Tế Hanh (1921 – 2009) là nhà thơ Việt Nam trưởng thành từ phong trào Thơ mới, nổi tiếng nhất với bài thơ Quê hương viết về làng chài ven biển Quảng Ngãi. Tên thật của ông là Trần Tế Hanh; sau năm 1954, ông là một trong những giọng thơ tiêu biểu viết về nỗi nhớ miền Nam và khát vọng thống nhất đất nước. Bài viết của Văn VN tóm tắt tiểu sử, các mốc đời, sự nghiệp, phong cách và những bài thơ của Tế Hanh trong sách giáo khoa.
Nhà thơ Tế Hanh là ai?
Tế Hanh là nhà thơ quê Quảng Ngãi, có thơ được tuyển vào Thi nhân Việt Nam khi mới ngoài hai mươi tuổi. Sau Cách mạng, ông theo kháng chiến, tập kết ra Bắc rồi gắn bó lâu năm với công tác của Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I).

| Tên thật | Trần Tế Hanh |
| Bút danh | Tế Hanh |
| Năm sinh – năm mất | 20/6/1921 – 16/7/2009 |
| Quê quán | Làng Đông Yên, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi |
| Thể loại | Thơ (thơ tám chữ, thơ tự do, thơ thiếu nhi) |
| Tác phẩm tiêu biểu | Nghẹn ngào, Hoa niên, Lòng miền Nam, Gửi miền Bắc, Tiếng sóng, Hai nửa yêu thương; các bài Quê hương, Nhớ con sông quê hương |
| Giải thưởng | Giải khuyến khích của Tự lực văn đoàn (1939); Giải thưởng Phạm Văn Đồng; Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996) |
| Trong SGK hiện hành | Quê hương (Ngữ văn 7, Ngữ văn 9); Nhớ con sông quê hương (Ngữ văn 11) |
Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo ở vùng biển: thân phụ là ông Trần Tất Tố, vừa dạy chữ vừa làm thuốc; nhạc sĩ Trần Thế Bảo là em trai út của nhà thơ. Cảnh sông nước, ghe thuyền, những người dân chài của quê nhà về sau trở thành nguồn cảm hứng xuyên suốt đời thơ Tế Hanh.
Cuộc đời Tế Hanh qua các mốc chính
Tế Hanh sống gần trọn thế kỷ XX, đi qua thời Thơ mới, hai cuộc kháng chiến và những năm đất nước đổi mới. Những mốc dưới đây được đối chiếu giữa Wikipedia tiếng Việt và bài viết của PGS.TS Lưu Khánh Thơ trên báo Nhân Dân (2009).
- 1921: sinh ngày 20/6 tại làng Đông Yên, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Khoảng 1936: mười lăm tuổi, ra Huế học trường Quốc học.
- 1938: viết bài thơ đầu tay Những ngày nghỉ học.
- 1939: tập thơ Nghẹn ngào được giải khuyến khích của Tự lực văn đoàn; bài Quê hương ra đời trong khoảng thời gian này.
- 1942: được Hoài Thanh, Hoài Chân giới thiệu trong cuốn Thi nhân Việt Nam.
- 1945: tháng 8 gia nhập Việt Minh, hoạt động trong ngành văn hóa – giáo dục tại Huế và Đà Nẵng; cùng năm, tập Hoa niên ra mắt.
- 1949 – 1954: hoạt động trong Chi hội Văn nghệ Liên khu V; được tặng Giải thưởng Phạm Văn Đồng.
- Sau 1954: tập kết ra Bắc; năm 1956 in tập Lòng miền Nam, trong đó có bài Nhớ con sông quê hương.
- Từ 1957: khi Hội Nhà văn Việt Nam thành lập, ông vào ban biên tập tuần báo Văn và nhiều năm là ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ của Hội.
- 1996: được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I.
- Cuối đời: từ những năm 1980 mắt ông kém dần; về sau ông bị tai biến (báo Nhân Dân ghi năm 1999) và nằm bệnh nhiều năm.
- 2009: mất ngày 16/7 tại Hà Nội, an táng ở quê nhà Bình Sơn, Quảng Ngãi.

Có thể chia đời Tế Hanh làm hai nửa gắn với hai vùng đất: tuổi trẻ ở miền Trung với sông, biển và những năm học ở Huế; nửa đời sau ở Hà Nội, nơi ông viết nhiều nhất về miền Nam xa cách. Chính khoảng cách địa lý ấy làm nên chất thơ “nhớ quê” đặc trưng của ông.
Sự nghiệp sáng tác của Tế Hanh
Trước 1945. Tế Hanh đến với Thơ mới khá muộn, khi phong trào đã có Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận. Thơ ông thời kỳ này mang nỗi buồn trong trẻo của cậu học trò xa nhà và những bức tranh làng quê rất thật. Tập Nghẹn ngào (1939) đem lại cho ông giải thưởng của Tự lực văn đoàn; một phần các bài thơ sau đó được in lại trong Hoa niên (1945).
Kháng chiến chống Pháp. Ông hoạt động văn nghệ ở Liên khu V và in tập Hoa mùa thi (1948).
Sau 1954. Đây là chặng sáng tác dồi dào nhất. Xa quê, ông dành nhiều trang cho miền Nam và nỗi đau chia cắt: Lòng miền Nam (1956), Gửi miền Bắc (1958), Tiếng sóng (1960), Hai nửa yêu thương (1963). Tiếp đó là Khúc ca mới (1966), Đi suốt bài ca (1970), Câu chuyện quê hương (1973), Theo nhịp tháng ngày (1974), Giữa những ngày xuân (1977), Con đường và dòng sông (1980), Bài ca sự sống (1985)… Ông cũng viết thơ cho thiếu nhi, tiêu biểu là bài Đưa con đi học.
Danh mục đầy đủ các tập thơ cùng phần giới thiệu từng bài tiêu biểu có trong bài tuyển tập thơ Tế Hanh hay nhất.
Những tác phẩm tiêu biểu của Tế Hanh
Quê hương (1939)
Bài thơ tám chữ khắc họa làng chài ven biển của tác giả: cảnh đoàn thuyền ra khơi buổi sớm, cảnh dân làng đón thuyền về bến, hình ảnh người dân chài rám nắng mang “vị xa xăm” của biển. Khổ cuối là nỗi nhớ của người con xa quê:
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
Bài thơ có trong ba bộ sách mới. Đọc thêm: tác phẩm Quê hương (Tế Hanh), phân tích bài thơ Quê hương, tóm tắt bài thơ Quê hương.
Nhớ con sông quê hương (1956)
Viết sau khi tập kết ra Bắc, bài thơ là lời tâm sự với dòng sông tuổi thơ ở quê nhà. Từ nỗi nhớ riêng, nhà thơ nâng lên thành tình yêu đất nước và niềm tin ngày Bắc – Nam sum họp. Hai câu mở đầu đã trở thành quen thuộc:
Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Xem toàn văn bài thơ Nhớ con sông quê hương và bài tác giả – tác phẩm Nhớ con sông quê hương.
Những ngày nghỉ học (1938)
Bài thơ đầu tay ghi lại cảm giác bâng khuâng của cậu học trò trong những ngày được nghỉ, thích ra ga nhìn những chuyến tàu đi xa. Bài thơ cho thấy ngay từ đầu Tế Hanh đã có biệt tài nắm bắt những rung động rất nhỏ.
Đưa con đi học (1964)
Bài thơ ra đời vào mùa thu 1964, về sau có mặt trong tập Khúc ca mới: người cha đưa con tới trường qua cánh đồng lúa đang thì con gái, đứa trẻ bỡ ngỡ ngó quanh tìm ngôi trường. Giọng thơ nhẹ nhàng, hình ảnh gần gũi, rất hợp với lứa tuổi nhỏ. Xem bài thơ Đưa con đi học.
Lòng miền Nam (1956)
Tập thơ đầu tiên Tế Hanh in sau khi tập kết ra Bắc, mở ra mảng thơ viết về miền Nam xa cách – mảng sáng tác chiếm vị trí lớn nhất trong nửa sau đời thơ ông. Nhớ con sông quê hương nằm trong tập này. Từ đây, những tập Gửi miền Bắc, Tiếng sóng, Hai nửa yêu thương tiếp tục mạch cảm xúc ấy.
Phong cách nghệ thuật của Tế Hanh
- Thơ của quê hương và nỗi nhớ: những hình ảnh như làng chài, con sông, cánh buồm xuất hiện lặp đi lặp lại; nỗi nhớ quê vừa là cảm xúc riêng, vừa gắn với nỗi đau đất nước chia cắt.
- Tinh tế trong quan sát: ông thường bắt được những chi tiết đời thường giản dị và nâng chúng thành hình ảnh giàu sức gợi, như cánh buồm được so sánh với “mảnh hồn làng”.
- Giọng thơ chân thành, giản dị: ít cầu kỳ chữ nghĩa, cảm xúc đi thẳng tới người đọc; nhiều bài thơ thiếu nhi trong sáng, dễ thuộc.
- Thể thơ: sở trường thể thơ tám chữ của Thơ mới (Quê hương, Nhớ con sông quê hương), về sau dùng nhiều thơ tự do. Tìm hiểu thêm về thể thơ tám chữ.
Tế Hanh được mệnh danh là gì?
Tế Hanh không có một danh hiệu chính thức nào. Tuy vậy, vì phần lớn những bài thơ hay nhất của ông đều viết về làng biển và dòng sông quê nhà, báo chí và người đọc thường gọi ông là nhà thơ của quê hương. Báo Văn nghệ (số ra tháng 8/2024) có bài viết của Phạm Xuân Hùng với nhan đề “Nhà thơ Tế Hanh – Người thơ mang gương mặt quê hương”.
Nhận định về Tế Hanh
Trong Thi nhân Việt Nam (1942), Hoài Thanh và Hoài Chân viết về Tế Hanh:
“Tế Hanh là một người tinh lắm, Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương.”
Nhận xét này đến nay vẫn được dùng nhiều nhất khi bàn về thơ Tế Hanh, vì nó chỉ đúng chỗ mạnh của ông: khả năng nắm bắt cái hồn của những cảnh rất bình thường. Ngoài ra, khi viết bài nghị luận, học sinh có thể triển khai thêm các ý mang tính tổng kết sau (nhận xét của người biên tập, không trích của ai):
- Thơ Tế Hanh trước 1945 mang nỗi buồn nhẹ của tuổi học trò nhưng không bế tắc, vì luôn có hình ảnh quê hương làm điểm tựa.
- Sau 1954, thơ ông là một trong những tiếng nói tiêu biểu của đề tài thống nhất đất nước.
Thơ của Tế Hanh trong sách giáo khoa Ngữ văn
| Bài thơ | Lớp – bộ sách | Bài học | Bài soạn trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Quê hương | Ngữ văn 7 Kết nối tri thức, tập 1 | Bài 3 – Cội nguồn yêu thương | Soạn bài Quê hương |
| Quê hương | Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, tập 1 | Bài 1 – Thương nhớ quê hương | Soạn bài Quê hương |
| Quê hương | Ngữ văn 9 Cánh diều, tập 2 | Bài 7 – Thơ tám chữ và thơ tự do | Soạn bài Quê hương ngắn gọn |
| Nhớ con sông quê hương | Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, tập 2 | Bài 9 – Đọc kết nối chủ điểm | Soạn bài Nhớ con sông quê hương |
Quê hương xuất hiện ở cả lớp 7 và lớp 9, nên học sinh nên nắm chắc bố cục, hình ảnh đoàn thuyền đánh cá và nghệ thuật so sánh trong bài.
Tóm tắt tiểu sử Tế Hanh ngắn gọn
Tế Hanh (1921 – 2009), tên thật Trần Tế Hanh, quê làng Đông Yên, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ông học ở Huế, đến với phong trào Thơ mới bằng tập Nghẹn ngào (1939), được Tự lực văn đoàn khen thưởng, và nổi tiếng với bài Quê hương. Năm 1945 ông tham gia Việt Minh, hoạt động văn nghệ ở Liên khu V, sau 1954 tập kết ra Bắc và làm việc lâu năm ở Hội Nhà văn Việt Nam. Thơ ông sau 1954 viết nhiều về miền Nam và khát vọng thống nhất. Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996 và mất tại Hà Nội năm 2009.
Câu hỏi thường gặp về Tế Hanh
Tế Hanh tên thật là gì?
Tên khai sinh của nhà thơ là Trần Tế Hanh.
Tế Hanh quê ở đâu?
Ông quê ở làng Đông Yên, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi – vùng quê biển sống bằng nghề chài lưới, chính là “làng tôi” trong bài Quê hương.
Tế Hanh sinh năm bao nhiêu, mất năm nào?
Ông sinh ngày 20/6/1921 và mất ngày 16/7/2009 tại Hà Nội, thọ 88 tuổi.
Bài thơ Quê hương của Tế Hanh viết năm nào?
Bài thơ được viết khoảng năm 1939, khi tác giả đang học ở Huế, in trong tập Nghẹn ngào rồi được in lại trong tập Hoa niên (1945).
Tế Hanh thuộc phong trào thơ nào?
Ông thuộc thế hệ cuối của phong trào Thơ mới (1932 – 1945) và được giới thiệu trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân.
Lời kết
Từ một cậu học trò Quảng Ngãi đến nhà thơ được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, tác giả Tế Hanh đã dành trọn đời thơ cho quê hương. Hiểu cuộc đời ông sẽ giúp bạn đọc Quê hương, Nhớ con sông quê hương sâu hơn. Đọc tiếp tuyển tập thơ Tế Hanh trên Văn VN.
Xem thêm: Giới thiệu nhà thơ Huy Cận · Tiểu sử nhà thơ Hàn Mặc Tử · Giới thiệu tác giả Chế Lan Viên
Xem thêm: