
https://ae888.co.com/
mu88
sunwin
sunwin
trang cá cược bóng đá
sunwin
GO99
789WIN
Lucky88
AO88
789Club
Nhà cái Xocdia88
8xbet
fb88
https://shbet800.com/
https://789bethv.com/
sunwin
sunwin
HITCLUB
https://keonhacai.forsale/
bay789
mu88
mu88
keo nha cai 5
đánh đề online
qq8876 net
https://metruyen.biz/
789 Club
HITCLUB
tỷ lệ kèo
luck8
tg88
789bet
789club
qh88
kubet
S8
Sunwin
Go88
Hay88
Hay88
Hay88
Hay88
https://go88n.co/
8xbet
b52club
kèo nhà cái
game bài đổi thưởng
https://ae888li.com/
79KING
https://npunks.io/
sun win
sun win
bắn cá đổi thưởng
Luckywin
RIK VIP
UY88
sun win
https://keonhacaingoaihanganh.com/
au88
SUNWIN
mê truyện
Xóc đĩa
tài xỉu
đánh đề online
kèo nhà cái
nhà cái uy tín
https://dstruct.io
sunwin
nha cai uy tin
789 club
99ok
VN88
90phut
trực tiếp bóng đá
Tai xiu
789club
nowgoal
J88
sunwin
go88
https://789betlove.com/
rikvip
hitclub
lô đề online
https://tylekeonhacai.co.com/
789club
Exness
kubet