Viết bài nghị luận về quan niệm yêu nước của tuổi trẻ là mục Viết của Bài 6 Thơ văn Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, tập hai sách Ngữ văn 12 Cánh diều. Đề sách hỏi người trẻ hôm nay hiểu lòng yêu nước ra sao, và cách hiểu ấy giống, khác gì với quan niệm của cha ông. Bạn sẽ tìm thấy ở đây yêu cầu của kiểu bài, dàn ý dùng được cho nhiều hướng viết, mười bài văn mẫu (mỗi bài bàn một biểu hiện riêng: làm tròn phần việc, trung thực, chọn nghề, giữ cây đa giếng làng, mặc Việt phục, tri ân ngày 27/7, du học, ứng xử trên mạng…), những lỗi học sinh hay mắc và mấy gợi ý khi trình bày miệng. Tên người, trường, làng xóm trong các mẫu đều là giả định để minh họa; dữ kiện lịch sử đã được đối chiếu nguồn.

Yêu cầu của kiểu bài nghị luận về quan niệm yêu nước của tuổi trẻ
Đề trong sách (trang 26) có hai vế phải trả lời đủ: thế hệ trẻ hôm nay quan niệm thế nào là yêu nước, và quan niệm ấy giống điểm nào, có gì khác so với quan niệm yêu nước truyền thống. Bài không phải bài ca ngợi chung chung. Người viết phải chọn được những biểu hiện hợp với bối cảnh hôm nay, rồi giải thích vì sao lòng yêu nước vừa cần giữ cái gốc cũ vừa cần mở thêm nội dung mới.
| Tiêu chí | Bài viết đạt khi |
|---|---|
| Luận đề | Nói rõ ngay đầu bài mình hiểu yêu nước của người trẻ là gì; tốt nhất là một ý hẹp, cụ thể (yêu nước là trung thực, là chọn nghề, là kiểm chứng tin trước khi chia sẻ…). |
| Giống và khác | Chỉ ra được cái gốc không đổi (gắn bó với đất nước, đặt cái chung lên trên, sẵn sàng khi đất nước cần) và cái đổi khác (hình thức, thước đo, phạm vi, những thách thức mới). |
| Thao tác chứng minh | Bài học này rèn thao tác chứng minh: mỗi luận điểm cần bằng chứng có thật, kiểm lại được (sự kiện lịch sử, văn bản đã học, việc đang diễn ra quanh mình). Không bịa số liệu, không gán câu nói trên mạng cho danh nhân. |
| Liên hệ bài học | Dùng được văn bản trong Bài 6 hoặc văn bản đã học về lòng yêu nước, nhưng dẫn vừa phải, để phục vụ luận điểm chứ không thay luận điểm. |
| Đối thoại | Nêu được cách hiểu lệch (yêu nước bằng khẩu hiệu, bằng công kích, coi yêu nước là việc của người khác) và phản bác bằng lí lẽ điềm tĩnh. |
| Cảm xúc, trải nghiệm | Có thái độ rõ ràng và có chút trải nghiệm riêng; giọng người trẻ nói thật, không hô hào. |
Dàn ý bài nghị luận về quan niệm yêu nước của tuổi trẻ
1. Mở bài
– Dẫn vào từ một tình huống, một việc đang diễn ra hoặc một văn bản trong Bài 6.
– Nêu luận đề: người trẻ hôm nay hiểu yêu nước là gì (một ý chính), và cách hiểu ấy vừa tiếp nối vừa khác quan niệm truyền thống.
2. Thân bài
a. Giải thích
+ Yêu nước là gì: tình cảm gắn bó với đất nước, con người, văn hóa; ý thức trách nhiệm và hành động vì cái chung.
+ Quan niệm truyền thống: gắn với giữ nước, chống ngoại xâm, sẵn sàng hi sinh; tiêu biểu là những gì đã học về Hồ Chí Minh và các thế hệ cha ông.
b. Quan niệm của người trẻ hôm nay (hai đến ba luận điểm, mỗi luận điểm có lí lẽ đi kèm bằng chứng)
+ Yêu nước bằng việc mình làm: học thật, làm nghề tử tế, chọn đứng ở nơi đất nước cần.
+ Yêu nước bằng ý thức công dân: trung thực, tôn trọng pháp luật, giữ văn hóa, ứng xử tỉnh táo trên mạng.
+ Yêu nước trong thế giới mở: học từ bên ngoài, đóng góp từ bất cứ đâu, vẫn giữ mình là người Việt.
c. So sánh giống và khác
+ Giống: cái gốc tình cảm, tinh thần đặt cái chung lên trên, sự sẵn sàng khi Tổ quốc cần.
+ Khác: hình thức (trước là cầm súng, nay chủ yếu là xây dựng), thước đo (từ lòng dũng cảm sang chất lượng công việc), thách thức (nghèo, lạc hậu, thiên tai, tin giả, sự cẩu thả).
d. Bàn luận mở rộng
+ Phê phán biểu hiện lệch: yêu nước bằng lời, bằng công kích, coi yêu nước là chuyện thời chiến.
+ Rút ra việc người trẻ có thể làm ngay.
3. Kết bài
– Khẳng định lại quan niệm của mình bằng một câu gọn.
– Liên hệ bản thân hoặc kết bằng một hình ảnh đã dùng ở mở bài.
Mẹo nhỏ khi lập dàn ý: đừng tách hẳn phần so sánh giống – khác ra cuối bài như một phụ lục. Bài sẽ chặt hơn nếu mỗi luận điểm về hôm nay đều tự soi lại với truyền thống ngay trong đoạn ấy.
Yêu nước bằng phần việc của mình
Năm bài dưới đây đi từ phiên bản bài thi đầy đủ đến những bài ngắn chỉ bám một biểu hiện. Mẫu 1 bám sát nhất đề trong sách, có phần so sánh giống và khác.
Mẫu 1: Yêu nước thời bình là làm tròn phần việc của mình (bài thi 90 phút)
Bài làm trong giờ kiểm tra 90 phút, đề theo sách Cánh diều.
Câu hỏi của đề nghe thì dễ, vì chẳng ai trong lớp tôi nói mình không yêu nước. Cái khó nằm ở chỗ khác: lòng yêu nước của một người mười tám tuổi, sống giữa thời bình, không có tiếng súng nào gọi ra trận, thì trông như thế nào? Sau nhiều lần tự hỏi, tôi nghĩ câu trả lời gần nhất là thế này: với người trẻ hôm nay, yêu nước trước hết là làm tròn, làm tốt phần việc của mình, và làm nó với ý thức rằng phần việc ấy nối vào một việc chung lớn hơn.
Muốn thấy cái mới thì phải nhìn lại cái cũ. Trong văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, trích từ bản Báo cáo Chính trị Bác đọc ở Đại hội lần thứ hai của Đảng năm 1951, Hồ Chí Minh mở đầu bằng một nhận định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta.” Người viết ra câu ấy giữa cuộc kháng chiến, khi yêu nước có nghĩa cụ thể là ra trận, là góp gạo nuôi quân, là chịu đựng gian khổ. Nhưng trong cùng văn bản, Bác còn ví tinh thần yêu nước như những thứ của quý: có khi bày ra cho ai cũng thấy, có khi cất kín trong rương, trong hòm, và việc của chúng ta là đưa những của quý cất giấu ấy ra trưng bày, nghĩa là biến tình cảm thành việc làm. Theo tôi, đó là chỗ nối giữa hai thế hệ. Lòng yêu nước chưa bao giờ chỉ là cảm xúc. Nó phải được nhìn thấy trong việc làm.
Ở thời chiến, việc làm ấy có hình dạng rõ ràng vì kẻ thù có hình dạng rõ ràng. Ở thời bình, kẻ thù khó gọi tên hơn: cái nghèo, sự lạc hậu, thiên tai, thói làm ẩu, thói gian dối. Không ai có thể đứng một mình chống lại những thứ ấy. Chúng chỉ lùi dần khi hàng triệu người, mỗi người làm cho tử tế cái phần nhỏ của mình. Người kĩ sư tính đúng tải trọng cây cầu, người nông dân không phun thuốc quá liều trên ruộng rau, người học sinh làm bài kiểm tra bằng sức mình: những việc ấy không có cờ hoa, nhưng chính chúng làm cho đất nước vững hơn mỗi ngày.
Tôi từng gặp một người như vậy trong chuyến đi thực tế của lớp lên vùng cao. Chú Lèng Văn Sính trông coi một trạm đo mưa nhỏ ở đầu bản. Mỗi sáng và mỗi chiều, chú ra đọc lượng nước trong ống đo, ghi vào sổ rồi gọi điện báo số liệu về trạm khí tượng của tỉnh. Chú làm việc đó đã hơn mười năm, kể cả những đêm mưa to phải đội áo mưa đi giữa đường trơn. Chú bảo những con số ấy nhập vào bản tin cảnh báo lũ quét, nhờ đó các bản phía dưới biết mà sơ tán sớm. Chú không bao giờ nói đến hai chữ yêu nước. Nhưng nếu phải chỉ cho ai đó thấy lòng yêu nước thời bình trông ra sao, tôi sẽ đưa họ xem cuốn sổ ghi mưa của chú, nét chữ đều đặn qua từng trang, không bỏ sót một ngày.
Như vậy, so với quan niệm truyền thống, quan niệm của người trẻ hôm nay vừa giống vừa khác. Giống ở cái gốc: vẫn là tình gắn bó với đất nước, vẫn là tinh thần đặt cái chung lên trên lợi ích riêng, và vẫn là sự sẵn sàng có mặt khi Tổ quốc cần, như cách thanh niên lên đường làm nhiệm vụ, xung phong vào vùng lũ hay vùng dịch. Khác ở hình thức và thước đo. Ngày trước, người ta đo lòng yêu nước bằng lòng dũng cảm trước kẻ thù. Bây giờ, thước đo còn là chất lượng: làm có đến nơi đến chốn không, có trung thực không, có làm cho người khác yên tâm không. Lòng yêu nước của thời bình ít kịch tính hơn, nhưng đòi sự bền bỉ lâu dài hơn.
Có bạn sẽ hỏi: nói yêu nước là làm tròn phần việc của mình, liệu có biến lòng yêu nước thành một thứ an phận, ai lo phận nấy? Tôi nghĩ không. Một phần việc làm cho đúng nghĩa luôn có người khác ở đầu kia: số liệu của chú Sính có người dân dưới xuôi chờ, bài làm trung thực của tôi có một kì thi công bằng chờ. Người chỉ lo cho mình thì làm vừa đủ để khỏi bị phạt. Người yêu nước làm cho đủ tốt để người khác có thể tin. Hơn nữa, làm tròn phần việc thường ngày không loại trừ những lúc phải bước ra khỏi nó. Chính người quen làm việc tử tế mỗi ngày lại là người đáng tin nhất khi có biến cố.
Với học sinh, phần việc của mình chưa lớn lao gì. Đó là học cho thật, không chép bài, không dựa dẫm bạn trong bài tập nhóm, giữ gìn cái sân trường chung, làm đến cùng một việc đã nhận ở chi đoàn. Những việc ấy tầm thường đến mức dễ bị coi nhẹ. Nhưng thói quen làm tử tế những việc nhỏ ở tuổi mười tám sẽ thành cách làm nghề ở tuổi ba mươi.
Tôi nộp bài này khi chưa biết sau này mình sẽ làm nghề gì. Chỉ biết rằng, dù làm gì, tôi muốn có một cuốn sổ của riêng mình, như cuốn sổ ghi mưa ở đầu bản: không ai đọc nó trên loa, nhưng ghi đúng từng ngày.
Mẫu 2: Yêu nước bắt đầu từ chữ trung thực (bài cho tập san lớp)
Bài viết cho số tập san chủ đề Tuổi mười tám và đất nước của lớp.
Hai mươi ba giờ đêm trước buổi kiểm tra cuối kì, nhóm chat của lớp hiện lên một tin nhắn: có người bán đề và đáp án môn Hóa, chuyển khoản là gửi ngay. Mấy phút sau, ba bạn thả biểu tượng hỏi giá. Tăng Hải Âu, lớp phó học tập, chỉ gõ một dòng: đừng ai mua, nếu là thật thì đó là ăn cắp, nếu là giả thì đó là lừa. Sáng hôm sau, đề thi khác hoàn toàn với tờ đáp án đã lan đi. Chuyện chỉ có vậy, nhưng nó khiến tôi nghĩ đến một điều lớn hơn bài kiểm tra Hóa: người trẻ yêu nước, trước hết, phải là người trung thực.
Nghe thì có vẻ xa nhau. Yêu nước gợi đến lá cờ, những trang sử, những người ngã xuống. Trung thực gợi đến bài kiểm tra, tờ hóa đơn, lời hứa. Nhưng thử nghĩ xem một đất nước được làm nên từ đâu. Nó được làm nên từ niềm tin: người dân tin tấm bằng bác sĩ là thật, tin cây cầu được xây đúng thiết kế, tin con số báo cáo không bị tô vẽ. Mỗi lần gian lận là một lần rút bớt một viên gạch trong bức tường niềm tin ấy. Gian lận ở đâu, đất nước yếu đi ở đó.
Gian lận thi cử là chỗ bắt đầu dễ nhất, vì nó có vẻ vô hại. Điểm số là của mình, người bị thiệt có vẻ là chính mình. Thật ra, mỗi điểm số gian lận chiếm chỗ của một người làm bài thật. Một kì thi mà nhiều người gian lận thì cả kì thi mất giá trị, và người chịu thiệt là những bạn đã thức khuya học thật. Lớn hơn thế, người quen gian lận ở tuổi mười bảy rất dễ coi việc làm giả hồ sơ ở tuổi hai mươi lăm là bình thường: một chứng chỉ ngoại ngữ mua sẵn, một bản kê khai sai, một giấy xác nhận đi làm không có thật. Đến khi người ấy đứng trong một công trình, một bệnh viện, một cơ quan, cái giả ấy không còn là chuyện riêng nữa.
So với cha ông, cách nói này có vẻ lạ. Ngày trước không ai cần dặn nhau rằng yêu nước là không quay cóp. Nhưng nghĩ kĩ thì cái gốc vẫn vậy: yêu nước là đặt cái chung lên trên cái lợi trước mắt của mình. Người lính ngày xưa không bỏ vị trí khi không ai nhìn thấy. Người trẻ hôm nay không gian lận khi giám thị quay đi. Hai việc khác nhau về mức độ hi sinh, nhưng cùng một phẩm chất: giữ đúng điều mình cam kết, kể cả khi làm sai thì chẳng ai biết.
Sẽ có người cho rằng như vậy là đẩy chuyện nhỏ lên quá cao, rằng ai mà chưa từng liếc bài bạn một lần. Tôi không định kết tội ai. Tôi chỉ nghĩ, nếu ta hạ thấp sự trung thực xuống thành chuyện vặt, ta sẽ không bao giờ thấy mình có lỗi với đất nước khi làm điều gian. Gọi đúng tên nó là bước đầu để thôi làm nó.
Cuối học kì, Hải Âu được điểm Hóa không cao bằng mấy bạn khác. Bạn ấy không tiếc. Bạn bảo, ít nhất điểm số này là chữ kí của tớ. Tôi muốn mượn câu đó cho cả lớp mình: mỗi việc ta làm ra là một chữ kí, và đất nước được dựng nên từ những chữ kí thật.
Mẫu 3: Yêu nước không phải chuyện của riêng thời chiến và của người lớn (bài ngắn)
Trong giờ sinh hoạt lớp, khi cô giáo chủ nhiệm đưa ra chủ đề lòng yêu nước của tuổi trẻ, một bạn nói thẳng: yêu nước là chuyện của thời chiến, còn bây giờ là việc của người lớn, của những người có chức có quyền; học sinh thì cứ học cho xong đã. Cả lớp im một lúc. Câu nói ấy thật lòng, và có lẽ nhiều bạn cũng nghĩ thế. Nhưng tôi không đồng ý.
Trước hết, lịch sử cho thấy yêu nước chưa bao giờ đợi người ta lớn. Những thanh niên mười tám, đôi mươi đã đi qua các cuộc kháng chiến ở tuổi chúng tôi bây giờ: người lái xe trên những cung đường bị đánh phá, người mở đường, người làm giao liên, có những cô gái chưa kịp mặc chiếc áo cưới. Yêu nước, ngay từ đầu, đã là chuyện của tuổi trẻ.
Thứ hai, thời bình không làm lòng yêu nước biến mất. Nó chỉ đổi việc. Khi không phải cầm súng, đất nước cần người học giỏi, làm giỏi, sống tử tế. Những việc ấy không ai làm hộ được cho mình, cũng không thể để dành đến khi lớn mới bắt đầu. Người hai mươi lăm tuổi làm nghề cẩn thận là người đã học cẩn thận từ năm mười sáu.
Thứ ba, đẩy lòng yêu nước cho người lớn là một cách tự miễn trách nhiệm. Chúng tôi chưa có chức quyền, nhưng có những việc rất cụ thể: đi bầu cử khi đủ tuổi, không xả rác ra bờ sông, không chia sẻ tin chưa kiểm chứng, đỡ đần một bạn học yếu hơn. Đó là những phần việc vừa sức, và chính vì vừa sức nên không có lí do gì để không làm.
Cũng phải nói thêm rằng ý kiến kia có một chỗ dễ hiểu. Khi nghe đến hai chữ yêu nước, nhiều bạn hình dung ngay những việc to lớn mà sức mình không với tới: ra trận, hi sinh, lãnh đạo. Thấy mình chưa làm được những việc ấy, các bạn nghĩ chuyện yêu nước chưa đến lượt mình. Cái sai không nằm ở tình cảm mà nằm ở hình dung. Lòng yêu nước của cha ông cũng được làm nên từ vô số việc nhỏ: người góp một nắm gạo, người khâu một tấm áo, người dạy một lớp bình dân học vụ buổi tối. Không phải ai cũng đứng ở tuyến đầu, nhưng ai cũng góp phần mình.
Bạn tôi nói đúng một điều: học sinh nên học cho tốt. Tôi chỉ muốn nói thêm rằng học cho tốt, học cho thật, đã là một cách yêu nước rồi. Vậy thì yêu nước không phải để dành cho mai sau. Nó đang ở trong giờ học sáng nay, trong cái cách chúng ta ngồi vào bàn và làm bài bằng sức của chính mình.
Mẫu 4: Dùng hàng Việt có phải là yêu nước? (bài ngắn)
Đôi dép tôi mua ở hội chợ hàng Việt đứt quai sau ba tuần. Tôi đã mua nó một phần vì tấm băng rôn ghi người Việt dùng hàng Việt treo ngay trên quầy. Hôm cầm đôi dép hỏng, tôi tự hỏi: vậy mua nó có phải là yêu nước không?
Trước khi trả lời, cần hiểu cho đúng. Hàng Việt ở đây là hàng do người Việt, doanh nghiệp Việt làm ra, từ đôi dép, gói mì đến phần mềm, chiếc xe máy. Dùng hàng Việt là ưu tiên chọn những sản phẩm ấy khi chất lượng và giá cả tương đương. Câu khẩu hiệu ấy có lí do chính đáng. Khi người tiêu dùng chọn hàng sản xuất trong nước, tiền quay về với người lao động, xưởng sản xuất có thêm đơn hàng, nghề có thêm người theo. Một nền sản xuất muốn lớn lên thì cần thị trường trong nước làm chỗ dựa đầu tiên. Ủng hộ hàng Việt, vì thế, là một cách góp tay rất thiết thực.
Nhưng nếu ai cũng mua hàng kém chỉ vì khẩu hiệu, chính người làm ra hàng kém sẽ không bao giờ phải cố gắng. Lòng yêu nước không nên bị biến thành tấm lá chắn cho sự cẩu thả. Người tiêu dùng có quyền đòi hỏi chất lượng, và đòi hỏi ấy cũng là một cách giúp hàng Việt mạnh lên. Một lời góp ý thẳng thắn gửi cho nhà sản xuất, một đánh giá trung thực trên trang bán hàng, có ích hơn nhiều so với việc lặng lẽ mua rồi lặng lẽ bỏ đi. Thương hàng Việt mà không dám chê hàng Việt thì cũng giống như thương con mà không dám dạy.
Vì thế, tôi nghĩ phần lớn của chữ yêu nước trong chuyện này nằm ở phía người làm ra sản phẩm. Chị Diêm Thị Hồi, người quen của mẹ tôi, có một xưởng nhỏ làm dép da. Chị kể đã có lần cả lô hàng phải làm lại vì đường may không đều, lỗ mất cả tháng lương thợ. Chị bảo, hàng ghi chữ làm tại Việt Nam thì không được để người ta mua một lần rồi thôi. Thợ trong xưởng chị phần lớn là người trong xã, có cả những bạn chỉ hơn tôi vài tuổi, nghỉ học sớm rồi vào học nghề. Mỗi đôi dép làm cẩn thận, với chị, vừa là uy tín của xưởng vừa là bát cơm của những người thợ ấy.
So với ông bà mình, cách hiểu này có chỗ khác. Thời bao cấp, thời chiến tranh, người ta dùng hàng trong nước phần nhiều vì không có lựa chọn nào khác. Bây giờ hàng ngoại bày đầy kệ, việc chọn hàng Việt trở thành một quyết định có ý thức. Và chính vì là một quyết định, nó cần được đặt trên sự hiểu biết chứ không chỉ trên cảm xúc.
Dùng hàng Việt là một lựa chọn đáng trân trọng khi nó đi cùng sự tỉnh táo. Còn làm ra hàng Việt tốt đến mức người mua không cần khẩu hiệu nào nữa, đó mới là yêu nước theo cách khó nhất.
Mẫu 5: Chọn nghề như một cách yêu nước (bài luận hướng nghiệp)
Bài luận nộp cho buổi tư vấn hướng nghiệp của trường, câu hỏi gợi ý: nghề bạn chọn nói gì về con người bạn?
Tờ phiếu đăng kí nguyện vọng của tôi có một dòng tôi đã viết đi viết lại ba lần: ngành Y đa khoa. Bố mẹ hỏi vì sao không chọn ngành dễ kiếm việc ở thành phố hơn. Tôi chưa trả lời được trọn vẹn. Bài luận này là câu trả lời dài nhất mà tôi có thể viết lúc này, và nó bắt đầu từ một ý mà trước đây tôi chưa bao giờ đặt cạnh chuyện chọn nghề: lòng yêu nước.
Khi nghĩ đến yêu nước, ta thường nghĩ đến những thời khắc lớn. Nhưng phần lớn đời người không diễn ra trong những thời khắc lớn. Nó diễn ra trong tám tiếng làm việc mỗi ngày, suốt ba, bốn mươi năm. Một người dành phần lớn đời mình cho một nghề thì nghề ấy chính là chỗ người đó góp vào đất nước nhiều nhất. Chọn nghề, vì thế, không chỉ là chọn một mức lương. Nó là chọn cách mình có mặt trong đời sống chung.
Tôi hiểu điều đó qua chị Đồng Thu Phượng, chị họ tôi. Học xong y, chị xin về làm ở trung tâm y tế một vùng núi cách nhà gần ba trăm cây số. Lần đầu về thăm nhà, chị kể chuyện đỡ một ca sinh khó lúc nửa đêm, đường chuyển viện lên tuyến trên mất bốn tiếng, chị và một y sĩ lớn tuổi phải tự xoay xở. Mẹ con người sản phụ an toàn. Chị nói câu ấy rất bình thản, nhưng tôi nhớ mãi cái cách chị dừng lại một chút trước khi nói hai chữ an toàn.
Những người như chị không hề ít. Bộ Y tế đã triển khai Dự án 585, đưa bác sĩ trẻ tình nguyện về công tác ở miền núi, vùng sâu, vùng xa và những nơi đặc biệt khó khăn. Báo chí đã kể về những bác sĩ trẻ từ bệnh viện tuyến trung ương về các trung tâm y tế miền núi, trực tiếp mổ cấp cứu, kèm cặp đồng nghiệp tại chỗ, để người bệnh không phải vượt hàng trăm cây số chuyển lên tuyến trên. Có lẽ không ai trong số họ gọi việc mình làm là yêu nước. Họ chỉ nói đến người bệnh.
So với cha ông, cách yêu nước này khác ở chỗ nó là một lựa chọn cá nhân, không có lệnh tổng động viên nào. Người trẻ hôm nay được tự do chọn nghề, chọn nơi làm việc. Chính vì được tự do, lựa chọn đứng ở nơi khó khăn lại càng có ý nghĩa. Nhưng nó cũng giống cha ông ở một điểm cốt lõi: nhìn thấy nơi đất nước đang thiếu và tự nguyện lấp vào chỗ thiếu ấy. Ngày trước, chỗ thiếu là chiến trường. Bây giờ, chỗ thiếu có thể là một trạm y tế không có bác sĩ sản khoa, một trường học vùng cao thiếu giáo viên tiếng Anh, một vùng đồng bằng cần kĩ sư thủy lợi.
Tôi cũng không muốn lãng mạn hóa. Có những bạn chọn ngành vì thu nhập, vì gia đình cần, và đó không phải tội. Một kĩ sư phần mềm làm việc ở thành phố, làm ra sản phẩm tốt, đóng thuế đầy đủ, cũng đang góp vào đất nước. Yêu nước qua nghề nghiệp không bắt ai cũng phải lên vùng cao. Nó chỉ đòi hỏi hai điều: làm nghề cho giỏi và cho sạch, và đừng bao giờ coi người cần mình là một con số trong bảng thu nhập.
Còn với riêng tôi, tôi biết đường học y rất dài, sáu năm đại học rồi còn nội trú, chuyên khoa. Tôi chưa dám hứa sẽ về vùng núi như chị Phượng. Nhưng tôi muốn chọn nghề này với một câu hỏi để trong túi: ở đâu người ta cần một bác sĩ nhất? Tôi muốn sau này, khi đã đủ tay nghề, vẫn còn đủ can đảm để trả lời câu hỏi ấy thật lòng.
Vì thế, dòng chữ trên tờ phiếu nguyện vọng của tôi không đổi. Đó là lời hẹn đầu tiên tôi viết cho chính mình.
Yêu nước từ quê nhà, kí ức và văn hóa
Ba bài tiếp theo đi theo hướng của Ê-ren-bua và của những bài học về truyền thống: lòng yêu nước lớn lên từ những thứ gần gũi, từ việc giữ lại và nhớ ơn.
Mẫu 6: Từ cây đa, giếng nước đầu làng đến lòng yêu Tổ quốc (bài dự thi)
Bài dự thi viết Quê hương trong tôi do Đoàn trường tổ chức (giả định).
Trong bản vẽ mở rộng con đường liên thôn mà ủy ban xã dán ở nhà văn hóa, cái giếng đá đầu làng tôi được đánh dấu bằng một chấm đỏ nhỏ, bên cạnh ghi hai chữ san lấp. Cây đa cạnh giếng cũng nằm trong khoanh vẽ. Ngụy Hoài Sa, bạn cùng lớp tôi, đứng nhìn tờ giấy rất lâu rồi rủ tôi và Tiết Đăng Viễn ở lại họp nhóm. Ba đứa không biết gì về quy hoạch. Chúng tôi chỉ biết mình không muốn mất cái giếng. Mùa hè năm ấy dạy tôi hiểu một câu văn tôi từng học thuộc mà chưa hiểu hết.
Trong bài Lòng yêu nước, nhà văn Nga I-li-a Ê-ren-bua cho rằng tình yêu đất nước khởi đi từ những vật nhỏ bé, quen thuộc quanh mình, và viết: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc.” Hồi lớp sáu, tôi chép câu ấy vào vở như một câu hay. Đến khi đứng trước nguy cơ mất cái giếng, tôi mới thấy nó đúng theo nghĩa đen. Tôi không yêu một Tổ quốc trừu tượng trên bản đồ. Tôi yêu Tổ quốc qua cái giếng mà bà tôi kể ngày xưa cả xóm gánh nước ăn, qua gốc đa nơi lũ trẻ chúng tôi trốn nắng, qua cái miếu nhỏ mà ông cụ Ước sáng nào cũng thắp hương.
Nhóm chúng tôi bắt đầu bằng việc hỏi chuyện các cụ. Cụ Ước, gần chín mươi tuổi, kể cái giếng do dân làng góp đá xây lại sau một trận lụt lớn, mỗi nhà một gánh đá ong. Cụ nhớ cả tên những nhà đã góp. Hoài Sa ghi âm, Đăng Viễn chụp ảnh, còn tôi đo kích thước giếng và đường kính thân cây. Chúng tôi viết một bản đề nghị gửi ủy ban xã, kèm ảnh, lời kể của các cụ và một phương án: nắn con đường lệch sang phía bờ ruộng khoảng ba mét. Phương án ấy do một bác kĩ sư trong làng giúp vẽ lại.
Tôi kể chuyện này không phải để khoe một chiến thắng nhỏ. Kết quả cuối cùng còn chờ xã quyết định, và tôi hiểu việc làm đường cũng là để làng tốt hơn. Điều tôi muốn nói là: lòng yêu nước ở tuổi chúng tôi thường bắt đầu như thế, từ một nơi chốn cụ thể mà mình không muốn mất. Người không biết thương cái giếng làng mình khó mà thương một dòng sông ở đầu kia đất nước.
Ở điểm này, tôi thấy quan niệm của cha ông và của chúng tôi gặp nhau. Những người lính ngày trước ra trận cũng mang theo hình ảnh làng mình: lũy tre, bến nước, mái đình. Lòng yêu nước của họ có gốc rễ ở đó. Chỉ khác là họ phải bảo vệ làng khỏi bom đạn, còn chúng tôi phải giữ làng khỏi sự lãng quên, khỏi cách nghĩ coi mọi thứ cũ đều nên dẹp bỏ cho tiện.
Nhưng cũng cần tỉnh táo. Yêu làng xóm không có nghĩa là bám lấy mọi thứ cũ và chống lại mọi thay đổi. Nếu cái giếng không còn ai dùng và con đường cứu được nhiều người đi lại an toàn hơn, thì giữ nó bằng mọi giá cũng là một kiểu cục bộ. Thứ chúng tôi đề nghị không phải là đừng làm đường, mà là làm đường mà không xóa trí nhớ của làng. Lòng yêu quê hương lành mạnh là lòng yêu biết lắng nghe, biết tìm cách cho cả cái cũ và cái mới cùng sống.
Ê-ren-bua viết câu văn ấy trong một hoàn cảnh khác hẳn, khi đất nước của ông đang có chiến tranh. Vậy mà câu văn vẫn đúng ở làng tôi, giữa thời bình. Có lẽ vì gốc của lòng yêu nước ở đâu cũng giống nhau: nó bắt đầu từ những thứ ta có thể chạm tay vào.
Hôm nộp bản đề nghị, Hoài Sa đề xuất làm thêm một tấm biển gỗ nhỏ đặt dưới gốc đa, ghi năm xây lại giếng và tên những nhà đã góp đá theo lời cụ Ước. Tấm biển chưa làm xong. Nhưng tôi đã nghĩ sẵn dòng cuối: ở đây, người làng đã góp từng gánh đá.
Mẫu 7: Mặc Việt phục: yêu văn hóa hay chạy theo trào lưu? (bài cho bản tin văn hóa)
Bài viết cho chuyên mục Góc nhìn trẻ của bản tin câu lạc bộ di sản trong trường.
Cuối tuần trước, ở cổng một di tích cổ trong thành phố, tôi đếm được ít nhất sáu nhóm bạn trẻ mặc áo ngũ thân, áo giao lĩnh, đội khăn vấn đứng chụp ảnh. Có nhóm mang theo cả quạt giấy, ô lọng. Bạn tôi, Vương Kiều Oanh, bảo đó là một tín hiệu đáng mừng: người trẻ đang yêu lại văn hóa dân tộc. Kha Bảo Hiển, đứng cạnh, nhún vai: chỉ là trào lưu chụp ảnh, mai có mốt khác thì cũng cất tủ. Cả hai đều có lí, và chính vì thế, câu chuyện đáng bàn.
Tôi nghiêng về phía Kiều Oanh, nhưng với một điều kiện. Mặc Việt phục, phục dựng hoa văn cổ, theo tôi, là một biểu hiện của lòng yêu nước theo cách của người trẻ hôm nay, khi nó đi kèm với sự tìm hiểu. Cha ông giữ nước bằng việc giữ đất, giữ biên cương. Nhưng bên cạnh đất đai, một dân tộc còn có một thứ lãnh thổ khác: tiếng nói, phong tục, áo mặc, cách trang trí một mái đình. Mất lãnh thổ ấy, người ta vẫn có một nơi để ở, nhưng không còn biết mình là ai. Người trẻ chịu bỏ thời gian tìm hiểu một kiểu cổ áo, một mô típ hoa văn trên gốm, rồi làm sống lại nó trên trang phục, là đang góp phần giữ thứ lãnh thổ ấy.
Điều đáng quý nhất tôi thấy ở nhiều nhóm phục dựng là sự cẩn thận. Họ đọc tài liệu, xem hiện vật trong bảo tàng, hỏi những người nghiên cứu, cãi nhau cả tuần về việc một kiểu áo thuộc thời nào. Sự cẩn thận ấy chính là tình yêu. Ai cũng có thể nói mình yêu văn hóa dân tộc. Chỉ người thật sự yêu mới chịu mất công tìm cho đúng.
Bảo Hiển cũng nói đúng một phần. Có những bộ ảnh mà Việt phục chỉ là đạo cụ: áo may sai kiểu, phối với phụ kiện của một nền văn hóa khác, tạo dáng ở những nơi không nên tạo dáng, có khi trèo cả lên bệ thờ cho đẹp góc máy. Khi ấy, trang phục truyền thống bị dùng như một món đồ hóa trang, và di tích bị dùng như một phông nền. Đó không phải là yêu văn hóa, mà là tiêu dùng văn hóa.
Ranh giới giữa hai điều ấy, theo tôi, không nằm ở chỗ có chụp ảnh hay không. Chụp ảnh đẹp là một cách lan tỏa rất hiệu quả, nhiều bạn trẻ bắt đầu tò mò về áo xưa chỉ nhờ một bức ảnh. Ranh giới nằm ở câu hỏi: sau bức ảnh, người mặc còn lại gì? Có biết tên chiếc áo mình mặc không, có biết nó gắn với dịp nào, có cư xử đúng mực ở nơi thờ tự không?
Lòng yêu nước qua văn hóa, ở điểm này, vừa tiếp nối vừa khác truyền thống. Tiếp nối ở ý thức giữ gìn cái của dân tộc mình. Khác ở chỗ người trẻ không chỉ giữ, mà còn làm mới, đưa áo xưa vào lễ tốt nghiệp, đưa hoa văn cổ vào thiết kế đồ họa, để văn hóa không nằm yên trong tủ kính.
Vậy, gửi những bạn chuẩn bị khoác áo ngũ thân cho bộ ảnh cuối năm: trước khi bấm máy, bạn đã kịp tìm hiểu chiếc áo mình đang mặc chưa?
Mẫu 8: Yêu nước là biết ơn: một đêm thắp nến tri ân (bài báo tường)
Bài viết cho báo tường chi đoàn số tháng Bảy.
Hộp nến chi đoàn mua về có hai trăm cây. Chúng tôi chia nhau mang lên khu mộ liệt sĩ của phường vào tối trước ngày 27/7, mỗi người một túi. Tôi tưởng việc ấy chỉ mất một tiếng. Hóa ra mất gần cả buổi tối, vì giữa chừng có một ông cụ đến ngồi cạnh chúng tôi, và chúng tôi ngồi nghe ông kể chuyện.
Ông là ông Triệu Văn Đạo, cựu binh, năm nay đã ngoài bảy mươi. Ông không kể trận đánh nào. Ông kể chuyện người bạn cùng đơn vị, hai người hứa với nhau ai về được thì ghé thăm mẹ người kia. Ông về được. Ông đi tìm nhà bạn mất mấy năm trời, đến khi tìm ra thì mẹ bạn đã mất. Ông cắm một nén hương, rồi từ đó năm nào cũng về ngôi làng ấy vào tháng Bảy. Kể xong, ông đứng dậy, lau mấy tấm bia gần nhất bằng cái khăn mang theo, như người ta lau bàn thờ nhà mình.
Ngày 27/7 được chọn làm ngày tri ân từ năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp còn đang diễn ra. Gần tám mươi năm sau, ngày ấy vẫn nhắc người Việt một điều mà cha ông đã đặt thành đạo lí: uống nước nhớ nguồn. Theo tôi, biết ơn là một phần không tách rời của lòng yêu nước. Người ta không thể yêu một đất nước mà lại thờ ơ với những người đã đổi cả tuổi trẻ để đất nước có hôm nay.
Thế hệ chúng tôi không đi qua chiến tranh, nên lòng biết ơn dễ trở thành nghi thức: một buổi thắp nến, một tấm ảnh đăng lên mạng, rồi thôi. Tôi không chê nghi thức. Nghi thức giữ cho ta không quên. Nhưng tối hôm ấy, ông Đạo dạy chúng tôi một kiểu biết ơn khác: biết ơn là giữ lời. Ông giữ lời với một người bạn đã khuất suốt mấy chục năm. Còn chúng tôi, giữ lời với những người nằm đây bằng cách nào? Có lẽ bằng cách sống sao cho xứng với cái giá họ đã trả: không phung phí hòa bình vào những việc vô nghĩa, không làm điều gì khiến mình xấu hổ nếu họ nhìn thấy.
Lòng biết ơn còn được đo bằng việc làm. Chi đoàn đã bàn sẽ nhận chăm sóc một dãy mộ không có người thân đến viếng, mỗi tháng một lần. Một bạn đề nghị ghi lại lời kể của các cựu binh trong phường trước khi những câu chuyện ấy mất đi.
Lúc chúng tôi thu dọn, ông Đạo nói một câu, không với riêng ai: các cháu thắp nến thì nhớ thắp cả cho mình, để còn biết đường mà đi.
Yêu nước trong một thế giới mở
Hai bài cuối bàn những câu hỏi mà thế hệ trước gần như không phải đặt ra: yêu nước khi sống xa đất nước, và yêu nước trên không gian mạng.
Mẫu 9: Du học rồi ở lại nước ngoài có còn là yêu nước? (bài tranh luận hai phía)
Bài viết cho chuyên mục Hai phía của câu lạc bộ tranh biện, kiến nghị: Yêu nước phải là có mặt ở trong nước.
Tối qua, chị họ tôi, chị Đàm Ngọc Hân, nhắn từ một thành phố ở Bắc Âu, nơi chị vừa nhận việc ở một phòng thí nghiệm sau khi học xong tiến sĩ. Chị nói chưa định về. Một người trong nhà bình luận dưới ảnh chị: học bằng tiền của bố mẹ, của đất nước, rồi đem chất xám cho người ta. Chị không trả lời. Tôi mang câu chuyện ấy đến câu lạc bộ, và bạn Khuất Duy Nhân nhận bảo vệ kiến nghị: yêu nước phải là có mặt ở trong nước. Tôi đứng ở phía ngược lại. Bài này ghi lại lập luận của cả hai phía, rồi đến kết luận của tôi.
Phía ủng hộ kiến nghị. Duy Nhân bắt đầu bằng một điều khó cãi: những việc khó nhất của đất nước cần người đứng tại chỗ. Một bệnh viện tỉnh thiếu bác sĩ không thể được chữa bằng những lời chúc từ xa. Khi người giỏi đi hết, những người ở lại phải gánh phần việc nặng hơn, và khoảng cách với bên ngoài càng xa thêm. Nhân gọi đó là sự vắng mặt có giá phải trả. Bạn ấy còn nói thêm: yêu nước mà chỉ hướng về, không có mặt, thì dễ biến thành một thứ tình cảm dễ chịu, không tốn gì.
Phía phản đối kiến nghị. Tôi bắt đầu bằng lịch sử. Ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời bến Nhà Rồng ở cảng Sài Gòn trên con tàu Amiral Latouche-Tréville để sang phương Tây. Phải sau ba mươi năm, đến ngày 28/1/1941, Người mới về nước, ở Pác Bó, Cao Bằng. Ba mươi năm ấy, Người gần như không có mặt ở trong nước. Nếu đo lòng yêu nước bằng việc có mặt, ta sẽ phải nói một điều vô lí về chính người tiêu biểu nhất cho lòng yêu nước Việt Nam. Điều làm nên ý nghĩa của chuyến đi ấy là hướng của nó: Người ra đi để tìm con đường giải phóng cho dân tộc mình, và suốt thời gian ở xa, mọi việc Người làm đều hướng về mục đích đó.
Từ đó, tôi cho rằng thước đo của lòng yêu nước không phải là tọa độ nơi một người sống, mà là hướng mà sự đóng góp của họ đi về. Một nhà khoa học người Việt ở nước ngoài có thể nhận sinh viên trong nước sang thực tập, cùng đứng tên các công trình với đồng nghiệp ở quê nhà, giới thiệu những bạn trẻ vào phòng thí nghiệm của mình. Trong thế giới mở, có những việc làm từ xa lại hiệu quả hơn làm tại chỗ.
Phản biện qua lại. Duy Nhân không chịu: so sánh với Nguyễn Tất Thành là khập khiễng, vì Người ra đi trong hoàn cảnh mất nước, và Người đã trở về. Tôi thừa nhận điểm này. Chuyến đi năm 1911 không thể dùng để biện minh cho mọi sự ở lại. Người ra đi có mục đích rõ ràng và trở về khi thời cơ đến. Còn rất nhiều người ở lại nước ngoài chỉ vì cuộc sống tiện hơn, và đã quên hẳn nơi mình ra đi. Gọi họ là đang yêu nước thì không đúng.
Kết luận của người viết. Sau cuộc tranh luận, tôi không còn nghĩ câu hỏi là đi hay ở. Câu hỏi đúng hơn là: người ấy có còn coi đất nước là việc của mình không. Quan niệm truyền thống đặt yêu nước gắn chặt với mảnh đất, vì ngày ấy giữ đất là việc sống còn. Người trẻ hôm nay hiểu rộng hơn: có thể đóng góp từ xa, miễn sự đóng góp ấy có thật, có địa chỉ cụ thể. Nhưng tôi cũng đồng ý với Duy Nhân rằng sự có mặt có một giá trị không gì thay được, và người đi xa nợ quê hương một câu trả lời, dù câu trả lời ấy đến muộn.
Tôi gửi bài này cho chị Hân. Chị trả lời ngắn: năm sau phòng thí nghiệm của chị nhận hai sinh viên Việt Nam sang thực tập, chị đang đọc hồ sơ.
Mẫu 10: Yêu nước trên mạng: dừng lại trước khi bấm chia sẻ (bài đăng diễn đàn trường)
Bài đăng mục Chuyện mạng trên diễn đàn của học sinh toàn trường. Đoạn clip và các nhân vật trong bài là tình huống giả định.
Một đoạn clip dài bốn mươi giây lan khắp các nhóm chat hồi tháng trước: một vận động viên nước ngoài, sau trận đấu, được cho là đã có cử chỉ xúc phạm cờ Việt Nam. Chỉ trong một buổi tối, trang cá nhân của người ấy bị hàng nghìn bình luận chửi bới, rồi lan sang chửi cả đất nước của họ. Cam Ngọc Vi, bạn cùng lớp tôi, chia sẻ clip kèm dòng chữ ai yêu nước thì vào đây. Hai ngày sau, ban tổ chức giải đấu công bố đoạn phim đầy đủ: vận động viên kia đang nhặt lá cờ rơi trên sàn lên, đoạn clip đã bị cắt ghép. Ngọc Vi xóa bài, nhắn vào nhóm lớp một câu xin lỗi. Nhưng hàng nghìn bình luận kia thì không ai xóa.
Câu chuyện ấy đặt ra một câu hỏi mà thế hệ ông bà chúng ta không phải trả lời: yêu nước trên mạng xã hội nghĩa là gì?
Tôi nghĩ có hai điều cần tách bạch. Điều thứ nhất: cảm xúc tự hào và tự ái dân tộc là chính đáng. Thấy lá cờ của đất nước mình bị xúc phạm mà thấy đau, đó là phản ứng tự nhiên của một người có lòng yêu nước. Không ai nên chê cười cảm xúc ấy. Điều thứ hai: cảm xúc chính đáng không làm cho hành động trở nên đúng. Chia sẻ một thông tin chưa kiểm chứng, công kích một con người, rồi công kích cả một dân tộc, đó không phải là yêu nước. Đó là để người khác giật dây lòng yêu nước của mình.
Trên mạng, lòng yêu nước rất dễ bị lợi dụng chính vì nó mạnh. Kẻ cắt ghép đoạn clip kia hiểu rất rõ: chỉ cần chạm vào lòng tự hào dân tộc, người xem sẽ quên kiểm tra. Mỗi lượt chia sẻ vội vàng là một lượt tiếp sức cho tin sai. Và khi sự thật được làm rõ, chính hình ảnh người Việt trên mạng là thứ bị tổn hại: người ta sẽ nhớ đến đám đông chửi bới, chứ không nhớ đến lá cờ.
Nếu đặt cạnh quan niệm truyền thống, tôi thấy điều cha ông dạy vẫn đúng ở đây: yêu nước cần đi cùng sự tỉnh táo. Người xưa đánh giặc phải biết người biết ta, không đánh liều. Người trẻ hôm nay trên mạng cũng cần biết rõ thông tin trước khi hành động. Cái khác là chiến trường bây giờ không có giới tuyến, mỗi người cầm điện thoại đều có thể vô tình đứng nhầm phía.
Vậy yêu nước trên mạng là làm gì? Theo tôi, đó là những việc ít ồn ào hơn nhiều: kiểm chứng trước khi chia sẻ, tìm nguồn chính thức, chờ thêm một ngày nếu chưa rõ. Đó là khi phản bác ai thì phản bác ý kiến, không xúc phạm con người, càng không quy chụp cả một dân tộc. Đó cũng là dùng mạng để làm những việc tốt có thật: giới thiệu một làng nghề, kêu gọi giúp vùng lũ qua kênh tin cậy, viết đúng chính tả tiếng Việt.
Ngọc Vi đồng ý cho tôi kể lại chuyện này. Bạn ấy bảo bây giờ trước khi bấm chia sẻ, bạn tự hỏi ba câu: tin này từ đâu ra, có ai khác xác nhận chưa, và nếu nó sai thì ai sẽ bị tổn thương. Tôi nghĩ ba câu hỏi ấy đáng được dán lên màn hình điện thoại của tất cả chúng ta.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi hay gặp | Sửa thế nào |
|---|---|
| Chỉ trả lời một vế: kể biểu hiện yêu nước hôm nay mà quên so sánh với truyền thống. | Trong mỗi luận điểm, thêm một hai câu soi lại với cha ông: giống ở gốc nào, khác ở hình thức nào. |
| Bài thành bài ca ngợi chung: lịch sử bốn nghìn năm, tình yêu thiêng liêng, thế hệ trẻ cần học tập. | Chọn một biểu hiện hẹp làm trục (trung thực, chọn nghề, ứng xử trên mạng…) và chứng minh nó đến nơi. |
| Trích thơ, trích danh ngôn liên tục, có câu không rõ nguồn. | Chỉ trích câu mình chắc chắn nguyên văn và người nói; một hai câu là đủ. Câu lưu truyền trên mạng thì đừng gán cho danh nhân. |
| Nêu sự kiện lịch sử sai ngày tháng, sai tên. | Kiểm lại trong sách giáo khoa Lịch sử hoặc nguồn chính thống; không chắc thì nói khái quát. |
| Phản đề kiểu công kích: chửi những người bị coi là không yêu nước. | Phản bác quan niệm, không xúc phạm con người; giọng điềm tĩnh mới thuyết phục. |
| Bài học cuối bài là một danh sách khẩu hiệu. | Nêu hai ba việc cụ thể, vừa sức với học sinh lớp 12, gắn với luận đề của bài. |
Mẹo để bài nổi bật: mở bằng một tình huống có thật quanh mình thay vì câu khái quát về lịch sử dân tộc; dùng văn bản trong Bài 6 như một điểm tựa để so sánh; để một chi tiết ở mở bài quay lại ở kết bài.
Gợi ý bài nói: thuyết trình về quan niệm yêu nước của tuổi trẻ
Ở mục Nói và nghe của Bài 6, sách đề nghị học sinh nghe, nhận xét, đánh giá một bài thuyết trình về việc quan niệm yêu nước của tuổi trẻ giống và khác gì với truyền thống. Nếu được giao làm người thuyết trình, nên làm theo mấy bước dưới đây để bài viết thành lời nói tự nhiên:
- Rút luận đề thành một câu dễ nhớ, nói ngay trong phút đầu.
- Giữ hai, ba luận điểm; mỗi luận điểm một câu chuyện hoặc một bằng chứng, kể ngắn.
- Dùng một bảng hai cột (truyền thống – hôm nay) chiếu lên màn hình để người nghe theo dõi phần so sánh.
- Chừa vài phút cuối để người nghe hỏi; đoán trước một phản đề có thể bị nêu ra.
- Khi là người nghe: ghi lại luận điểm, bằng chứng, cách trình bày; nhận xét có điểm mạnh, có góp ý, bằng lời lẽ tôn trọng.
Thử một đoạn mở lời: Chào cả lớp. Mình xin bắt đầu bằng một câu hỏi nhỏ: nếu phải chụp một bức ảnh về lòng yêu nước của tuổi mười tám hôm nay, các bạn sẽ chụp gì? Mình đã hỏi mười bạn trong lớp, và không ai chọn ảnh lá cờ. Có bạn chọn ảnh một bài kiểm tra không quay cóp, có bạn chọn ảnh một cái giếng làng. Bài thuyết trình hôm nay sẽ đi từ những bức ảnh ấy để trả lời câu hỏi: tuổi trẻ bây giờ yêu nước giống và khác cha ông ở đâu.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Nếu đang ôn cho bài kiểm tra, hãy đọc kĩ Mẫu 1: bài trả lời đủ hai vế của đề sách và có phần so sánh giống – khác rõ ràng. Mẫu 3 và Mẫu 4 hợp để luyện viết nhanh một bài ngắn có lập luận gọn. Mẫu 6 và Mẫu 9 cho thấy cách dùng một văn bản đã học (Ê-ren-bua) hoặc một sự kiện lịch sử (chuyến ra đi năm 1911) làm điểm tựa mà không để nó lấn át ý riêng. Muốn bài có dấu ấn, hãy chọn một biểu hiện yêu nước bạn đã thật sự chứng kiến, rồi viết lại theo dàn ý ở trên.
Xem thêm:
- Soạn bài Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: Cuộc đời và sự nghiệp (Ngữ văn 12 Cánh diều)
- Soạn bài Tuyên ngôn Độc lập (Ngữ văn 12 Cánh diều)
- Soạn bài Nhật kí trong tù: Ngắm trăng, Lai Tân
- Soạn bài Cảnh rừng Việt Bắc (Cánh diều)
- Phân tích Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
- Nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (lớp 12)
- Bài phát biểu trong lễ phát động phong trào hoạt động xã hội (lớp 12)
- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí (lớp 11)
- Nghị luận về một vấn đề xã hội (lớp 11)