Soạn bài Tác gia Hồ Chí Minh trong Bài 6 sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức tập 2 (trang 6 – 12). Bài soạn trả lời hai câu hỏi trước khi đọc, mười một câu hỏi theo dõi trong khi đọc, bảy câu hỏi sau khi đọc và có đoạn văn mẫu cho phần kết nối đọc – viết.
Trước khi đọc văn bản Tác gia Hồ Chí Minh
Văn bản gồm hai phần lớn là tiểu sử và sự nghiệp văn học. Hai câu hỏi khởi động giúp em huy động vốn hiểu biết sẵn có về Bác Hồ.

Câu 1: Những sáng tác văn học nghệ thuật về lãnh tụ Hồ Chí Minh (trang 6)
Bạn từng biết những sáng tác văn học nghệ thuật nào về lãnh tụ Hồ Chí Minh? Hãy chia sẻ cảm nghĩ về những sáng tác ấy.
Trả lời:
- Thơ: Đêm nay Bác không ngủ (Minh Huệ), Viếng lăng Bác (Viễn Phương), Sáng tháng Năm, Bác ơi! (Tố Hữu).
- Văn xuôi: Đức tính giản dị của Bác Hồ (Phạm Văn Đồng), Búp sen xanh (Sơn Tùng).
- Âm nhạc: Như có Bác trong ngày đại thắng (Phạm Tuyên), Viếng lăng Bác (Hoàng Hiệp phổ thơ Viễn Phương), Bác đang cùng chúng cháu hành quân (Huy Thục).
Cảm nghĩ: Các sáng tác đều khắc họa hình ảnh một vị lãnh tụ vĩ đại mà vô cùng gần gũi: thức trắng đêm lo cho chiến sĩ, sống giản dị, yêu thương mọi người. Đọc và nghe những tác phẩm ấy, em thêm kính yêu Bác và hiểu vì sao Bác luôn sống trong lòng dân tộc.
Câu 2: Tác phẩm của Hồ Chí Minh đã học ở Tiểu học và Trung học cơ sở (trang 6)
Trả lời:
Tùy bộ sách đã học, em có thể kể: Thư gửi các học sinh, Rằm tháng Giêng (Nguyên tiêu), Cảnh khuya, Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, Tức cảnh Pác Bó, Ngắm trăng, Đi đường.
Câu hỏi trong khi đọc văn bản Tác gia Hồ Chí Minh
Câu 1: Những sự kiện quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng (trang 6)
Trả lời:
- Năm 1911: rời bến cảng Sài Gòn sang phương Tây.
- Năm 1919: gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới Hội nghị Véc-xây, lấy tên Nguyễn Ái Quốc.
- Năm 1920: bỏ phiếu tán thành việc thành lập Đảng Cộng sản Pháp.
- Đầu năm 1930: đứng ra hợp nhất các tổ chức cộng sản, lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hương Cảng.
- Năm 1941: về nước, thành lập Mặt trận Việt Minh; năm 1942 lấy tên Hồ Chí Minh.
- Ngày 2/9/1945: đọc Tuyên ngôn Độc lập.
- 1946 – 1969: là Chủ tịch nước, lãnh đạo hai cuộc kháng chiến; mất ngày 2/9/1969.
Câu 2: Cơ sở khẳng định vai trò lãnh tụ cách mạng Việt Nam (trang 7)
Trả lời:
Vai trò ấy được khẳng định qua những việc làm có tính bước ngoặt: tìm ra con đường cứu nước, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lập Mặt trận Việt Minh, lãnh đạo Tổng khởi nghĩa thành công, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và dẫn dắt nhân dân qua hai cuộc kháng chiến.
Câu 3: Liên hệ những đánh giá khái quát về Hồ Chí Minh (trang 7)
Trả lời:
Em biết đến nghị quyết của UNESCO năm 1987 về kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Người (1990), trong đó ghi nhận Người là anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa lớn của Việt Nam. Năm 1998, tạp chí Time (Mĩ) đưa Người vào danh sách một trăm nhân vật có ảnh hưởng nhất thế kỉ XX. Với nhân dân Việt Nam, Người được gọi bằng tiếng “Bác” thân thương, như một người cha, người ông trong gia đình lớn của dân tộc.
Câu 4: Những điểm nổi bật trong quan điểm sáng tác (trang 7)
Trả lời:
- Văn chương phải là vũ khí đấu tranh, phục vụ cách mạng; trong thơ phải có “thép”, nhà thơ phải biết xung phong.
- Coi trọng tính chân thực và tính dân tộc, viết sao cho đại chúng hiểu được.
- Trước khi viết luôn tự hỏi: viết cho ai, viết để làm gì, viết cái gì và viết như thế nào.
Câu 5: Cơ sở hình thành quan điểm sáng tác (trang 8)
Trả lời:
Quan điểm ấy hình thành từ nhận thức của Người về sức mạnh của báo chí, văn chương trong việc giáo dục, cảm hóa con người và vận động cách mạng; từ kinh nghiệm thực tế nhiều năm làm báo; và từ mục tiêu suốt đời là giải phóng dân tộc, mang lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân.
Câu 6: Liên hệ những tác phẩm chính luận đã học, đã đọc (trang 9)
Trả lời:
Tinh thần yêu nước của nhân dân ta (học ở lớp 7, 8), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Không có gì quý hơn độc lập, tự do, Di chúc, Tuyên ngôn Độc lập (học ngay trong bài này).
Câu 7: Thời gian viết truyện, kí (trang 9)
Trả lời:
Truyện ngắn chủ yếu ra đời đầu những năm 1920, viết bằng tiếng Pháp khi Người sống và hoạt động ở Pháp. Các tác phẩm kí xuất hiện rải rác về sau, tiêu biểu là Vừa đi đường vừa kể chuyện, đăng báo Nhân Dân từ năm 1961.
Câu 8: Liên hệ những bài thơ đã học, đã đọc (trang 10)
Trả lời:
Các bài thơ trong Nhật kí trong tù như Ngắm trăng, Đi đường, Chiều tối; các bài thơ ở Việt Bắc như Cảnh khuya, Rằm tháng Giêng, Tức cảnh Pác Bó, Cảnh rừng Việt Bắc.
Câu 9: Nguyên nhân của sự đa dạng về cấu trúc, ngôn ngữ, giọng điệu (trang 11)
Trả lời:
Sự đa dạng bắt nguồn từ chỗ Người viết về đủ loại đề tài, cho đủ loại người đọc (người Pháp, đồng bào trong nước, bạn bè quốc tế, chính mình), lại sử dụng thành thạo nhiều thứ tiếng, nhiều thể loại. Cuộc đời hoạt động phong phú và tư chất nghệ sĩ cũng góp phần tạo nên sự phong phú ấy.
Câu 10: Sự khác nhau giữa hai mảng truyện, kí (trang 11)
Trả lời:
| Viết bằng tiếng Pháp | Viết bằng tiếng Việt | |
|---|---|---|
| Độc giả | Người Pháp, trí thức phương Tây | Quần chúng trong nước |
| Cách viết | Hiện đại, dùng thủ pháp văn học phương Tây (viết dưới dạng thư, giữ nguyên từ ngữ bản xứ), chuyển cảnh nhanh | Kể mộc mạc, ngắn gọn, nêu bài học trực tiếp |
| Giọng điệu | Hài hước, châm biếm sắc sảo kiểu Pháp | Hóm hỉnh, gần gũi |
Câu 11: Những bài thơ cho thấy sự đa dạng trong phong cách thơ Hồ Chí Minh (trang 11)
Trả lời:
Thơ tuyên truyền như Ca dân cày, Bài ca du kích viết mộc mạc theo lối ca dao, vè; thơ trữ tình chữ Hán như Vọng nguyệt, Mộ mang màu sắc cổ điển, hàm súc; thơ tiếng Việt như Cảnh khuya, Tức cảnh Pác Bó vừa giản dị vừa có chất cổ điển trong cảm hứng thiên nhiên và phong thái ung dung.
Trả lời câu hỏi sau khi đọc
Câu 1: Cảm xúc, suy nghĩ về tiểu sử Hồ Chí Minh (trang 12)
Trả lời:
Đọc tiểu sử, em vô cùng khâm phục ý chí của một chàng thanh niên dám một mình sang phương Tây với hai bàn tay trắng để tìm đường cứu nước. Em xúc động khi biết Người đã trải qua bao gian khổ, tù đày, sống xa Tổ quốc ba mươi năm, rồi trở về lãnh đạo dân tộc giành độc lập. Em hiểu rằng cuộc đời Người là cuộc đời hiến dâng trọn vẹn cho đất nước, và lòng biết ơn, kính yêu của nhân dân dành cho Bác là hoàn toàn xứng đáng.
Câu 2: Sự thống nhất giữa sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp văn học (trang 12)
Trả lời:
Với Hồ Chí Minh, viết văn là một cách làm cách mạng. Văn chương chính luận của Người là công cụ đấu tranh trực tiếp; truyện, kí ở Pháp là đòn tấn công vào chủ nghĩa thực dân; thơ ca tuyên truyền là cách vận động quần chúng. Ngay cả thơ trữ tình cũng thấm đẫm tâm hồn người chiến sĩ. Hai sự nghiệp vì thế không tách rời: cách mạng là mục đích và nguồn cảm hứng, văn học là phương tiện và là nơi kết tinh tâm hồn người cách mạng.
Câu 3: Hồ Chí Minh hướng tới điều gì khi nêu quan điểm sáng tác và tác động của quan điểm ấy (trang 12)
Trả lời:
Công bố rõ ràng quan điểm của mình, Người muốn góp phần tạo dựng một nền văn hóa, văn học mới của nhân dân, phục vụ nhân dân và các mục tiêu cách mạng; đồng thời định hướng cho đội ngũ văn nghệ sĩ.
Quan điểm ấy đã tác động sâu rộng đến văn học cách mạng Việt Nam: văn nghệ sĩ đi vào kháng chiến, coi ngòi bút là vũ khí; văn học hướng về đại chúng, đề cao tính chiến đấu, tính dân tộc và cảm hứng sử thi. Có thể thấy rõ điều này trong thơ Tố Hữu, văn xuôi kháng chiến như Làng (Kim Lân), Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) hay những tác phẩm thời chống Mĩ.
Câu 4: Di sản văn học lớn và bộ phận chiếm ưu thế về khối lượng (trang 12)
Trả lời:
Di sản ấy lớn vì có hàng trăm tác phẩm, trải trên nhiều thể loại (chính luận, truyện, kí, thơ), nhiều ngôn ngữ (Pháp, Hán, Việt), nhiều tác phẩm trở thành mẫu mực và có sức ảnh hưởng sâu rộng.
Xét về số lượng, văn chính luận nhiều hơn cả. Điều này dễ hiểu vì Người trước hết là nhà cách mạng: mỗi chặng đường cách mạng đều đòi hỏi những bài báo, lời kêu gọi, văn kiện để vạch trần kẻ thù, giáo dục, động viên nhân dân. Văn chính luận là thể loại đáp ứng trực tiếp và kịp thời nhất những yêu cầu ấy.
Câu 5: Bằng chứng về sức tác động của các tác phẩm (trang 12)
Trả lời:
- Bản án chế độ thực dân Pháp lưu hành bí mật, thức tỉnh nhiều thanh niên yêu nước đi theo con đường cách mạng.
- Tuyên ngôn Độc lập khai sinh một nhà nước, đến nay vẫn được đọc lại mỗi dịp Quốc khánh.
- Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ra đời trong những ngày đầu cuộc kháng chiến cuối năm 1946, cổ vũ cả nước đứng lên.
- Câu nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trở thành chân lí, khẩu hiệu hành động của cả dân tộc trong kháng chiến chống Mĩ.
- Thư chúc Tết, thơ chúc Tết của Người được nhân dân mong đợi và thuộc lòng.
Câu 6: Câu, ý lí giải tính đa dạng của phong cách nghệ thuật (trang 12)
Trả lời:
Văn bản lí giải sự đa dạng bằng các ý: tác giả viết về nhiều vấn đề cho nhiều kiểu người đọc; tác giả sử dụng thông thạo nhiều thứ tiếng, nhiều thể loại; văn chính luận vừa kế thừa truyền thống dân tộc vừa học hỏi văn chính luận phương Tây; truyện, kí thay đổi cách viết tùy theo viết cho người Pháp hay người Việt; thơ tuyên truyền và thơ trữ tình được tách bạch. Phần tổng kết gắn sự đa dạng ấy với một cuộc đời hoạt động cách mạng không ngừng nghỉ và với “sự đa diện của một tài năng văn chương đích thực”.
Câu 7: Cảm nhận về tài năng văn học và phẩm chất nghệ sĩ của Hồ Chí Minh (trang 12)
Trả lời:
Tài năng văn học của Hồ Chí Minh thể hiện ở khả năng viết thành công nhiều thể loại, bằng nhiều thứ tiếng, ở thể loại nào cũng có tác phẩm xuất sắc. Phẩm chất nghệ sĩ của Người hiện rõ nhất trong thơ: dù ở trong tù hay giữa núi rừng kháng chiến, Người vẫn rung động trước ánh trăng, cành hoa, tiếng suối, vẫn giữ phong thái ung dung, lạc quan. Em đánh giá Hồ Chí Minh là một nhà văn lớn, ở Người tài năng nghệ thuật và nhân cách cao đẹp hòa làm một.
Kết nối đọc – viết
Câu 1: Viết đoạn văn về những thu hoạch bổ ích nhất (trang 12)
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu những thu hoạch bổ ích nhất của bạn khi đọc văn bản Tác gia Hồ Chí Minh.
Trả lời (đoạn văn mẫu):
Đọc văn bản Tác gia Hồ Chí Minh, điều em thu hoạch được nhiều nhất là một cái nhìn đầy đủ hơn về Bác. Trước đây, em chủ yếu biết Bác là vị lãnh tụ kính yêu, còn thơ văn của Bác chỉ là vài bài học rời rạc. Văn bản giúp em thấy Bác là một nhà văn thực thụ, có quan điểm sáng tác rõ ràng, có di sản đồ sộ trải rộng từ chính luận, truyện, kí đến thơ. Em đặc biệt nhớ bốn câu hỏi Bác đặt ra trước khi viết, bởi đó cũng là bài học bổ ích cho chính em mỗi khi làm văn: phải biết mình viết cho ai và để làm gì. Em cũng hiểu vì sao phong cách của Bác vừa phong phú vừa nhất quán. Từ đó, em có thêm động lực đọc lại các tác phẩm của Bác bằng con mắt của người học văn, chứ không chỉ để thuộc lòng.
Kết luận
Soạn bài Tác gia Hồ Chí Minh, em cần ghi nhớ những sự kiện chính trong tiểu sử, quan điểm sáng tác, thành tựu ở ba mảng chính luận, truyện – kí, thơ và đặc điểm phong cách nghệ thuật. Kiến thức này là chìa khóa để đọc hiểu các văn bản tiếp theo trong bài: Tuyên ngôn Độc lập, Mộ, Nguyên tiêu và Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu.
Xem thêm:
- Soạn bài Mộ (Chiều tối), Nguyên tiêu – Ngữ văn 12 Kết nối tri thức
- Tìm hiểu phong cách sáng tác của Hồ Chí Minh
- Những bài thơ Hồ Chí Minh hay nhất