Soạn bài Nhật kí Đặng Thùy Trâm hướng dẫn em chuẩn bị và trả lời đầy đủ câu hỏi ở trang 83 – 86, Bài 3 (Nhật kí, phóng sự, hồi kí), sách Ngữ văn 12 Cánh diều tập một. Văn bản gồm ba trang nhật kí mà chị Thùy Trâm, một bác sĩ trẻ, ghi năm 1968 và 1970, khi chị đang công tác ở Đức Phổ, Quảng Ngãi, giữa những năm chiến tranh ác liệt nhất.
Tìm hiểu chung về văn bản Nhật kí Đặng Thùy Trâm
Trước khi đi vào từng câu hỏi, em cần nắm vài thông tin cơ bản về người viết, nguồn gốc đoạn trích và cách văn bản được sắp xếp.

Tác giả Đặng Thùy Trâm
Đặng Thùy Trâm (1942 – 1970) sinh ở Huế, lớn lên ở Hà Nội. Gia đình chị theo nghề y: cha, ông Đặng Ngọc Khuê, là bác sĩ; mẹ dạy ở Đại học Dược Hà Nội. Chị từng học Trường Chu Văn An, năm 1966 ra trường Đại học Y Hà Nội. Ngay sau đó, chị xin vào chiến trường miền Nam, đến Quảng Ngãi đầu năm 1967 và được giao phụ trách bệnh xá huyện Đức Phổ. Ngày 22/6/1970, trên đường công tác, chị hi sinh khi chưa tròn 28 tuổi. Năm 2006, chị được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Xuất xứ, thể loại, bố cục
- Xuất xứ: trích từ cuốn Nhật kí Đặng Thùy Trâm; SGK ghi nguồn NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2009. Hai cuốn sổ nhật kí được một cựu sĩ quan Mỹ giữ suốt 35 năm, trao lại cho gia đình năm 2005 và in thành sách cùng năm đó.
- Thể loại: nhật kí – ghi chép theo ngày, người viết kể việc thật, người thật và bộc lộ suy nghĩ riêng tư của mình.
- Ngôi kể: ngôi thứ nhất; người viết xưng “mình” khi tự ghi chép, xưng “con” ở trang viết khi nhận thư mẹ.
- Bố cục: ba phần ứng với ba ngày được trích: 20.7.1968 (công việc ở bệnh xá và các học trò), 1.1.1970 (suy nghĩ về tuổi trẻ, ước mơ), 19.5.1970 (nỗi nhớ gia đình, Hà Nội khi nhận thư mẹ).
Soạn bài Nhật kí Đặng Thùy Trâm – Chuẩn bị (trang 83)
Phần chuẩn bị nhắc em xem lại Kiến thức ngữ văn về nhật kí, đồng thời gợi ba điều cần để ý trong lúc đọc.
Câu 1: Tính xác thực và trải nghiệm của người viết (trang 83)
Tính xác thực của việc ghi chép hằng ngày được biểu hiện ở những yếu tố nào? Sự trải nghiệm của người viết đem lại hiệu quả gì cho văn bản?
Trả lời:
- Biểu hiện của tính xác thực: mỗi phần đều mở đầu bằng ngày tháng năm rõ ràng; nơi chốn là bệnh xá, lớp học, căn cứ, rừng ở chiến trường Quảng Ngãi; con người có tên thật (Thuận, Liên, Luận, Xuân, Nghĩa); sự việc là những điều chị trực tiếp làm hoặc tận mắt chứng kiến: chữa cho thương binh, dạy y học, nhận thư mẹ, chạy càn.
- Hiệu quả của trải nghiệm: vì người viết là người trong cuộc, mỗi dòng ghi chép vừa cung cấp thông tin về đời sống nơi tuyến đầu, vừa chứa cảm xúc và suy nghĩ thật của chị. Văn bản vì thế có sức thuyết phục và gây xúc động mạnh hơn một bản tường thuật khách quan.
Câu 2: Ngôi trần thuật và chi tiết gây ấn tượng (trang 83)
Văn bản sử dụng hình thức trần thuật ở ngôi thứ mấy? Chi tiết nào của văn bản gây ấn tượng đối với người đọc?
Trả lời:
- Văn bản trần thuật ở ngôi thứ nhất số ít: người kể chính là tác giả, tự gọi mình là “mình” hoặc “con”.
- Chi tiết gây ấn tượng (em có thể chọn chi tiết khác và giải thích): cô học trò Thuận vừa mất cha, ngực còn đeo tang mà đã cười, đã hát cùng cả lớp; hoặc lời tự nhủ đầu năm 1970 khi người viết nhận ra tuổi ba mươi đang đến gần; hoặc hình ảnh cô gái bình tĩnh cười giữa trận càn nhưng rơi nước mắt khi nghĩ về gia đình.
Câu 3: Tư tưởng, tình cảm và mối liên hệ với hôm nay (trang 83)
Văn bản gửi gắm tư tưởng, tình cảm gì của người viết? Điều ấy có liên quan như thế nào đến cuộc sống hiện nay?
Trả lời:
- Tư tưởng, tình cảm: lí tưởng sống cống hiến cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc; tình thương đồng đội, học trò, thương binh; tình yêu gia đình, Hà Nội; nỗi tiếc nuối tuổi xuân rất con người nhưng không làm chị chùn bước.
- Liên hệ: người trẻ hôm nay được sống trong hòa bình là nhờ sự hi sinh của những thế hệ như chị. Trang nhật kí nhắc chúng ta sống có mục đích, biết trân trọng hòa bình, gia đình và thời gian tuổi trẻ của mình.
Soạn bài Nhật kí Đặng Thùy Trâm – Câu hỏi trong khi đọc (trang 84 – 85)
Ba câu hỏi bên lề văn bản gắn với ba phần nhật kí, giúp em nắm ý chính của từng ngày.
Câu 1: Công việc hằng ngày của bác sĩ Đặng Thùy Trâm có gì đặc biệt? (trang 84)
Trả lời:
Công việc của chị đặc biệt ở cả khối lượng lẫn tính chất. Thương binh thì nhiều, nặng mà người làm lại ít, nên chị một mình gánh ba việc: điều hành bệnh xá, trực tiếp chữa bệnh và đứng lớp dạy y học cho học sinh. Nhật kí ghi rõ cường độ ấy: “Riêng mình, trách nhiệm càng nặng nề hơn bao giờ hết, mỗi ngày làm việc từ sáng tinh mơ cho đến đêm khuya.” Dù vất vả, chị vẫn thấy vui vì thành quả cụ thể: đôi mắt thương binh sáng lại, cánh tay sưng phù đã lành, xương gãy đã liền. Riêng việc dạy học, chị đến lớp với tấm lòng của người chị thương các em nghèo khó, thiệt thòi.
Câu 2: Chú ý suy nghĩ và ước mơ của tác giả (trang 85)
Trả lời:
- Suy nghĩ: ngày đầu năm 1970, thêm một tuổi, chị chợt buồn khi nghĩ mình sắp thành “chị cán bộ già dặn”, tiếc tuổi xuân đã trôi qua trong khói lửa, không trọn vẹn hạnh phúc riêng. Nhưng rồi chị tự nhận ra tuổi trẻ của mình đã được tôi luyện, cứng cáp hơn giữa chiến trường và vẫn có niềm vui từ tình thương của những người xung quanh.
- Ước mơ: ước mơ riêng được gác lại sau ước mơ chung của cả thế hệ: “Ước mơ bây giờ là đánh thắng giặc Mỹ, là Độc lập, Tự do của đất nước.” Chị tin rằng có ước mơ chung ấy thì mới có hạnh phúc riêng.
Câu 3: Chú ý tình cảm của tác giả đối với gia đình và quê hương (trang 85)
Trả lời:
Nhận thư mẹ, chị xúc động thấy từng chữ của mẹ như mạch máu ấm truyền vào tim mình. Nỗi nhớ nhà luôn có mặt trong lòng chị: giữa bao tiếng súng đạn, chị vẫn nghe thấy “tiếng nói của miền Bắc yêu thương” – tiếng của mẹ, của ba, của các em. Chị nhớ hàng cây trên đường Đại La, tiếng sóng sông Hồng, nhịp sống ồn ã của thủ đô; nhiều lần mơ thấy mình về trong vòng tay cha mẹ. Người con gái cười được giữa trận càn lại rơi nước mắt khi nghĩ đến gia đình. Tình cảm ấy sâu nặng nhưng không làm chị nao núng, vì chị đã chọn ra đi theo lí tưởng.
Soạn bài Nhật kí Đặng Thùy Trâm – Câu hỏi sau khi đọc (trang 86)
Sáu câu hỏi sau khi đọc yêu cầu em chỉ ra mạch liên kết các phần, đặc điểm của thể nhật kí và rút ra ý nghĩa của văn bản.
Câu 1: Nội dung từng phần và mạch lô gích gắn kết (trang 86)
Văn bản trên gồm ba phần, được trích từ ba đoạn khác nhau của Nhật kí Đặng Thùy Trâm nhưng giữa chúng vẫn có mạch lô gích gắn kết nội dung. Em hãy nêu nội dung của từng phần và chỉ ra mạch lô gích gắn kết đó.
Trả lời:
- Phần 1 (20.7.1968): những ngày làm việc quá tải ở bệnh xá, niềm vui khi người bệnh hồi phục, tình thương và sự cảm phục dành cho các học trò nghèo mà ham học.
- Phần 2 (1.1.1970): suy tư ngày đầu năm về tuổi xuân trôi qua trong chiến tranh, về ước mơ chung của thế hệ trẻ và niềm vui từ tình cảm của đồng đội, bạn bè.
- Phần 3 (19.5.1970): xúc động khi nhận thư mẹ, nỗi nhớ gia đình và Hà Nội, sự đối lập giữa người chiến sĩ bình tĩnh trước bom đạn và người con mềm lòng khi nghĩ về nhà.
Mạch gắn kết: cả ba phần cùng là những trang tâm sự của một người, đi từ ngoài vào trong. Phần đầu kể công việc và con người quanh mình; phần hai quay về suy ngẫm về chính tuổi trẻ và lí tưởng của mình, giải thích vì sao chị chấp nhận gian khổ; phần ba chạm tới tầng sâu nhất là tình cảm gia đình, nguồn sức mạnh giúp chị đi tiếp. Thời gian cũng nối tiếp từ 1968 sang 1970, cho thấy tâm hồn người viết ngày càng trầm lắng mà lí tưởng vẫn không đổi.
Câu 2: Sự kiện, suy nghĩ của tác giả và nhận xét về chủ thể trần thuật (trang 86)
Hãy chỉ ra những sự kiện và suy nghĩ của tác giả được thể hiện trong từng phần văn bản và nêu nhận xét của em về chủ thể trần thuật (theo bảng gồm các cột: Ngày, Sự kiện, Suy nghĩ của tác giả, Nhận xét của em về chủ thể trần thuật).
Trả lời:
| Ngày | Sự kiện | Suy nghĩ của tác giả | Nhận xét về chủ thể trần thuật |
|---|---|---|---|
| 20.7.1968 | Bệnh xá đông thương binh nặng, thiếu người; chị vừa quản lí, vừa chữa bệnh, vừa dạy lớp y. | Thấy mình đã dốc hết sức cho cách mạng; vui khi người bệnh khỏi; thương và cảm phục Thuận, Liên cùng các học trò. | Người trong cuộc, trực tiếp làm việc và chứng kiến; tận tụy, giàu tình thương, biết học hỏi từ người khác. |
| 1.1.1970 | Bước sang năm mới, thêm một tuổi. | Buồn vì tuổi xuân trôi qua trong chiến tranh; gác ước mơ riêng cho ước mơ chung; vẫn thấy hạnh phúc vì được yêu thương. | Tự nhìn vào bản thân, thành thật với nỗi buồn rất đời thường nhưng biết tự động viên mình; trưởng thành, có lí tưởng. |
| 19.5.1970 | Nhận được thư mẹ. | Thương nhớ gia đình, Hà Nội da diết; vẫn khẳng định mình là người chiến sĩ, không hối hận vì đã ra đi. | Vừa kiên cường vừa đa cảm; cảm xúc được bộc lộ trực tiếp, chân thật như lời tâm sự với mẹ. |
Nhìn chung, chủ thể trần thuật là chính tác giả – một người vừa ghi lại sự việc vừa tự bộc lộ mình, nên ta thấy được cả hành động lẫn đời sống nội tâm của chị.
Câu 3: Tính phi hư cấu và tác dụng (trang 86)
Tính phi hư cấu của đoạn trích Nhật kí Đặng Thùy Trâm được thể hiện ở những yếu tố nào? Điều đó có tác dụng gì đối với nội dung của văn bản?
Trả lời:
- Biểu hiện:
- Thời gian xác định: mỗi phần gắn với một ngày được ghi rõ (20.7.1968, ngày đầu năm 1970 và 19.5.1970).
- Không gian có thật: bệnh xá, lớp học y, căn cứ, rừng nơi chiến trường; Hà Nội với đường Đại La, sông Hồng.
- Con người có thật: các học trò Thuận, Liên, Luận, Xuân, Nghĩa; mẹ, ba, các em của tác giả.
- Sự việc có thật do chính người viết trải qua: chữa bệnh, dạy học, nhận thư, địch càn, máy bay bắn rốc-két.
- Tác dụng: làm văn bản đáng tin, giúp người đọc hình dung đúng hoàn cảnh khắc nghiệt nơi tuyến đầu; cảm xúc trong nhật kí vì thế cũng thật và lay động hơn; trang viết trở thành tư liệu quý về một thời chiến tranh và về thế hệ trẻ thời ấy.
Câu 4: Đoạn văn kết hợp miêu tả với trần thuật và tác dụng (trang 86)
Hãy chỉ ra một đoạn văn có sự kết hợp thủ pháp miêu tả với trần thuật trong văn bản. Việc sử dụng kết hợp các thủ pháp đó có tác dụng gì?
Trả lời:
Có thể chọn đoạn viết về Thuận và Liên trong phần ngày 20.7.1968. Trần thuật: kể Thuận vừa mất cha, Liên vừa học vừa làm ở bệnh xá. Miêu tả: chiếc tang trên ngực Thuận, nụ cười trên đôi môi nhợt nhạt; Liên tất bật từ sáng đến tối, được so sánh với một con chim nhanh nhẹn.
Tác dụng:
- Sự việc không khô khan mà hiện lên như những bức chân dung sống động, người đọc như nhìn thấy các học trò trước mắt.
- Làm nổi bật nghị lực và tinh thần lạc quan của những người trẻ vô danh giữa đau thương.
- Gián tiếp bộc lộ tình thương, sự cảm phục của người viết – chị thấy ở họ một tấm gương để học tập.
Câu 5: Suy nghĩ, cảm xúc và chi tiết ấn tượng (trang 86)
Em có suy nghĩ và cảm xúc gì sau khi đọc văn bản? Chi tiết nào trong văn bản để lại ấn tượng đặc biệt đối với em? Vì sao?
Trả lời:
Em có thể trình bày theo cảm nhận riêng. Gợi ý:
Đọc xong ba trang nhật kí, em vừa khâm phục vừa thương một người chị chỉ hơn em chừng mười tuổi mà đã gánh vác cả một bệnh xá giữa bom đạn. Điều làm em xúc động là chị không phải người sắt đá vô cảm: chị cũng buồn khi tuổi xuân qua đi, cũng khóc khi nhớ mẹ. Chi tiết em nhớ nhất là câu chị viết sau khi nhận thư mẹ: “Nhưng con vẫn ra đi vì lí tưởng.” Ngay trước đó, chị vừa thú nhận khao khát được về nhà dù chỉ một giây lát. Đặt hai điều cạnh nhau, em hiểu rằng sự hi sinh của chị là một lựa chọn có ý thức, phải vượt qua cả nỗi nhớ thương rất con người. Vì thế, sự lựa chọn ấy càng đáng trân trọng.
Câu 6: Ý nghĩa của văn bản đối với thế hệ trẻ ngày nay (trang 86)
Trả lời:
- Giúp người trẻ hiểu rõ cái giá của hòa bình qua một con người cụ thể, một tuổi trẻ cụ thể chứ không chỉ qua con số trong sách sử.
- Gợi bài học về lí tưởng sống: biết đặt mình trong trách nhiệm chung, làm việc hết lòng ở vị trí của mình.
- Dạy cách yêu thương: thương người bệnh, thương học trò, quý trọng đồng đội và gia đình.
- Cho thấy sống có lí tưởng không loại trừ cảm xúc riêng; người trẻ có quyền buồn, nhớ nhà, tiếc tuổi xuân nhưng vẫn có thể vững vàng với lựa chọn của mình.
Kết luận
Ba trang Nhật kí Đặng Thùy Trâm trong SGK cho thấy chân dung một nữ bác sĩ trẻ tận tụy với người bệnh, thương học trò, sống có lí tưởng mà vẫn giàu cảm xúc đời thường. Khi soạn bài, em cần nắm ba mốc thời gian, mạch đi từ công việc đến suy tư và tình cảm gia đình, cùng những đặc trưng của nhật kí: ngôi thứ nhất, tính phi hư cấu, kết hợp kể với tả và bộc lộ cảm xúc.
Xem thêm:
- Soạn văn 12 Cánh diều
- Soạn bài Đàn ghi ta của Lor-ca
- Tiểu sử Đặng Thùy Trâm, nữ bác sĩ và cuốn nhật kí trở về sau 35 năm