Soạn bài Ở Va-xan giúp em chuẩn bị và trả lời đầy đủ các câu hỏi trước, trong và sau khi đọc ở trang 34 – 40, Bài 7 (Trong ánh đèn thành thị – Tiểu thuyết hiện đại), sách Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo tập hai. Đoạn trích lấy từ Hội chợ phù hoa – cuốn tiểu thuyết lớn nhất của Uy-li-am Thác-cơ-rây, kể chuyện một buổi tối đi chơi ở khu vườn giải trí Va-xan và cuộc cầu hôn bất thành của Rê-béc-ca Sáp, một cô gái nghèo.
Tìm hiểu chung về văn bản Ở Va-xan
Để trả lời tốt các câu hỏi, em cần nắm thông tin về tác giả, tác phẩm, người dịch và mạch sự việc của đoạn trích.

Tác giả Uy-li-am Thác-cơ-rây
Uy-li-am Thác-cơ-rây (William Makepeace Thackeray, 1811 – 1863) là nhà văn hiện thực, cây bút trào phúng xuất sắc của văn học Anh thế kỉ XIX. Ông chào đời ở Can-cút-ta (Ấn Độ), nơi cha ông làm việc cho Công ty Đông Ấn, rồi được gửi về Anh học từ khi còn rất nhỏ. Ông từng viết báo, vẽ tranh biếm họa trước khi nổi tiếng với tiểu thuyết. Sáng tác của ông thường chĩa mũi nhọn vào thói hợm hĩnh, giả dối và sự sùng bái đồng tiền của giới thượng lưu, trung lưu Anh. Tác phẩm lớn nhất là Hội chợ phù hoa.
Tiểu thuyết Hội chợ phù hoa và đoạn trích
- Tác phẩm: Hội chợ phù hoa (Vanity Fair) được đăng từng kì trong hai năm 1847 – 1848, in thành sách năm 1848, với phụ đề Tiểu thuyết không có nhân vật chính (A Novel without a Hero). Truyện đặt song song cuộc đời hai cô bạn học: Rê-béc-ca Sáp, mồ côi, nghèo, sắc sảo, quyết tâm leo lên xã hội thượng lưu bằng mọi giá; và A-mê-li-a Sét-lây, con gái nhà buôn giàu, hiền lành, cả tin.
- Vị trí đoạn trích: thuộc phần đầu tiểu thuyết. Rê-béc-ca vừa rời trường, đến ở nhờ nhà A-mê-li-a ở công viên Rút-xen trước khi đi làm gia sư. Cô tìm cách chinh phục Giô Sét-lây – anh trai A-mê-li-a, một viên chức béo phị, giàu có trở về từ Ấn Độ.
- Người dịch, nguồn: SGK ghi theo bản Hội chợ phù hoa do Trần Kiêm dịch, NXB Văn học, 2006, trang 122 – 142 (cả loigiaihay và VietJack đều chép lại chú thích này).
- Thể loại: tiểu thuyết hiện thực (trích); phương thức chính là tự sự, kết hợp miêu tả và bình luận.
Bố cục và tóm tắt đoạn trích
- Phần 1 (từ đầu đến câu mời bạn đọc cùng lên xe ngựa đi Va-xan): người kể tâm sự với độc giả về câu chuyện bình thường và chương truyện ngắn mà quan trọng này.
- Phần 2 (trên đường và trong vườn Va-xan): mọi người chờ Giô ngỏ lời; Đô-bin lặng lẽ ôm khăn; Giô suýt cầu hôn thì tiếng chuông báo bắn pháo hoa cắt ngang.
- Phần 3 (lá thư của Giô đến hết): Giô say rượu, bị Gioóc chế giễu nên xấu hổ bỏ đi, chỉ gửi lại thư xin lỗi; Rê-béc-ca phải rời nhà Sét-lây, nhận quà của bạn rồi chia tay trong cảnh “đóng trò”.
Nội dung và nghệ thuật
- Nội dung: qua một buổi tối tưởng như vụn vặt, đoạn trích phơi bày “hội chợ” của tham vọng, tiền bạc và sự giả dối trong xã hội thị dân Anh đầu thế kỉ XIX; đồng thời cho thấy bước khởi đầu đầy toan tính trên con đường tiến thân của Rê-béc-ca.
- Nghệ thuật: người kể chuyện xưng “tôi”, “chúng ta”, thường xuyên bình luận và trò chuyện với độc giả; giọng điệu mỉa mai, hài hước; nhân vật được khắc họa qua ngoại hình, hành động, lời nói, suy nghĩ và cách người khác nhìn nhận; chi tiết đời thường nhưng giàu sức gợi.
Soạn bài Ở Va-xan – Trước khi đọc (trang 34)
Câu hỏi khởi động gợi em liên hệ với những câu chuyện về người nghèo đi tìm chỗ đứng ở chốn thị thành, đúng chủ đề của Bài 7.
Câu 1: Câu chuyện về hành trình của người xuất thân nghèo khổ ở thành thị (trang 34)
Bạn có biết câu chuyện nào nói về hành trình của những con người xuất thân nghèo khổ đi tìm chỗ đứng trong xã hội thành thị không? Theo bạn, những người như vậy có thể gặp những cơ hội và những thách thức nào trong hành trình tìm kiếm thành công?
Trả lời:
Câu chuyện (gợi ý): trong Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Xuân Tóc Đỏ từ một kẻ nhặt bóng quần vợt bỗng chốc leo lên giới thượng lưu Hà Nội nhờ may mắn và mánh khóe. Ngược lại, Giăng Van-giăng trong Những người khốn khổ (Vích-to Huy-gô) vươn lên bằng lao động và lương tâm. Hai câu chuyện cho thấy hai con đường rất khác nhau.
Cơ hội và thách thức:
- Cơ hội: nhiều việc làm, trường học, môi trường học hỏi; người có năng lực, chịu khó có thể đổi đời.
- Thách thức: thiếu vốn, thiếu quan hệ, bị coi thường vì xuất thân, áp lực cạnh tranh; nhất là cám dỗ tiền bạc, danh vọng khiến con người dễ chọn đường tắt bất chính.
Soạn bài Ở Va-xan – Câu hỏi trong khi đọc (trang 35 – 39)
Bốn câu hỏi bên lề rèn các kĩ năng suy luận, dự đoán và tưởng tượng khi đọc tiểu thuyết.
Câu 1 (Suy luận): Thái độ của người kể chuyện trong đoạn này (trang 35)
Bạn nhận xét như thế nào về thái độ của người kể chuyện trong đoạn này?
Trả lời:
Người kể chuyện tỏ ra vừa thân mật vừa mỉa mai. Ông “thú thật” với độc giả rằng câu chuyện chẳng có gì đặc sắc, nhân vật chỉ ăn uống, đi chơi, yêu đương “chẳng khác gì thiên hạ trong cuộc sống hằng ngày vậy”. Lời tự hạ ấy thực chất là một cách châm biếm: cái tầm thường, vụn vặt của giới thị dân giàu có chính là đối tượng ông muốn phơi bày.
Câu 2 (Dự đoán): Giô định nói gì với A-mê-li-a, vì sao không nói nữa? (trang 36)
Theo bạn, Giô định nói điều gì với cô em gái A-mê-li-a? Vì sao anh ta không nói nữa?
Trả lời:
Theo mạch truyện, nhiều khả năng Giô định tâm sự với em gái về tình cảm của mình dành cho Rê-béc-ca, thậm chí hỏi ý em về chuyện cầu hôn – đó chính là điều bí mật mà cả nhà đang chờ. Anh không nói được vì tính nhút nhát, thiếu quyết đoán, lại hay ngượng ngùng trước người khác; người kể gọi anh là “anh chàng béo ị” không đủ can đảm thổ lộ. Có thể anh cũng e ngại vì Rê-béc-ca vốn thân thiết với em gái anh và chỉ là một cô gái nghèo.
Câu 3 (Suy luận): Những chi tiết này thể hiện Đô-bin là người như thế nào? (trang 37)
Trả lời:
Các chi tiết Đô-bin bị nhờ trông khăn san, đồ đạc, vui lòng ôm mớ khăn quàng, trả vé vào cổng cho mọi người, lặng lẽ đi phía sau để không làm ai mất vui cho thấy anh là người tốt bụng, hiền lành, chu đáo và rất vị tha. Anh nhìn niềm vui của A-mê-li-a “với niềm hân hoan của một người cha”, chấp nhận bị người qua đường cười mà không than phiền. Người kể nhận xét “Uy-li-am Đô-bin không hay tính toán vị kỉ”. Các chi tiết cũng ngầm gợi tình cảm thầm lặng anh dành cho A-mê-li-a.
Câu 4 (Tưởng tượng): Thái độ “ngần ngại và miễn cưỡng một cách vừa đủ” của Rê-béc-ca (trang 39)
Bạn hình dung thế nào về thái độ “ngần ngại và miễn cưỡng một cách vừa đủ” của Rê-béc-ca trước khi nhận quà?
Trả lời:
Em hình dung Rê-béc-ca khẽ lắc đầu, đẩy nhẹ gói quà về phía bạn, nói vài câu từ chối kiểu Mình không dám nhận đâu, mắt hơi rơm rớm. Nhưng sự chối từ ấy được “đo” rất khéo: đủ để tỏ ra tự trọng, không tham lam, đủ để A-mê-li-a càng thương và nài nỉ thêm, rồi cô nhận hết. Cụm từ vừa đủ của người kể như một nụ cười mỉm: nó cho thấy sự ngần ngại kia chỉ là màn diễn có tính toán, không phải tình cảm thật.
Soạn bài Ở Va-xan – Câu hỏi sau khi đọc (trang 40)
Tám câu hỏi sau khi đọc tập trung vào điểm nhìn, cách dẫn truyện, nhân vật, chủ đề và so sánh với đoạn trích Số đỏ cùng bài học.
Câu 1: Xác định điểm nhìn và ý nghĩa của nó (trang 40)
Xác định điểm nhìn trong văn bản trên. Theo bạn, việc sử dụng điểm nhìn này có ý nghĩa như thế nào đối với việc chuyển tải nội dung của văn bản?
Trả lời:
- Điểm nhìn: người kể chuyện có lúc xưng “tôi”, “chúng tôi”, “chúng ta” nhưng không hề là nhân vật tham gia câu chuyện. Đó là người kể toàn tri, đứng ở vị trí của tác giả: biết hết mọi việc, đi vào được suy nghĩ của từng nhân vật (Rê-béc-ca thầm tính “bây giờ hoặc là không bao giờ nữa”, Đô-bin tự cười mình…), lại có thể dừng câu chuyện để bình luận với độc giả.
- Ý nghĩa: giúp nhà văn bao quát nhiều nhân vật, đối chiếu vẻ ngoài với bên trong của họ để lật tẩy sự giả dối; lời bình xen vào tạo giọng mỉa mai đặc trưng và kéo người đọc cùng suy nghĩ, đánh giá.
Câu 2: Người kể chuyện nói gì, nói với ai và tác dụng của cách dẫn truyện (trang 40)
Ở phần văn bản từ đầu đến câu: “Vậy thì chúng ta hãy cùng bước vào trong chiếc xe ngựa với bốn cô cậu ở công viên Rút-xen và thẳng đường đến Va-xan”, người kể chuyện nói về những điều gì và nói với ai? Theo bạn, cách dẫn truyện như vậy có tác dụng gì đối với quá trình đọc của độc giả?
Trả lời:
- Nói với ai: trực tiếp với bạn đọc (gọi “bạn đọc”, “các bạn”, “chúng ta”).
- Nói về điều gì: về chính câu chuyện đang kể: nó bình thường, chỉ xoay quanh một gia đình buôn cổ phiếu; vấn đề cần xét gói gọn trong câu hỏi “Hai người có lấy nhau không? Đó là vấn đề ta đang xét.”; người kể còn bàn về những cách khác có thể kể (lãng mạn, rùng rợn, đặt vào khung cảnh quý tộc) và khẳng định chương Va-xan tuy ngắn nhưng quan trọng.
- Tác dụng: tạo không khí thân mật như một cuộc trò chuyện; khơi tò mò về chương truyện sắp tới; giúp người đọc ý thức rằng câu chuyện do nhà văn lựa chọn, sắp đặt, từ đó suy ngẫm về nghề viết. Lời tự giễu về câu chuyện tầm thường cũng là cách châm biếm chính các nhân vật.
Câu 3: Bảng chi tiết và nét tính cách của các nhân vật (trang 40)
Liệt kê vào bảng sau một số chi tiết, cử chỉ, hành động liên quan đến các nhân vật trong văn bản, từ đó rút ra nét tính cách nổi bật của mỗi nhân vật (làm vào vở). Bảng gồm các nhân vật: Giô, Rê-béc-ca, A-mê-li-a, Gioóc, Đô-bin.
Trả lời:
| Nhân vật | Chi tiết tiêu biểu | Nét tính cách nổi bật |
|---|---|---|
| Giô | Bị cha chê là “phù phiếm, ích kỉ, lười biếng, và đàn bà quá”; định tâm sự với em rồi chỉ thở dài quay đi; bước xuống xe làm đám đông cười ồ, đỏ mặt; kể chuyện Ấn Độ đến lần thứ sáu; say rượu, hôm sau viết thư xin lỗi rồi bỏ đi xa. | Khoe khoang, tự phụ nhưng nhút nhát, thiếu bản lĩnh, ích kỉ, vô trách nhiệm. |
| Rê-béc-ca | Khoác tay Giô như lẽ dĩ nhiên; tiếc vì không có mẹ để thúc Giô ngỏ lời; nghĩ thầm phải khiến Giô ngỏ lời ngay tối ấy; kêu thét, ngã vào tay Giô; thốt lên “Em thèm được sang Ấn Độ quá!”; nhận hết quà sau khi từ chối vừa đủ; hôn tay ông Sét-lây, thề yêu bạn mãi mãi. | Thông minh, khéo léo, giàu tham vọng; giỏi diễn kịch, toan tính, lợi dụng người khác. |
| A-mê-li-a | Ủng hộ anh trai cưới bạn mình; kể bí mật với bà quản gia khiến cả khu phố biết; hớn hở bên Gioóc; khóc nức nở khi đọc thư anh; gom quà, xin cha tiền cho bạn. | Hồn nhiên, ngây thơ, cả tin, nhân hậu, hết lòng với bạn. |
| Gioóc | Thản nhiên giao khăn san, đồ đạc cho Đô-bin trông hộ để đi riêng với A-mê-li-a; chế giễu Giô sau trận say khiến Giô xấu hổ bỏ đi. | Hào hoa nhưng vô tâm, ích kỉ, quen để người khác phục vụ mình, thích giễu cợt. |
| Đô-bin | Ôm mớ khăn quàng, trả vé vào cổng cho mọi người; lặng lẽ đi sau; vui với niềm vui của A-mê-li-a; lẩm nhẩm điệu hát của cô rồi tự cười mình. | Tốt bụng, vị tha, khiêm nhường, chân thành; yêu thầm lặng. |
Câu 4: Chủ đề, thông điệp và cách thể hiện qua chi tiết (trang 40)
Nêu chủ đề và thông điệp chính của văn bản. Chủ đề và thông điệp đó được thể hiện như thế nào qua một số chi tiết mà bạn đã liệt kê?
Trả lời:
- Chủ đề: sự phù phiếm, giả dối và những toan tính tiền bạc, địa vị ẩn sau đời sống sang trọng của giới thị dân Anh đầu thế kỉ XIX, qua câu chuyện hôn nhân hụt của Rê-béc-ca.
- Thông điệp: khi tiền tài và địa vị trở thành thước đo, quan hệ giữa người với người dễ biến thành một màn kịch; người đọc cần tỉnh táo nhìn qua vẻ hào nhoáng, trân trọng lòng tốt chân thật.
- Thể hiện qua chi tiết: Rê-béc-ca coi cuộc hôn nhân như một cơ hội đổi đời, từng cử chỉ (khoác tay, kêu thét, nói muốn sang Ấn Độ) đều có mục đích; Giô chỉ là kẻ giàu mà rỗng, cuộc cầu hôn tan vỡ vì một tiếng chuông và một trận say; cảnh chia tay được người kể gọi là màn kịch giữa “một người thì vô tình, còn một người thì đóng trò tuyệt khéo”. Đối lập với tất cả là Đô-bin – người thật lòng nhưng bị lãng quên, đứng ôm khăn cho người khác vui.
Câu 5: Các phương diện xây dựng nhân vật và nghệ thuật của Thác-cơ-rây (trang 40)
Trong đoạn trích, các nhân vật được xây dựng trên những phương diện nào? Từ đó, bạn có nhận xét gì về nghệ thuật xây dựng nhân vật của Thác-cơ-rây?
Trả lời:
- Ngoại hình: Giô béo phị, bệ vệ, làm chiếc xe kêu cót két, phải thót mình lách qua cổng; A-mê-li-a tươi tắn “y như một cây hồng trong ánh nắng”.
- Hành động, lời nói, nội tâm: Đô-bin ôm khăn rồi tự giễu mình; Rê-béc-ca ngã vào tay Giô, nói muốn sang Ấn Độ, thầm tính toán; lá thư vụng về đầy cớ thoái thác của Giô.
- Cái nhìn của người khác và lời bình của người kể: ông Sét-lây chê con trai; người kể khen A-mê-li-a “khôn ngoan” theo lối nói ngược, gọi Giô là “một con hươu đầu đàn lẫm liệt”.
Nhận xét: Thác-cơ-rây xây dựng nhân vật đa diện, kết hợp nhiều phương diện để chân dung hiện lên sống động như người thật. Ông ít gọi thẳng tên tính cách, để chi tiết tự nói rồi thêm lời bình mỉa mai đúng lúc. Nhân vật được đặt thành từng cặp đối sánh (cô gái nghèo sắc sảo bên cô tiểu thư hiền lành; chàng hào hoa bên anh lính chất phác) nên tính cách càng nổi bật.
Câu 6: Thái độ của người kể chuyện đối với các nhân vật (trang 40)
Bạn có cảm nhận như thế nào về thái độ của người kể chuyện đối với các nhân vật? Từ ngữ, hình ảnh nào trong lời kể của người kể chuyện thể hiện thái độ đó?
Trả lời:
Nhìn chung, người kể có thái độ châm biếm, giễu cợt với sự giả dối, phù phiếm, nhưng mức độ khác nhau với từng người:
- Với Giô: giễu cợt rõ rệt qua các hình ảnh “anh chàng béo ị”, chiếc xe kêu cót két, “một con hươu đầu đàn lẫm liệt”, kể chuyện Ấn Độ “ít nhất là lần thứ sáu”.
- Với Rê-béc-ca: mỉa mai kín đáo: “Mọi sự dường như đều mỉm cười với cái may mắn của Rê-béc-ca.”, sự từ chối quà “vừa đủ”, lời thề yêu bạn “mãi mãi… mãi mãi và mãi mãi”.
- Với A-mê-li-a: vừa thương vừa cười nhẹ trước sự ngây thơ (khen cô “khôn ngoan” khi tán thành hôn sự, cô kể bí mật khiến cả phố biết).
- Với Đô-bin: cảm thông, quý mến: gọi anh là “thực thà”, ghi nhận anh không vị kỉ; chỉ trêu nhẹ chuyện anh hát như cú rúc.
Câu kết “tôi muốn che một tấm màn lên trên cảnh tượng này” cho thấy người kể đã nhìn thấu mọi màn kịch, và chính việc “che lại” là một cách lật tẩy đầy mỉa mai.
Câu 7: Rê-béc-ca dựa vào điều gì để tiến thân? Nhận xét (trang 40)
Văn bản trên cho thấy Rê-béc-ca đã dựa vào điều gì để bắt đầu quá trình tiến thân của mình trong xã hội đô thị thượng lưu Anh? Bạn có nhận xét gì về con đường tiến thân này của cô?
Trả lời:
- Dựa vào: nhan sắc, sự duyên dáng, trí thông minh và tài ứng xử; đặc biệt là khả năng nắm bắt tâm lí, diễn kịch để lấy lòng người khác. Cô lợi dụng tình bạn với A-mê-li-a để được vào nhà Sét-lây và nhắm tới cuộc hôn nhân với Giô – một người đàn ông giàu có – làm bậc thang đầu tiên.
- Nhận xét: cô có ý chí, năng lực và phần nào đáng thông cảm vì nghèo, không chỗ dựa trong một xã hội trọng tiền bạc. Nhưng đó là con đường thiếu chân thành, dựa trên toan tính, coi tình cảm như phương tiện. Thất bại ngay bước đầu báo trước rằng chỗ đứng dựng bằng thủ đoạn luôn bấp bênh. Tác giả vừa phê phán Rê-béc-ca vừa phê phán xã hội đã đẩy con người vào cuộc đua phù hoa ấy.
Câu 8: So sánh nghệ thuật kể chuyện của Vũ Trọng Phụng và Thác-cơ-rây (trang 40)
Nêu một số điểm tương đồng và khác biệt giữa nghệ thuật kể chuyện của Vũ Trọng Phụng trong Hai quan niệm về gia đình và xã hội (trích Số đỏ) và của Thác-cơ-rây trong Ở Va-xan (trích Hội chợ phù hoa).
Trả lời:
Em có thể xem lại bài Soạn bài Hai quan niệm về gia đình và xã hội trước khi so sánh.
| Phương diện | Vũ Trọng Phụng | Thác-cơ-rây |
|---|---|---|
| Điểm tương đồng | Cả hai đều là tiểu thuyết hiện thực trào phúng về đời sống thành thị; nhắm vào thói giả dối, chạy theo tiền bạc, danh vọng của tầng lớp trên; dùng giọng điệu mỉa mai, khai thác sự đối lập giữa vẻ ngoài sang trọng và bản chất rỗng tuếch; đều có nhân vật xuất thân thấp kém leo lên xã hội bằng mánh khóe (Xuân Tóc Đỏ, Rê-béc-ca). | |
| Người kể, điểm nhìn | Ngôi thứ ba, người kể giấu mình, ít khi trực tiếp lên tiếng bình luận. | Người kể xưng “tôi”, “chúng ta”, lộ diện, thường xuyên trò chuyện với độc giả. |
| Cách tạo tiếng cười | Phóng đại, tạo những tình huống, nghịch lí trái khoáy; để nhân vật tự phơi bày qua lời thoại, hành động. | Mỉa mai bằng lời bình xen kẽ, cách nói ngược, so sánh hài hước; cười nhẹ nhàng, thâm thúy hơn. |
Kết luận
Đoạn trích Ở Va-xan cho thấy tài kể chuyện của Thác-cơ-rây: một buổi tối dạo chơi bình thường được biến thành bức tranh thu nhỏ của “hội chợ” tham vọng và giả dối, nơi Rê-béc-ca bắt đầu hành trình tiến thân của mình. Khi soạn bài, em cần nắm điểm nhìn toàn tri và giọng mỉa mai của người kể, cách xây dựng nhân vật qua nhiều phương diện, chủ đề – thông điệp và biết so sánh với cách kể của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ.
Xem thêm: