Bỏ qua tới nội dung
Thư viện văn học số
Tra chính tả
Lớp mấy?

Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề – Dàn ý + 9 bài mẫu hay nhất (lớp 10)

Cập nhật 08/10/2026·MMavrick Nguyễn·47 phút đọc·Ngữ văn 10·Bài 2: Thơ Đường luật
Nội dung chính
  • Yêu cầu của kiểu bài báo cáo nghiên cứu về một vấn đề
  • Báo cáo về sử thi và thơ Đường luật
  • Báo cáo về di sản văn hóa
  • Báo cáo khảo sát trong trường học

Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề là kiểu bài Viết lớp 10 mới với nhiều học sinh: không kể, không bàn suông, mà trình bày điều mình đã tìm hiểu được, có nguồn, có trích dẫn, có bảng biểu. Ngữ văn 10 Kết nối tri thức đặt kiểu bài này ở Bài 4 (Sức sống của sử thi) và cho viết tiếp ở Bài 5 về một vấn đề văn hóa truyền thống; Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo đặt ở Bài 4 (Những di sản văn hóa), nhấn vào trích dẫn, cước chú và phương tiện hỗ trợ; Ngữ văn 10 Cánh diều đặt ở Bài 2 (Thơ Đường luật). Trang này có yêu cầu kiểu bài, dàn ý khung và 9 bản báo cáo mẫu về sử thi, thơ Đường luật, cồng chiêng, rối nước, tranh Đông Hồ, chợ nổi và hai khảo sát nhỏ trong trường học. Nhóm thực hiện, trường lớp và mọi con số khảo sát trong các mẫu là giả định để minh họa cách trình bày; dữ kiện về di sản, tác phẩm đều lấy từ nguồn ghi ở cuối mỗi mẫu.

viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề lớp 10
Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề – văn mẫu lớp 10

Yêu cầu của kiểu bài báo cáo nghiên cứu về một vấn đề

Báo cáo nghiên cứu khác bài nghị luận ở chỗ: người viết không thuyết phục bằng cảm xúc hay lập trường, mà bằng kết quả tìm hiểu có kiểm chứng. Câu chữ khách quan, ai đọc cũng lần lại được nguồn.

Tiêu chí Báo cáo đạt khi
Nhan đề Cho biết ngay đối tượng và phạm vi tìm hiểu (không đặt nhan đề kiểu khẩu hiệu).
Vấn đề và câu hỏi Cho biết lí do chọn đề tài và câu hỏi cần trả lời; phạm vi đủ hẹp để làm trong vài tuần.
Phương pháp Nói rõ đã làm gì: đọc tài liệu, phân tích văn bản, khảo sát bằng phiếu, phỏng vấn, quan sát.
Kết quả Chia thành các luận điểm có tiêu đề nhỏ; mỗi luận điểm có cứ liệu (trích dẫn văn bản, số liệu, ví dụ).
Trích dẫn, cước chú Lời người khác đặt trong ngoặc kép, ghi nguồn; từ ngữ cần giải thích đánh số chú thích.
Phương tiện hỗ trợ Bảng, biểu đồ, sơ đồ, hình ảnh được đánh số, có tên và có lời nhận xét đi kèm.
Kết luận Tóm lại điều đã tìm được, nói giới hạn của nghiên cứu, gợi hướng tìm hiểu tiếp.
Tài liệu tham khảo Liệt kê đúng những nguồn đã dùng, đủ thông tin để người khác tìm lại; không bịa tên sách, tên tác giả.

Ba bộ sách có những điểm nhấn riêng:

Bộ sách Vị trí Điểm nhấn
Kết nối tri thức Tập một, Bài 4 Sức sống của sử thi; Bài 5 Tích trò sân khấu dân gian Bài 4: bài tham khảo về dấu ấn của sử thi Ra-ma-ya-na trong văn hóa Việt Nam, cuối bài phải liệt kê nguồn đã dùng. Bài 5: báo cáo về một vấn đề văn hóa truyền thống, bài tham khảo bàn về ngôn ngữ đối thoại trong chèo.
Chân trời sáng tạo Tập một, Bài 4 Những di sản văn hóa Báo cáo kết quả nghiên cứu có trích dẫn, cước chú và phương tiện hỗ trợ; ngữ liệu là một khảo sát mức độ quan tâm của học sinh khối 10 với hò Nam Bộ. Bố cục: nhan đề, tóm tắt, cơ sở lí thuyết, kết quả, kết luận, tài liệu tham khảo.
Cánh diều Tập một, Bài 2 Thơ Đường luật Báo cáo kết quả nghiên cứu, có thể về một vấn đề văn học (so sánh nhân vật, đề tài trong tác phẩm) hoặc một vấn đề đời sống; ngữ liệu là báo cáo về văn hóa đọc của sinh viên, có biểu đồ khảo sát.
Dàn ý

Dàn ý báo cáo nghiên cứu về một vấn đề

327 từ

1. Phần mở đầu

– Nhan đề; người thực hiện, lớp, thời gian.
– Tóm tắt (ba đến năm câu): bối cảnh, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp, kết quả chính.
– Đặt vấn đề: lí do chọn đề tài, mục đích, phạm vi.

2. Phần nội dung

a. Cơ sở và phương pháp
+ Khái niệm cần làm rõ; tài liệu đã đọc; cách khảo sát, phỏng vấn (bao nhiêu người, khi nào).

b. Kết quả nghiên cứu
+ Hai đến bốn ý lớn, ý nào cũng có tiêu đề nhỏ riêng.
+ Cứ liệu: trích dẫn văn bản (ghi rõ nguồn), số liệu trình bày bằng bảng hoặc biểu đồ, ví dụ cụ thể.
+ Lời nhận xét, lí giải sau mỗi cứ liệu.

3. Phần kết luận

– Khẳng định kết quả chính, ý nghĩa.
– Giới hạn của nghiên cứu, kiến nghị hoặc hướng tìm hiểu tiếp.
– Tài liệu tham khảo; chú thích (nếu có).

Với đề văn học (sử thi, thơ Đường luật), cứ liệu chủ yếu là câu chữ trong văn bản, trích đúng nguyên văn. Với đề văn hóa, đời sống, nên có ít nhất một bảng số liệu hoặc một kết quả phỏng vấn; nếu làm khảo sát thật, ghi rõ số người trả lời, thời gian và cách chọn người.

Báo cáo về sử thi và thơ Đường luật

Ba mẫu đầu hợp với Bài 4 Kết nối tri thức và Bài 2 Cánh diều: đối tượng là tác phẩm văn học, cứ liệu là văn bản.

Mẫu 1

Mẫu 1: Hình tượng người anh hùng trong sử thi Đăm Săn

1.256 từ

Nhan đề: Người anh hùng Đăm Săn: sức mạnh, khát vọng và giới hạn
Nhóm thực hiện: nhóm 3, lớp 10 (giả định) – Thời gian: bốn tuần

Tóm tắt. Báo cáo tìm hiểu cách sử thi Ê-đê xây dựng hình tượng Đăm Săn qua ba chặng đời của nhân vật: cuộc hôn nhân theo tục nối dây, những chiến công với các tù trưởng cướp vợ, và chuyến đi tìm Nữ thần Mặt Trời. Phương pháp: đọc văn bản trong sách giáo khoa, đối chiếu với phần tóm tắt cốt truyện từ hai nguồn tham khảo, lập bảng so sánh. Kết quả cho thấy Đăm Săn vừa là người anh hùng của cộng đồng, vừa là con người cá nhân có khát vọng vượt khỏi giới hạn của cộng đồng ấy.

1. Đặt vấn đề

Khi học đoạn trích về Đăm Săn, lớp chúng tôi tranh luận một câu hỏi: Đăm Săn chết trong rừng sáp đen là bị trừng phạt hay được ca ngợi? Để trả lời, nhóm không thể chỉ đọc một đoạn trích, mà cần nhìn cả cuộc đời nhân vật trong toàn bộ sử thi.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Người anh hùng sinh ra từ cộng đồng. Theo tóm tắt cốt truyện, chàng buộc phải cưới cả Hơ Nhị lẫn em gái nàng là Hơ Bhị, đúng như tục nối dây(1) của xã hội mẫu hệ đòi hỏi. Chàng chống lại, nhưng cuối cùng phải khuất phục. Chi tiết này cho thấy ngay từ đầu, Đăm Săn được đặt trong một hệ thống luật tục mạnh hơn ý muốn cá nhân.

2.2. Sức mạnh dùng để bảo vệ cộng đồng. Chiến công nổi bật của Đăm Săn là đánh thắng hai tù trưởng Mtao Grự và Mtao Mxây, những kẻ đã cướp vợ chàng. Sau mỗi chiến thắng, tôi tớ và dân làng của kẻ thua tự nguyện theo về, buôn làng Đăm Săn thêm giàu mạnh. Sức mạnh của người anh hùng vì thế không mang tính cá nhân: nó đo bằng sự đông đúc, no đủ của cộng đồng.

2.3. Khát vọng vượt giới hạn. Ở chặng cuối, Đăm Săn đi chinh phục Nữ thần Mặt Trời. Nữ thần đã cảnh báo chàng sẽ chết trong vùng bùn lầy của rừng sáp đen, nhưng chàng vẫn đi và chết ở đó. Sau đó, chàng hóa thành con ruồi bay vào miệng chị gái là Hơ Âng; nàng sinh ra Đăm Săn cháu, người tiếp tục con đường của cậu mình.

Chặng Quan hệ với cộng đồng Ý nghĩa
Hôn nhân nối dây Tuân theo luật tục dù muốn chống lại Cá nhân còn nằm trong khuôn cộng đồng
Đánh Mtao Grự, Mtao Mxây Bảo vệ, làm giàu cho buôn làng Người anh hùng tiêu biểu cho sức mạnh tập thể
Đi tìm Nữ thần Mặt Trời Vượt khỏi điều cộng đồng cho phép Khát vọng cá nhân, có bi kịch

Bảng 1. Ba chặng đời của Đăm Săn (nhóm tự tổng hợp).

3. Kết luận

Qua ba chặng đời, Đăm Săn hiện lên như hình ảnh lí tưởng của người tù trưởng Ê-đê: khỏe, giàu, được dân làng yêu mến. Nhưng sử thi không dừng ở việc ca ngợi. Cái chết trong rừng sáp đen cho thấy người xưa vừa ngưỡng mộ, vừa e dè khát vọng vượt quá giới hạn. Còn chi tiết Đăm Săn cháu ra đời nói rằng khát vọng ấy không mất đi, mà được truyền sang thế hệ sau. Câu hỏi ban đầu của lớp, theo nhóm, không có đáp án một chiều: cái chết ấy vừa là bi kịch, vừa là sự tôn vinh. Giới hạn của báo cáo: nhóm chỉ đọc bản tóm tắt và các đoạn trích, chưa đọc toàn văn sử thi.

Chú thích. (1) Tục nối dây: tập tục hôn nhân của một số dân tộc ở Tây Nguyên, trong đó có người Ê-đê; khi vợ hoặc chồng qua đời, người còn lại được (hoặc phải) kết hôn với một người trong họ của người đã mất, chẳng hạn lấy em vợ, để giữ con cái, tài sản và mối quan hệ giữa hai dòng họ.

Tài liệu tham khảo. 1. Đoạn trích về Đăm Săn trong sách Ngữ văn 10, tập một. 2. Mục từ Đam San, bách khoa mở Wikipedia tiếng Việt, xem tháng Mười năm 2026. 3. Bài soạn Đăm Săn đi bắt Nữ thần Mặt Trời trên VietJack. 4. Báo Pháp luật Việt Nam, bài Hệ lụy tục nối dây. 5. Luật Minh Khuê, bài Luật tục các dân tộc Tây Nguyên với quyền bình đẳng phụ nữ và trẻ em (về tục nối dây).

Điểm cần học: báo cáo văn học vẫn có bảng; bảng ở đây gom cả cuộc đời nhân vật vào ba dòng để người đọc thấy ngay mạch lập luận.

Mẫu 2

Mẫu 2: Con người cá nhân trong sử thi I-li-át qua cảnh Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác

809 từ

Nhan đề: Khi người anh hùng tháo mũ trụ: con người cá nhân trong một cảnh của I-li-át
Người thực hiện: học sinh tự làm, viết một mình (tình huống giả định)

Tóm tắt. Sử thi thường được hiểu là thể loại của cộng đồng, nơi nhân vật đại diện cho cả dân tộc. Báo cáo này đặt câu hỏi: trong cảnh Héc-to từ biệt vợ con trước khi ra trận, có chỗ nào cho con người cá nhân với tình cảm riêng không? Phương pháp: đọc kĩ đoạn trích, đánh dấu các chi tiết hành động và lời nói, xếp chúng thành hai nhóm (bổn phận và tình riêng).

1. Bối cảnh

Héc-to là hoàng tử thành Tơ-roa, con vua Pri-am. Trong cuộc chiến với quân Hi Lạp, chàng là chỗ dựa của cả thành. Ăng-đrô-mác, vợ chàng, xin chàng vì nàng và vì đứa con nhỏ mà đừng ra trận. Héc-to từ chối, vì chàng không thể đứng ngoài khi thành đang bị vây.

2. Kết quả

2.1. Lời nói thuộc về bổn phận. Trong cuộc đối thoại, Héc-to nói chàng sẽ không còn mặt mũi nào nhìn binh sĩ và các bà mẹ, người vợ trong thành nếu đứng xa, tránh trận như kẻ hèn nhát. Đó là giọng của người anh hùng cộng đồng, đúng như khuôn mẫu sử thi.

2.2. Hành động thuộc về tình riêng. Chi tiết đáng chú ý nhất nằm ở cử chỉ, không ở lời nói. Héc-to muốn ôm con, nhưng ánh đồng sáng lóa và cái chỏm lông bờm ngựa trên mũ trụ làm đứa bé sợ, khóc ré lên. Chàng tháo mũ ra, bế con, rồi khẩn cầu thần linh cho con mình. Chiếc mũ trụ là biểu tượng của chiến binh; tháo nó ra, trong khoảnh khắc ấy, Héc-to chỉ còn là một người cha.

Nhóm chi tiết Ví dụ trong đoạn trích Nhận xét
Bổn phận Từ chối lời xin ở lại, sợ mang tiếng hèn nhát Héc-to là người của thành Tơ-roa
Tình riêng Tháo mũ trụ để bế con, cầu xin cho con Héc-to là người chồng, người cha

Bảng 2. Hai nhóm chi tiết trong cảnh từ biệt (người viết tự lập).

3. Kết luận

Cảnh từ biệt cho thấy sử thi Hi Lạp không chỉ có những người anh hùng bằng đồng. Bên trong bổn phận với cộng đồng vẫn có chỗ cho nỗi đau riêng, và chính nỗi đau ấy làm lựa chọn ra trận của Héc-to thêm nặng. Người đọc hôm nay thương Héc-to không vì chàng mạnh, mà vì chàng biết mình đang mất gì khi chọn bổn phận. Hướng tìm hiểu tiếp: so sánh cảnh này với cách sử thi Đăm Săn thể hiện tình cảm gia đình.

Tài liệu tham khảo. Văn bản Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác (trích I-li-át) do sách Kết nối tri thức tuyển; mục Hector trên Wikipedia; phần soạn văn bản này của VietJack.

Điểm cần học: báo cáo cá nhân có thể rất ngắn mà vẫn đủ phần, miễn câu hỏi nghiên cứu hẹp và cứ liệu được chia nhóm rõ.

Mẫu 3

Mẫu 3: Mùa thu trong thơ Đường luật Trung Hoa và Việt Nam

805 từ

Nhan đề: Hai mùa thu, hai tâm sự: khảo sát bài Thu hứng (Đỗ Phủ) và Thu điếu (Nguyễn Khuyến)
Nhóm thực hiện: nhóm 2, lớp 10 (giả định) – theo đề Bài 2 sách Cánh diều

Tóm tắt. Mùa thu là đề tài quen thuộc của thơ Đường luật. Báo cáo so sánh cách hai nhà thơ ở hai đất nước, hai thời đại dựng cảnh thu, nhằm trả lời câu hỏi: thể thơ giống nhau, đề tài giống nhau, vậy cái gì làm nên chỗ khác? Phương pháp: đọc phiên âm và bản dịch thơ, lập bảng đối chiếu các yếu tố cảnh vật, màu sắc, không gian, tâm trạng.

1. Đối tượng

Thu hứng là bài thơ thất ngôn bát cú của Đỗ Phủ, nhà thơ đời Đường, có bản dịch quen thuộc của Nguyễn Công Trứ mở đầu bằng câu “Lác đác rừng phong hạt móc sa”. Thu điếu (Câu cá mùa thu) là bài thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, mở đầu bằng hai câu “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, / Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.”

2. Kết quả đối chiếu

Yếu tố Thu hứng Thu điếu
Không gian Rộng, hùng vĩ: rừng phong, núi, sông, cửa ải Hẹp, gần gũi: ao nhỏ, thuyền câu, ngõ trúc
Sắc thái Hiu hắt, dữ dội, có sóng gió Trong, lạnh, tĩnh lặng
Chuyển động Sóng vọt lên, mây sà xuống Lá vàng khẽ đưa, cá đâu đớp động
Tâm trạng Nỗi nhớ quê của người tha hương, nỗi lo thời loạn Nỗi buồn lặng của nhà nho ở ẩn trước thời thế

Bảng 3. Đối chiếu cảnh thu trong hai bài thơ (nhóm tự lập từ văn bản).

2.1. Điểm chung. Cả hai bài đều dùng cảnh để nói tình, đúng tinh thần tả cảnh ngụ tình của thơ Đường luật. Cả hai đều kết thúc bằng một hình ảnh con người nhỏ bé trước cảnh: người đập vải, người ngồi câu.

2.2. Điểm riêng. Đỗ Phủ nhìn mùa thu bằng con mắt người xa xứ giữa thời loạn, nên cảnh rộng và động, như có bão trong lòng. Nguyễn Khuyến nhìn mùa thu của làng quê đồng bằng Bắc Bộ, cảnh nhỏ, trong, lặng, đến mức một tiếng cá đớp cũng thành sự kiện. Thể thơ giống nhau, nhưng mỗi nhà thơ đưa vào đó một không gian văn hóa riêng.

3. Kết luận

Thơ Đường luật có niêm luật chặt, nhưng không vì thế mà các bài thơ giống nhau. Cái làm nên chỗ khác là không gian sống và tâm sự của người viết. Giới hạn: nhóm chỉ so sánh hai bài; có thể mở rộng sang các bài thu khác của Nguyễn Khuyến để xem ông có những cách nhìn mùa thu nào.

Tài liệu tham khảo. Hai văn bản trong Bài 2 sách Cánh diều; Wikisource tiếng Việt, bài Thu điếu; VietJack, bài soạn Cảm xúc mùa thu và Câu cá mùa thu; Lời giải hay, bài cảm nhận Thu hứng (đối chiếu bản dịch).

Điểm cần học: khi trích thơ, chép đúng từng chữ, từng dấu câu và ghi rõ đó là phiên âm hay bản dịch của ai.

Báo cáo về di sản văn hóa

Bốn mẫu tiếp theo hợp với Bài 4 Chân trời sáng tạo và mục Viết của Bài 5 Kết nối tri thức (vấn đề văn hóa truyền thống); các mẫu này chú ý cách trích dẫn nguồn báo chí và đánh số chú thích.

Mẫu 4

Mẫu 4: Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên và người trẻ hôm nay

791 từ

Nhan đề: Hai mươi năm sau danh hiệu: cồng chiêng Tây Nguyên trong mắt học sinh
Nhóm thực hiện: câu lạc bộ Văn hóa dân gian của một trường THPT ở Tây Nguyên (giả định)

Tóm tắt. Báo cáo tổng hợp thông tin về di sản Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên từ các nguồn báo chí, kết hợp phỏng vấn sáu học sinh trong trường (giả định) để tìm hiểu người trẻ biết gì và gắn bó thế nào với di sản này.

1. Thông tin về di sản

Theo báo Đại biểu Nhân dân, năm 2005, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại(1). Báo Znews cho biết bằng công nhận được trao ngày 25/11/2005, và chủ nhân của di sản là 17 dân tộc thiểu số sống trên vùng cao nguyên. Cồng chiêng gắn với hầu như mọi dịp quan trọng của đời người và của cộng đồng: lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, lễ cưới, lễ tiễn người chết, lễ mừng lúa mới, lễ mừng nhà rông mới.

2. Kết quả phỏng vấn (giả định)

Câu hỏi Số bạn trả lời có (trên 6)
Đã từng nghe cồng chiêng trong một lễ hội ở buôn làng 5
Biết tên ít nhất một bài chiêng hoặc một nghi lễ dùng chiêng 3
Biết đánh chiêng 1
Muốn được học đánh chiêng ở trường 5

Bảng 4. Kết quả phỏng vấn sáu học sinh (số liệu giả định, minh họa cách trình bày).

Từ bảng trên, nhóm rút ra một nghịch lí nhỏ: hầu hết các bạn đã nghe chiêng, nhưng rất ít bạn biết đánh, trong khi số bạn muốn học lại cao. Khoảng cách giữa nghe và biết làm cho thấy di sản đang được giữ chủ yếu ở dạng thưởng thức, chưa phải ở dạng truyền nghề.

3. Kết luận và kiến nghị

Danh hiệu năm 2005 là niềm tự hào, nhưng sau hai mươi năm, điều quyết định sức sống của cồng chiêng là có người trẻ biết đánh, biết hiểu ý nghĩa nghi lễ hay không. Nhóm kiến nghị nhà trường mời nghệ nhân trong vùng mở lớp ngoại khóa và tổ chức buổi sinh hoạt có trình diễn chiêng gắn với giải thích nghi lễ, tránh biến chiêng thành tiết mục trang trí.

Chú thích. (1) Về sau, danh hiệu Kiệt tác của UNESCO được chuyển vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; báo cáo giữ cách gọi theo nguồn trích.

Tài liệu tham khảo. Báo Đại biểu Nhân dân, bài Sức sống bền bỉ của cồng chiêng Tây Nguyên; Znews, bài Khám phá không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Điểm cần học: dữ kiện năm tháng, danh hiệu lấy từ báo chí phải nêu tên báo ngay trong câu; số liệu phỏng vấn giả định phải ghi chú rõ.

Mẫu 5

Mẫu 5: Múa rối nước, từ thủy đình làng đến sân khấu

930 từ

Nhan đề: Múa rối nước: nguồn gốc, đặc trưng và con đường lên sân khấu
Nhóm thực hiện: nhóm 4, lớp 10 (giả định) – theo mục Viết Bài 5 Kết nối tri thức

Tóm tắt. Sau khi học văn bản về múa rối nước trong Bài 5, nhóm tìm hiểu thêm ba câu hỏi: dấu vết sớm nhất về rối nước là gì, sân khấu rối nước có gì riêng, và nghệ thuật này được giữ gìn ra sao. Phương pháp: đọc tài liệu từ bách khoa mở và một trang pháp luật – văn hóa, đối chiếu thông tin trùng khớp giữa hai nguồn.

1. Dấu vết sớm nhất

Cả hai nguồn nhóm đọc đều cho biết chứng cứ bằng văn tự đầu tiên về múa rối nước ở Việt Nam là bia tháp Sùng Thiện Diên Linh, dựng năm 1121, thời Lý. Như vậy, rối nước đã có mặt trong đời sống văn hóa người Việt ít nhất từ khoảng chín thế kỉ trước.

2. Đặc trưng sân khấu

Điểm khác biệt lớn nhất của rối nước là dùng mặt nước làm sân khấu. Buồng trò gọi là nhà rối hay thủy đình(1), thường dựng giữa ao hồ, mô phỏng mái đình làng; phía trước có tấm mành che, người điều khiển đứng sau, ngâm mình trong nước để đưa con rối ra vào. Mặt nước vừa che giấu máy móc, vừa tạo hiệu ứng: con rối như tự bơi, tự lặn, tự nổi lên.

3. Từ làng lên sân khấu

Theo Wikipedia tiếng Việt, năm 1992, Nhà hát Múa rối Thăng Long ở Hà Nội phục hồi 17 trò rối nước, trong đó có Chú Tễu, Múa rồng, Lê Lợi trả gươm, Đua thuyền. Bên cạnh nhà hát, nhiều phường rối ở các làng vùng đồng bằng Bắc Bộ vẫn biểu diễn trong dịp lễ hội. Nhóm nhận thấy hai con đường cùng tồn tại: sân khấu chuyên nghiệp đưa rối nước đến khán giả trong nước và quốc tế, còn phường rối làng giữ rối nước gắn với không gian gốc là ao làng, mùa hội.

Phường rối làng Nhà hát chuyên nghiệp
Không gian Ao, hồ, thủy đình ngoài trời Bể nước trong nhà hát
Thời gian diễn Chủ yếu theo mùa lễ hội Thường xuyên, theo lịch diễn
Khán giả Dân làng, khách dự hội Khách trong nước và quốc tế

Bảng 5. Hai môi trường biểu diễn rối nước (nhóm tổng hợp, mang tính khái quát).

4. Kết luận

Rối nước là một nghệ thuật có lịch sử ghi chép từ đời Lý, gắn chặt với văn minh lúa nước và không gian làng xã. Việc đưa rối nước lên sân khấu nhà hát giúp nó sống tiếp, nhưng phường rối làng mới là nơi giữ được không khí gốc của trò diễn. Hướng tìm hiểu tiếp: phỏng vấn một nghệ nhân phường rối để biết cách làm con rối và cách truyền nghề.

Chú thích. (1) Thủy đình: nhà rối dựng trên mặt nước, nơi người điều khiển con rối ẩn sau mành.

Tài liệu tham khảo. (a) Văn bản về múa rối nước trong Bài 5, sách Kết nối tri thức; (b) Wikipedia, mục Múa rối nước, đọc tháng Mười năm 2026; (c) Luật Minh Khuê, Nghệ thuật múa rối nước là gì.

Điểm cần học: khi hai nguồn trùng khớp một dữ kiện (năm 1121), nói rõ điều đó; bảng so sánh mang tính khái quát cũng phải được gọi đúng tên như vậy.

Mẫu 6

Mẫu 6: Tranh dân gian Đông Hồ, chất liệu và đời sống làng nghề

790 từ

Nhan đề: Giấy điệp, màu cây cỏ và một làng nghề cần bảo vệ khẩn cấp
Nhóm thực hiện: nhóm 1, lớp 10 (giả định) – theo đề Bài 4 Chân trời sáng tạo

Tóm tắt. Báo cáo tìm hiểu tranh dân gian Đông Hồ ở hai khía cạnh: chất liệu làm nên vẻ riêng của tranh và tình trạng của nghề hiện nay. Phương pháp: tổng hợp tài liệu từ bách khoa mở và hai bài báo về sự kiện UNESCO ghi danh di sản.

1. Chất liệu: thiên nhiên trên mặt giấy

Tranh Đông Hồ in trên giấy điệp: vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng, được nghiền nhỏ, trộn với hồ rồi quét lên giấy dó bằng chổi lá thông. Lớp điệp cho nền trắng có ánh lấp lánh. Màu tranh lấy từ thiên nhiên(1): màu đen từ than lá tre hoặc than rơm nếp, màu xanh từ lá chàm hay gỉ đồng, màu vàng từ hoa hòe, hoa dành dành, màu đỏ từ gỗ vang và sỏi son.

Màu Nguồn gốc
Đen Than lá tre, than rơm nếp, than gỗ xoan
Xanh Lá chàm, gỉ đồng
Vàng Hoa hòe, hoa dành dành
Đỏ Gỗ vang, sỏi son
Trắng Vỏ điệp

Bảng 6. Màu tự nhiên trong tranh Đông Hồ (tổng hợp theo Wikipedia tiếng Việt, mục Tranh Đông Hồ).

2. Tình trạng nghề hiện nay

Ngày 9/12/2025, tại kỳ họp lần thứ 20 của Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 diễn ra ở New Delhi (Ấn Độ), nghề làm tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh) được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp; báo Sài Gòn Giải Phóng cho biết đây là di sản thứ 17 của Việt Nam được UNESCO ghi danh. Cũng theo bài báo, số nghệ nhân giữ nghề đang giảm mạnh, các kĩ năng cần nhiều năm mới học được, nhu cầu dùng tranh truyền thống giảm. Chữ “khẩn cấp” trong danh hiệu chính là lời cảnh báo.

3. Kết luận

Vẻ đẹp của tranh Đông Hồ đến từ chính sự công phu của chất liệu tự nhiên, cũng vì thế mà nghề khó cạnh tranh với tranh in công nghiệp. Danh hiệu năm 2025 không phải là phần thưởng, mà là một trách nhiệm. Học sinh có thể góp phần nhỏ: tìm hiểu ý nghĩa tranh, chọn tranh làm thật khi mua quà Tết, giới thiệu tranh trong các hoạt động ở trường.

Chú thích. (1) Theo các nguồn đã đọc, một số cơ sở hiện dùng màu công nghiệp, nên không phải tranh Đông Hồ nào trên thị trường cũng dùng màu tự nhiên.

Tài liệu tham khảo. Mục Tranh Đông Hồ, Wikipedia tiếng Việt; Báo Sài Gòn Giải Phóng, bài UNESCO ghi danh nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào danh sách di sản cần bảo vệ khẩn cấp (9/12/2025); Mekong ASEAN, bài Nghề làm tranh Đông Hồ được UNESCO ghi danh là di sản cần bảo vệ khẩn cấp.

Điểm cần học: chú thích không chỉ để giải nghĩa từ, mà còn để nói ra giới hạn của thông tin, như chuyện màu công nghiệp ở mục chú thích.

Mẫu 7

Mẫu 7: Chợ nổi Cái Răng, nét văn hóa sông nước và những thay đổi

780 từ

Nhan đề: Cây bẹo trên sông: tìm hiểu văn hóa chợ nổi Cái Răng
Người viết: em Hạnh Dung, lớp trưởng một lớp 10 (nhân vật giả định)

Tóm tắt. Đọc văn bản về chợ nổi trong Bài 4, người viết muốn biết thêm về một chợ cụ thể. Báo cáo dựa trên hai nguồn: bách khoa mở và một phóng sự của báo điện tử.

1. Danh hiệu

Năm 2016, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa Văn hóa chợ nổi Cái Răng vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (theo Wikipedia tiếng Việt và báo VietnamPlus). Danh hiệu gọi tên văn hóa chợ, không chỉ cái chợ: tức là cả cách mua bán, lối sống của cư dân sông nước.

2. Cây bẹo, tấm biển hiệu của chợ nổi

Trên chợ nổi, ghe thuyền không treo biển hiệu mà treo bẹo: một cây sào dài cắm ở đầu ghe, buộc món hàng mẫu lên đó. Nhìn cây bẹo treo bí đỏ, củ hành hay khoai, người mua biết ngay ghe ấy bán gì. Cách quảng cáo này vừa tiết kiệm, vừa hợp với một khu chợ nơi người ta nhìn nhau từ xa qua mặt nước.

3. Những thay đổi

Các nguồn cho thấy chợ nổi nay không chỉ là nơi buôn bán nông sản mà còn là điểm du lịch, nhiều du khách đến từ sáng sớm để xem cảnh chợ. Người viết nhận thấy đây là con dao hai lưỡi: du lịch giúp chợ được biết đến, nhưng nếu ghe hàng thật ngày càng ít mà thuyền chở khách ngày càng nhiều, chợ có thể chỉ còn là một sân khấu. Nhận định này là suy luận của người viết, chưa có số liệu chứng minh.

Người viết cũng ghi lại một chi tiết trong phóng sự: nhiều du khách chọn đến chợ từ lúc trời còn tờ mờ để kịp xem cảnh mua bán đông nhất. Điều này cho thấy giờ họp chợ vẫn theo nhịp của người buôn, chưa bị đổi theo giờ của khách. Đó là một dấu hiệu tích cực, nhưng cần quan sát thêm qua nhiều năm.

4. Kết luận

Văn hóa chợ nổi Cái Răng là cách thích nghi khéo léo của người miền Tây với sông nước, kết tinh trong những chi tiết như cây bẹo. Giữ di sản này nghĩa là giữ cho chợ vẫn là chợ của người buôn bán thật. Hướng tìm hiểu tiếp: tìm số liệu về số ghe buôn qua các năm để kiểm chứng nhận định ở mục 3.

Tài liệu tham khảo. VietnamPlus, phóng sự Trải nghiệm đón bình minh trên chợ nổi Cái Răng; Wikipedia, mục Chợ nổi Cái Răng; văn bản đọc về chợ nổi trong Bài 4 sách Chân trời sáng tạo.

Điểm cần học: khi đưa ra một suy luận chưa có số liệu, báo cáo phải nói thẳng như vậy và đề xuất cách kiểm chứng.

Báo cáo khảo sát trong trường học

Hai mẫu cuối mô phỏng kiểu ngữ liệu khảo sát của Chân trời sáng tạo và Cánh diều. Mọi con số trong hai mẫu là giả định, chỉ để minh họa cách trình bày bảng biểu và cách nhận xét số liệu; khi làm thật, em phải dùng số liệu do chính mình thu thập.

Mẫu 8

Mẫu 8: Áo dài trong đời sống học sinh, khảo sát một khối lớp

737 từ

Nhan đề: Học sinh khối 10 nghĩ gì về ngày mặc áo dài ở trường?
Nhóm thực hiện: nhóm 5, lớp 10 (giả định) – Thời gian khảo sát: hai tuần

Tóm tắt. Trường giả định trong báo cáo quy định nữ sinh mặc áo dài vào thứ Hai. Nhóm khảo sát 120 học sinh khối 10 (cả nam và nữ) bằng phiếu hỏi để tìm hiểu thái độ với quy định này và với áo dài nói chung.

1. Phương pháp

Phiếu gồm năm câu hỏi, phát trong giờ sinh hoạt, thu về 120 phiếu hợp lệ. Nhóm phỏng vấn thêm bốn bạn để hiểu lí do đằng sau các lựa chọn.

2. Kết quả (số liệu giả định)

Ý kiến Số phiếu Tỉ lệ
Thích mặc hoặc thích nhìn bạn mặc áo dài 78 65%
Thấy đẹp nhưng bất tiện khi đi xe đạp, ra chơi 30 25%
Không thích, muốn bỏ quy định 12 10%

Bảng 7. Thái độ với ngày mặc áo dài (120 phiếu, số liệu giả định).

Số liệu cho thấy phần lớn học sinh có thiện cảm với áo dài, nhưng một phần tư thấy bất tiện. Phỏng vấn cho thấy lí do bất tiện chủ yếu là vạt áo vướng khi đạp xe và khó chơi thể thao giờ ra chơi. Một bạn nam nói rằng nhìn cả sân trường áo dài sáng thứ Hai, bạn thấy trường mình khác hẳn ngày thường. Điều nhóm không ngờ là nhiều bạn chưa từng biết áo dài có những kiểu dáng khác nhau qua các thời kì.

Nhóm còn hỏi thêm một câu mở: nếu được chọn, bạn muốn ngày áo dài là thứ mấy? Nhiều phiếu chọn thứ Hai như hiện nay vì có lễ chào cờ, áo dài hợp với không khí trang trọng. Một số bạn đề xuất thêm ngày áo dài vào các dịp lễ, như ngày Nhà giáo Việt Nam. Câu trả lời này cho thấy học sinh gắn áo dài với những dịp đặc biệt, chứ không coi nó là đồng phục thường ngày.

3. Kết luận và kiến nghị

Áo dài vẫn được học sinh quý, nhưng sự gắn bó ấy cần được nuôi bằng hiểu biết và sự thoải mái. Nhóm kiến nghị giữ ngày áo dài, cho phép mặc quần thể thao bên trong khi đi xe, và tổ chức một buổi giới thiệu lịch sử áo dài. Giới hạn: khảo sát chỉ trong một khối lớp, chưa hỏi giáo viên, phụ huynh.

Tài liệu tham khảo. Phiếu khảo sát do nhóm tự thiết kế; ngữ liệu khảo sát về hò Nam Bộ trong sách Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo, tập một, Bài 4 (tham khảo cách trình bày).

Điểm cần học: kết hợp phiếu hỏi với phỏng vấn giúp hiểu lí do đằng sau con số; phần kiến nghị bám sát kết quả chứ không nói chung chung.

Mẫu 9

Mẫu 9: Gia đình trẻ còn tự gói bánh chưng ngày Tết không?

750 từ

Nhan đề: Bánh chưng nhà làm hay bánh chưng mua sẵn: khảo sát nhỏ trong một lớp học
Người thực hiện: em Quang Vinh, học sinh một lớp 10 ở thành phố (nhân vật giả định)

Tóm tắt. Báo cáo ngắn khảo sát 40 bạn cùng lớp về việc gia đình có tự gói bánh chưng dịp Tết vừa qua hay không, và vì sao. Mục đích: tìm hiểu một tập quán ngày Tết đang thay đổi thế nào trong những gia đình trẻ ở đô thị.

Cách làm. Phiếu hỏi có ba câu, phát trong giờ sinh hoạt lớp sau kì nghỉ Tết, mỗi bạn chọn một phương án và ghi thêm lí do. Người viết đọc từng lí do, gom thành các nhóm như bận, nhà chật, không biết gói, thích không khí gói bánh.

Kết quả (số liệu giả định).

Cách gia đình có bánh chưng Số bạn
Tự gói ở nhà 11
Về quê gói cùng ông bà, họ hàng 9
Mua hoặc đặt sẵn 17
Không ăn bánh chưng 3

Bảng 8. Cách các gia đình có bánh chưng dịp Tết (40 bạn, số liệu giả định).

Nhóm mua sẵn đông nhất, lí do được nhắc nhiều là bận, nhà chật, không có chỗ luộc. Nhưng khi gộp hai nhóm tự gói ở nhà và về quê gói, số bạn có tham gia gói bánh lại nhiều hơn nhóm mua sẵn. Đáng chú ý, nhiều bạn trong nhóm mua sẵn nói muốn được học gói ít nhất một lần, vì chuyện Lang Liêu làm bánh dâng vua cha là câu chuyện các bạn đã nghe từ nhỏ.

Người viết hỏi thêm các bạn từng gói bánh rằng điều gì nhớ nhất. Câu trả lời lặp lại nhiều nhất không phải là chiếc bánh, mà là đêm thức canh nồi bánh cùng người lớn, được nghe kể chuyện cũ. Một bạn kể rằng bánh mình gói năm đầu bị méo, lạt buộc lỏng, nhưng ông vẫn đặt chiếc bánh ấy lên bàn thờ. Những câu trả lời như thế không đo được bằng con số, nhưng giúp lí giải vì sao nhiều bạn trong nhóm mua sẵn vẫn muốn học gói.

Kết luận. Bánh chưng mua sẵn không làm mất đi ý nghĩa của bánh chưng, nhưng làm mất đi buổi cả nhà ngồi gói bánh, phần quý nhất của tập quán. Người viết đề xuất lớp tổ chức một buổi gói bánh chưng trước Tết, mời một phụ huynh hướng dẫn. Giới hạn: mẫu khảo sát nhỏ, chỉ trong một lớp.

Tài liệu tham khảo. Phiếu hỏi do người viết thiết kế; truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy (sách Ngữ văn 6).

Điểm cần học: với mẫu khảo sát nhỏ, cách gộp hoặc tách nhóm số liệu có thể làm đổi hẳn nhận xét, nên phải nói rõ mình đã gộp thế nào.

Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao

Lỗi Sửa thế nào
Viết báo cáo như một bài nghị luận, đầy cảm xúc và lời kêu gọi. Dùng câu khách quan; nhận định riêng thì ghi rõ là nhận định của người viết.
Đề tài quá rộng (văn hóa Việt Nam, sử thi thế giới). Thu về một đối tượng cụ thể: một nhân vật, một cảnh, một di sản, một khối lớp.
Chép thông tin trên mạng mà không ghi nguồn. Thông tin nào cũng phải biết lấy từ đâu; đối chiếu ít nhất hai nguồn với dữ kiện quan trọng.
Bảng biểu đặt vào cho đẹp, không có lời nhận xét. Sau mỗi bảng viết hai ba câu: số liệu cho thấy điều gì, có gì bất ngờ.
Tự đặt ra số liệu khảo sát rồi trình bày như thật. Khảo sát thật thì ghi số người, thời gian; làm bài luyện tập thì nói rõ số liệu là giả định.
Danh mục tài liệu tham khảo ghi chung chung (các trang mạng). Ghi tên nguồn, tên bài, thời điểm truy cập hoặc xuất bản; chỉ ghi những nguồn đã thật sự dùng.
Thiếu phần giới hạn của nghiên cứu. Một hai câu nói rõ điều chưa làm được giúp báo cáo đáng tin hơn.

Gợi ý bài nói: Trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu

Ngay sau mục Viết, sách nào cũng có phần Nói và nghe trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu. Khi chuyển báo cáo thành phần trình bày:

  • Bắt đầu bằng câu hỏi nghiên cứu, nói bằng lời của mình (vd: Đăm Săn chết là bị phạt hay được tôn vinh?).
  • Mỗi ý lớn đặt trên một trang chiếu riêng, kèm bảng hoặc hình; đọc to con số quan trọng nhất và nói nó có nghĩa gì.
  • Nói rõ nguồn khi đưa dữ kiện (theo báo…, theo bách khoa…).
  • Dành phút cuối cho giới hạn và hướng tìm hiểu tiếp, rồi mời người nghe đặt câu hỏi.

Có thể mở lời như sau: Thưa cô và các bạn, nhóm em đã hỏi sáu bạn trong trường một câu đơn giản: bạn có biết đánh chiêng không? Chỉ một bạn trả lời có. Nhưng năm bạn nói muốn được học. Bài trình bày hôm nay bắt đầu từ khoảng cách giữa hai con số ấy.

Nên luyện viết từ mẫu nào?

Học sinh Kết nối tri thức làm Bài 4 nên đọc mẫu 1 và mẫu 2 (sử thi), Bài 5 đọc mẫu 5 (rối nước). Học sinh Chân trời sáng tạo nên đọc mẫu 4, 6, 7 để thấy cách trích nguồn báo chí và đánh số chú thích, rồi mẫu 8 cho kiểu báo cáo khảo sát. Học sinh Cánh diều có mẫu 3 về thơ Đường luật, đúng chủ đề Bài 2, và mẫu 9 là báo cáo khảo sát ngắn. Nhớ rằng bảng số liệu trong các mẫu khảo sát là giả định: khi làm bài, hãy tự đi hỏi, tự đếm.

Xem thêm:

Vietnammm
VJOL
s666
s666
cakhiatv
xoilac
gavangtv
trực tiếp bóng đá
xoilac tv
xoilac tv
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
xem bóng đá trực tiếp
socolive
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
thapcamtv
90phut
luongsontv
Socolive
Cakhiatv
Tiếu lâm tv
90phut
Thapcamtv
Luongsontv
sunwin
hitclub
go88
go88
kèo nhà cái
game bài
sunwin20
lô đề uy tín
https://hitclub3.jp.net/
https://kqbd.deal/
7m
789club
789club
b52
bomwin
https://trangcacuocbongda.bio/
iwin
vaobet
hitclub
https://tylekeonhacai.top/
https://sunwinn.za.com/
https://go881.jp.net/
7m
789club
game bài đổi thưởng
Rikvip
Socolive TV
Socolive TV
kèo nhà cái
hitclub
sunwin
789club
Kèo nhà cái
b52 club
b52 club
sunwin
kèo nhà cái
kèo bóng đá hôm nay
cá cược bóng đá
cakhiatv
socolive
xoilac
Kèo nhà cái
b52 club
ok9
https://fly88h.com/
789bet
tỷ lệ bóng đá hôm nay
tỷ lệ bóng đá hôm nay
Twin68
ww88
hitclub
tỷ lệ kèo
tylekeonhacai
V9bet
tỷ lệ kèo
nổ hũ
sunwin
188bet
Hit club
hitclub
Game bài 789club
BongdaNET
keonhacai5
Sunwin
hitclub
98win
RR88
123Bet
kèo nhà cái 5
NOHU
https://lucky88.us/
kubet
Sunwin
https://da888.app/
five88
da88
vin88
Five88
MAY88
FABET
sunwin
sunwin
sin88
Sumclub
Sao789
tỷ lệ kèo nhà cái
V88
ww88
ww88
Gamvip
Winclub
Xeng88
Vip69
Vic88
Kwin
Sumvip
Hit Club
https://cm88.so/
https://keonhacai.gb.net/
kèo nhà cái
Iwin68
dn88
https://ae8888.gr.com/
cakhiatv
xôi lạc tv
socolive
JBO
CakhiaTV
Socolive
b52club
kèo nhà cái 55
HITCLUB
lô đề online
https://mm88.blog/
8 DAY
kèo nhà cái
88xx
go99
sc88
23win
go8
go8
go99
33win
tỷ lệ kèo
kèo nhà cái
Go88
nowgoal
tỷ lệ kèo bóng đá anh
soi kèo nhà cái
Tài xỉu online
https://keonhacai6.io/
Luck8
B29
go8
https://sunwinor.com/
Rikvip
B52club
Kèo Nhà Cái
Go88
Socolive
Sutbongtv
Socolive
hitclub
bet168
game bài đổi thưởng
w 88
tỷ lệ kèo nhà cái
sun win
kết quả bóng đá
VN88
hello88
sunwin
f168
uu88
nổ hũ
Kèo Nhà Cái
Tài Xỉu
rikvip
xocdia88
xóc đĩa online
88vin
bay789
kwin
sunwin
https://sunwin35.io/
mu88
sunwin
B52
qq887p com
qq88 social
kèo nhà cái
kèo nhà cái
https://sunwins.eu.com
hitclub
Game bài đổi thưởng
v9bet
kubet
go88
b52 club
https://98win.kiwi/
au88
B52club
kèo nhà cái 5
https://sunwinkt.com/
AE888
Sunwin
go88
kqbd
Go88
kèo nhà cái
hit club
https://keonhacaim88.info/
trực tiếp bóng đá
Sunwin
sunwin
ok9
789Club
Sumclub
sonclub
alo789
bet88
123b
cm88
go 88
https://sunwinvy.com/
xoilactv
http://taixiuonline.markets/
nohu90 com
23win
game bai doi thuong
hitclub
sunwin
tài xỉu 789club
Bong88
Tỷ lệ kèo
Sunwin
hitclub
789club
trực tiếp bóng đá socolive
cm88
https://sunwin.vision/
hitclub
du88
du88
9bet
9bet
sunwin
lucky88
uk88
kèo nhà cái 5
Sunwin
https://ae888.co.com/
mu88
sunwin
sunwin
trang cá cược bóng đá
sunwin
GO99
789WIN
Lucky88
AO88
789Club
Nhà cái Xocdia88
8xbet
fb88
https://shbet800.com/
https://789bethv.com/
sunwin
sunwin
HITCLUB
https://keonhacai.forsale/
bay789
mu88
mu88
keo nha cai 5
đánh đề online
qq8876 net
https://metruyen.biz/
789 Club
HITCLUB
tỷ lệ kèo
luck8
tg88
789bet
789club
qh88
kubet
S8
Sunwin
Go88
Hay88
Hay88
Hay88
Hay88
https://go88n.co/
8xbet
b52club
kèo nhà cái
game bài đổi thưởng
https://ae888li.com/
79KING
https://npunks.io/
sun win
sun win
bắn cá đổi thưởng
Luckywin
RIK VIP
UY88
sun win
https://keonhacaingoaihanganh.com/
au88
SUNWIN
mê truyện
Xóc đĩa
tài xỉu
đánh đề online
kèo nhà cái
nhà cái uy tín
https://dstruct.io
sunwin
nha cai uy tin
789 club
99ok
VN88
90phut
trực tiếp bóng đá
Tai xiu
789club
nowgoal
J88
sunwin
go88
https://789betlove.com/
rikvip
hitclub
lô đề online
https://tylekeonhacai.co.com/
789club
Exness
kubet