Phân tích Trưởng giả học làm sang (Mô-li-e) là đề văn quen thuộc khi học cảnh kịch ông Giuốc-đanh mặc lễ phục ở Bài 5 Ngữ văn 8 Kết nối tri thức; cùng cảnh này, sách Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo và Cánh diều in với nhan đề Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục. Bài viết gồm dàn ý chi tiết và 7 bài văn mẫu: phân tích đoạn trích ngắn gọn, đầy đủ theo từng bản SGK, phân tích nhân vật ông Giuốc-đanh, nhân vật phó may và thợ phụ, nghệ thuật gây cười và một bài dành cho học sinh giỏi.
Lưu ý: bản Kết nối tri thức dài hơn (thêm cảnh Ni-côn ở hồi III) và dùng bản dịch khác, nên danh xưng thợ gọi ông Giuốc-đanh là “ngài quý tộc – tướng công – đại nhân”; bản Chân trời sáng tạo, Cánh diều gọi “ông lớn – cụ lớn – đức ông”. Khi làm bài, em trích theo đúng sách mình học. Nếu chưa nắm chắc xuất xứ, bố cục, hãy xem lại phần soạn bài Trưởng giả học làm sang và Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục.
Dàn ý phân tích Trưởng giả học làm sang (Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục)
Dàn ý dưới đây dùng được cho cả hai nhan đề; phần in nghiêng trong ngoặc dành riêng cho bản Kết nối tri thức.

1. Mở bài
– Giới thiệu Mô-li-e – nhà viết hài kịch lớn nhất nước Pháp thế kỉ XVII, bậc thầy của tiếng cười phê phán.
– Giới thiệu đoạn trích Trưởng giả học làm sang (Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục), trích vở hài kịch 5 hồi cùng tên (1670); nêu nhận định: lớp kịch sinh động khắc họa thói học đòi làm sang lố bịch của một tay trưởng giả.
2. Thân bài
a. Khái quát
+ Vị trí: lớp V – lớp kịch kết thúc hồi II (bản KNTT thêm lớp I, II hồi III).
+ Nhân vật chính: ông Giuốc-đanh – nhà buôn giàu có, dốt nát, khao khát làm quý tộc.
b. Ông Giuốc-đanh và bác phó may
+ Phó may giao áo muộn; ông trách bít tất chật, giày đau chân – phó may chối, đổ cho ông “tưởng tượng”.
+ Bộ lễ phục không màu đen, may ngược hoa; phó may bịa: người quý phái đều mặc thế ⇒ ông lập tức hài lòng, từ chối sửa.
+ Phát hiện phó may ăn bớt vải; phó may lảng sang mời mặc thử ⇒ ông quên ngay.
⇒ Kịch tính: phó may từ thế bị động chuyển sang chủ động nhờ đánh trúng thói học đòi; ông Giuốc-đanh dốt nát, cả tin, dễ bị dắt mũi.
c. Ông Giuốc-đanh và bốn người thợ
+ Nghi lễ mặc áo theo nhịp nhạc – ông như con rối giữa sân khấu.
+ Thợ tâng bốc danh xưng tăng dần; ông ba lần thưởng tiền, lời nói riêng lộ nỗi lo mất túi tiền nhưng vẫn không cưỡng nổi danh hão.
⇒ Thủ pháp tăng cấp, đối lập danh hão – tiền thật; tiếng cười bật lên mạnh nhất.
d. (Bản KNTT) Ông Giuốc-đanh, những tên hầu và Ni-côn
+ Sai hai tên hầu bám gót ra phố cho thiên hạ thấy bộ áo ⇒ thói khoe khoang.
+ Ni-côn cười không dứt, xin được cười dù bị đánh ⇒ tiếng cười của người bình dân phán xét bộ dạng lố lăng; ông chủ mất hết uy.
e. Nghệ thuật
+ Tình huống kịch hấp dẫn; xung đột giữa “cái thấp kém” với “cái thấp kém”.
+ Lời thoại ngắn, tự nhiên, cá tính hóa; lời nói riêng, chỉ dẫn sân khấu giàu tính trình diễn.
+ Tăng cấp, tương phản, lặp lại, thoại bỏ lửng.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị: tiếng cười phê phán thói học đòi, háo danh, ưa nịnh và bọn khôn lỏi, xu nịnh.
– Liên hệ: thói “sống ảo”, chạy theo danh hão ngày nay; bài học về sự tự hiểu mình.
Phân tích Trưởng giả học làm sang ngắn gọn – mẫu 1
Mô-li-e là nhà viết hài kịch lỗi lạc của nước Pháp thế kỉ XVII. Trong vở Trưởng giả học làm sang, ông dựng nên nhân vật Giuốc-đanh – một nhà buôn giàu có mà ngu dốt, khao khát trở thành quý tộc. Cảnh ông Giuốc-đanh mặc lễ phục là một trong những lớp kịch gây cười nhất, phơi bày trọn vẹn thói học đòi làm sang của nhân vật.
Mở đầu lớp kịch, ông Giuốc-đanh cáu kỉnh vì bác phó may giao áo muộn, bít tất thì chật, giày thì làm đau chân. Thế nhưng cơn giận ấy chẳng bền. Khi thấy bộ lễ phục may ngược hoa, ông vừa thắc mắc thì phó may đã bịa ra rằng người quý phái đều mặc như thế. Chỉ cần hai chữ “quý phái”, ông đổi giận thành vui, còn khăng khăng “Tôi đã bảo không mà” khi được đề nghị sửa lại. Thậm chí phát hiện phó may lấy vải của mình may áo, ông cũng bỏ qua ngay khi được mời mặc thử. Ông Giuốc-đanh không hẳn không biết mình bị thiệt; ông chỉ sẵn sàng nhắm mắt trước mọi điều phi lí, miễn là được giống người sang.
Tiếng cười lên cao nhất ở cảnh bốn người thợ mặc áo cho ông theo nhịp nhạc rồi tâng bốc ông để xin tiền. Mỗi danh xưng cao hơn một bậc – “ông lớn”, “cụ lớn”, “đức ông” (bản Kết nối tri thức: “ngài quý tộc”, “tướng công”, “đại nhân”) – lại đổi lấy một khoản tiền thưởng. Ông tiếc tiền, nói riêng rằng nếu bị tâng thêm thì hết cả túi, vậy mà vẫn vui vẻ móc hầu bao. Bằng thủ pháp tăng cấp, Mô-li-e cho thấy cái danh mà ông khao khát chỉ là thứ hàng rẻ tiền do chính kẻ dưới bán cho ông.
Với lời thoại tự nhiên, tình huống kịch hấp dẫn và nghệ thuật tăng cấp, tương phản, đoạn trích đã tạo nên tiếng cười sảng khoái mà sâu sắc. Qua ông Giuốc-đanh, Mô-li-e phê phán thói học đòi, háo danh và cả những kẻ khôn lỏi sống bằng nghề nịnh hót – những thói xấu đến nay vẫn chưa hề cũ.
Phân tích Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục đầy đủ theo bố cục – mẫu 2
Nếu bi kịch khiến người xem xót xa trước số phận con người, thì hài kịch lại dùng tiếng cười để “xử án” cái xấu. Mô-li-e (1622 – 1673) là bậc thầy của lối “xử án” ấy. Trích từ vở Trưởng giả học làm sang, lớp kịch mà sách Chân trời sáng tạo và Cánh diều đặt tên Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục chỉ xoay quanh việc thử một bộ áo, nhưng đã làm bật lên chân dung lố bịch của một tay trưởng giả học đòi.
Lớp kịch là lớp V, lớp cuối cùng của hồi II. Ông Giuốc-đanh ngoài bốn mươi tuổi, con một nhà buôn giàu có, không thiếu tiền nhưng thiếu học thức. Ông tin rằng chỉ cần ăn mặc, đi đứng, nói năng giống quý tộc là sẽ thành quý tộc. Bộ lễ phục vì thế không đơn thuần là quần áo; đó là tấm vé ông mong mỏi để bước vào giới thượng lưu.
Ở phần đầu, cuộc đối thoại giữa ông Giuốc-đanh và bác phó may diễn ra như một ván cờ. Ban đầu ông ở thế chủ động: bác phó may đến muộn, đôi bít tất lụa bác gửi đến chật đến mức đứt mắt, đôi giày làm ông đau chân “ghê gớm”. Nhưng bác phó may không hề nhận lỗi, còn cãi rằng ông chỉ tưởng tượng. Cái lí sự trơ tráo ấy đã đủ buồn cười, song chi tiết đắt nhất là bộ lễ phục. Theo lệ thời bấy giờ, lễ phục phải màu đen, hoa trên vải phải hướng lên, vậy mà áo của ông vừa sai màu vừa ngược hoa. Bác phó may lại quảng cáo đó là kiểu áo “trang nghiêm mà không phải màu đen”. Khi bị chất vấn, bác chỉ cần viện ra những người quý phái, và thế là ông Giuốc-đanh, từ chỗ phát hiện ra lỗi, chuyển sang bảo vệ chính cái lỗi ấy: ông gạt đi lời đề nghị may lại, khen áo may được.
Chưa dừng ở đó, ông còn nhận ra áo của bác phó may may bằng thứ vải ông đưa. Tình thế lẽ ra đảo ngược, phó may sẽ phải xin lỗi. Nhưng bác nhanh trí mời ông mặc thử lễ phục, lại nhấn mạnh loại áo này phải mặc theo thể thức của người quý phái. Ông Giuốc-đanh quên béng chuyện mất vải. Qua màn đối đáp, Mô-li-e cho thấy hai “cái thấp kém” va vào nhau: một bên dốt nát, háo danh; một bên láu cá, gian dối. Và kẻ láu cá luôn thắng vì hắn biết đánh đúng vào chỗ yếu của đối phương.
Phần sau là cảnh bốn chú thợ phụ mặc áo cho ông. Lời chỉ dẫn sân khấu mô tả họ cởi tuột quần áo tập kiếm của ông, mặc bộ lễ phục mới vào, tất cả theo nhịp của dàn nhạc. Ông Giuốc-đanh đi đi lại lại giữa đám thợ, phô áo mới – trông chẳng khác một con rối được giật dây. Rồi màn nịnh hót bắt đầu: chú thợ phụ gọi ông là “ông lớn” để xin tiền uống rượu. Ông mừng rỡ vì chưa ai gọi mình như thế, thưởng ngay. Được đà, thợ phụ nâng lên “cụ lớn”, ông khoái chí bảo “cụ lớn” không phải là một tiếng tầm thường và thưởng tiếp. Đến “đức ông”, ông lại thưởng, dù thầm nghĩ nếu bị tôn thêm một bậc nữa thì mất cả túi tiền. Nghệ thuật tăng cấp khiến tiếng cười dồn lên từng nấc: danh xưng càng cao thì ông càng ngớ ngẩn, túi tiền càng vơi.
Thành công của lớp kịch nằm ở lời thoại ngắn gọn, tự nhiên, phù hợp từng tính cách; ở tình huống kịch nhỏ mà đầy kịch tính; ở những lời chỉ dẫn sân khấu giàu tính trình diễn. Tất cả tạo nên xung đột giữa cái bên ngoài hào nhoáng và cái bên trong trống rỗng – cốt lõi của hài kịch.
Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục vì thế không chỉ là trò cười về một bộ áo. Mô-li-e phê phán thói học đòi, háo danh của những kẻ tưởng tiền mua được tất cả, đồng thời vạch mặt bọn khôn lỏi sống nhờ nịnh hót. Hơn ba thế kỉ trôi qua, bài học về việc hiểu mình và sống thật với mình vẫn còn nguyên giá trị.
Phân tích Trưởng giả học làm sang bản Kết nối tri thức – mẫu 3
Trong văn học thế giới, ít nhân vật hài nào gây cười bền bỉ như ông Giuốc-đanh của Mô-li-e. Đoạn trích Trưởng giả học làm sang trong sách Ngữ văn 8 Kết nối tri thức ghép lớp V hồi II với lớp I, II hồi III của vở kịch cùng tên, cho ta theo dõi trọn một “hành trình” của bộ lễ phục: từ tay bác phó may, lên người ông Giuốc-đanh, rồi trở thành trò cười trước mắt người hầu.
Cảnh đầu là cuộc chạm trán với bác phó may. Ông Giuốc-đanh trách đủ điều: áo đến muộn, bít tất chật, giày đau chân. Song mọi lời trách đều bị gạt đi bằng những câu chống chế trơ trẽn. Điểm nút là chiếc áo may ngược hoa. Chỉ một câu người quý phái đều mặc như thế, ông đã quay ngoắt, không cho sửa nữa. Cả khi nhận ra bác ăn bớt vải, ông cũng chẳng truy đến cùng vì còn mải mặc thử áo. Ông Giuốc-đanh hiện lên vừa đáng cười vừa đáng thương: có mắt để thấy cái sai mà không có bản lĩnh để từ chối nó.
Cảnh thứ hai là màn “mua danh”. Đám thợ bạn mặc áo cho ông theo nhịp nhạc rồi gọi ông là “ngài quý tộc”. Ông sướng rơn, cho rằng ăn mặc ra người quý phái thì mới được gọi như vậy, liền thưởng tiền. Thợ bạn gọi tiếp “tướng công”, rồi “đại nhân”; mỗi danh xưng lại đổi được một món tiền. Lời nói riêng của ông – nếu chúng gọi lên đến “đức ông” thì cả túi tiền sẽ mất – cho thấy ông không hề ngốc về tiền bạc, nhưng thói háo danh mạnh hơn cả lòng tiếc của. Danh thì hão, tiền thì thật; sự trao đổi chênh lệch ấy là nguồn gốc tiếng cười.

Phần hồi III đẩy tiếng cười lên một tầng mới. Mặc xong áo, ông sai hai tên hầu phải bám gót mình ra phố, để thiên hạ thấy rõ ông có người hầu hạ. Khát vọng làm sang lúc này đã thành thói khoe khoang lộ liễu. Rồi ông gọi Ni-côn lên sai việc. Ni-côn chưa kịp nghe lệnh đã cười. Ông gặng hỏi, quát, dọa tát “bằng trời giáng”, sai lau chùi phòng khách, nhưng đáp lại chỉ là những tràng “hí, hí” nối nhau. Đỉnh điểm là lời xin: “thà là ông cứ đánh con đi nhưng để cho con được cười bằng thích, còn hơn”. Tiếng cười của Ni-côn là tiếng cười của lẽ thường: người hầu gái chất phác nhìn thấu cái lố lăng mà ông chủ không tự thấy. Những câu thoại của ông Giuốc-đanh bị cắt ngang, bỏ lửng liên tục, cho thấy uy quyền của ông sụp đổ trước một con hầu.
Đặt hai hồi cạnh nhau, ta thấy một cấu trúc tương phản thú vị: ở hồi II, kẻ dưới nịnh ông để lấy tiền; ở hồi III, kẻ dưới cười ông mà không cần tiền. Một bên là lời tung hô giả dối, một bên là tiếng cười thật lòng – và chính tiếng cười thật ấy mới là “bản án” dành cho bộ áo ngược hoa.
Bằng lời thoại sinh động, thủ pháp tăng cấp, lặp lại và thoại bỏ lửng, đoạn trích Trưởng giả học làm sang đem lại tiếng cười sảng khoái mà thâm thúy. Mô-li-e nhắc chúng ta: vẻ sang không nằm ở bộ áo hay danh xưng, mà ở hiểu biết và nhân cách của mỗi người.
Phân tích nhân vật ông Giuốc-đanh – mẫu 4
Mỗi nhân vật chính trong hài kịch Mô-li-e là hiện thân của một thói xấu. Nếu lão Ác-pa-gông là hiện thân của thói hà tiện thì ông Giuốc-đanh trong Trưởng giả học làm sang là hiện thân của thói học đòi làm sang. Chỉ qua cảnh mặc lễ phục, chân dung nhân vật đã hiện lên rõ nét, vừa lố bịch vừa đáng suy ngẫm.
Trước hết, ông Giuốc-đanh là một trưởng giả giàu có nhưng mang mặc cảm xuất thân. Ông có tiền, có nhà cửa, gia nhân, nhưng không có dòng dõi quý tộc. Nỗi thèm khát được “làm sang” chi phối mọi suy nghĩ của ông. Ông thuê thầy về dạy đủ thứ, đặt may lễ phục, sắm tóc giả, lông đính mũ – tất cả chỉ để khoác lên mình cái vỏ quý phái.
Thứ hai, ông dốt nát và cả tin. Ông không biết lễ phục phải màu đen, không biết cách mặc áo của người sang; bởi vậy ai nói gì về “giới quý phái” ông cũng tin. Chiếc áo ngược hoa là minh chứng rõ nhất: ông nhìn thấy cái sai, nhưng khi được bảo đó là mốt quý tộc, ông lập tức coi cái sai là đúng. Sự dốt nát ấy không chỉ ở kiến thức mà còn ở khả năng suy xét: ông để mặc bác phó may ăn bớt vải chỉ vì mải mê mặc thử áo.
Thứ ba, ông háo danh và ưa nịnh. Ông sung sướng khi được gọi bằng những danh xưng cao sang và sẵn sàng thưởng tiền cho từng tiếng tâng bốc. Có lúc ông cũng tiếc tiền, tự nhủ nếu bị tôn thêm bậc nữa thì mất cả túi, nhưng rốt cuộc vẫn móc tiền ra. Cái danh mà ông mua chỉ tồn tại trong miệng mấy người thợ, hết tiền là hết danh.
Thứ tư, ông khoe khoang và gia trưởng một cách lố bịch. Ở bản Kết nối tri thức, mặc áo xong ông muốn ra phố cho thiên hạ ngắm, bắt tên hầu đi sát gót để chứng tỏ mình có kẻ hầu người hạ. Nhưng khi Ni-côn cười vào bộ dạng của ông, ông chỉ biết quát tháo, dọa nạt mà không nhận ra mình đáng cười thật.
Dẫu vậy, ông Giuốc-đanh không phải kẻ độc ác. Ông đáng cười hơn đáng ghét, thậm chí có phần đáng thương khi bị mọi người xung quanh lợi dụng. Chính vì thế tiếng cười Mô-li-e dành cho ông là tiếng cười phê phán nhưng không tàn nhẫn. Để khắc họa nhân vật, tác giả dùng lời thoại bộc lộ tính cách, lời nói riêng hé mở suy nghĩ thầm kín, thủ pháp tăng cấp và tương phản giữa vẻ ngoài sang trọng với bên trong trống rỗng.
Nhân vật ông Giuốc-đanh là một điển hình bất hủ. Ngày nay, những “ông Giuốc-đanh” vẫn còn: người chạy theo hàng hiệu, danh hiệu, lượt thích để chứng tỏ đẳng cấp. Tiếng cười của Mô-li-e vì thế vẫn là lời nhắc nhở: hãy làm đẹp bằng hiểu biết và nhân cách chứ đừng bằng cái mác bên ngoài.
Phân tích nhân vật phó may và các thợ phụ – mẫu 5
Trong Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục, tiếng cười chủ yếu hướng vào ông Giuốc-đanh. Nhưng nếu thiếu bác phó may và bốn chú thợ phụ, tính cách học đòi của ông khó bộc lộ trọn vẹn. Hai nhân vật phụ ấy vừa là “chất xúc tác” cho tiếng cười, vừa là đối tượng bị Mô-li-e phê phán.
Bác phó may trước hết là người thợ kém cỏi và thiếu trách nhiệm. Bác giao hàng muộn, bít tất may chật, giày đóng đau chân, lễ phục thì sai màu, ngược hoa. Thế nhưng bác chẳng bao giờ nhận lỗi. Khi bị trách bít tất chật, bác bảo rồi nó sẽ giãn; khi bị trách giày đau, bác bảo ông tưởng tượng ra. Lối cãi cùn ấy vừa trơ trẽn vừa buồn cười.
Bác còn là kẻ láu cá, biết “bắt bệnh” khách hàng. Chỉ bằng một câu bịa rằng người quý phái đều mặc áo ngược hoa, bác biến lỗi của mình thành “mốt” và khiến ông Giuốc-đanh tự nguyện từ chối việc sửa áo. Bác lại tham lam, gạn vải của khách may áo cho mình; bị phát hiện, bác thản nhiên thừa nhận rồi lảng ngay sang chuyện mời ông mặc thử. Mỗi lần ở thế bị động, bác đều xoay chuyển tình thế bằng cách đánh vào thói học đòi của đối phương.
Bốn chú thợ phụ thì ranh mãnh theo kiểu khác. Họ biến việc mặc áo thành một “nghi lễ” có nhạc đệm, khiến ông chủ tưởng mình đang được hầu hạ như bậc vương giả. Rồi họ mở màn nịnh hót để xin tiền: gọi “ông lớn”, thấy được thưởng thì nâng lên “cụ lớn”, rồi “đức ông”. Họ không cần giỏi nghề, chỉ cần giỏi đọc lòng người. Mỗi tiếng tung hô đều được “định giá” bằng tiền thưởng, và họ cảm tạ rối rít sau mỗi lần nhận – khôn khéo đến mức đáng sợ.
Qua hai nhân vật này, Mô-li-e mở rộng phạm vi phê phán: không chỉ kẻ học đòi đáng cười, mà những kẻ sống bằng dối trá, nịnh bợ cũng đáng chê. Xung đột trong màn kịch vì thế là xung đột giữa “cái thấp kém” với “cái thấp kém”: sự dốt nát, háo danh gặp sự gian dối, xu nịnh. Tiếng cười bật ra khi ta thấy chúng “khớp” với nhau một cách hoàn hảo – kẻ muốn mua danh gặp đúng kẻ bán danh.
Bác phó may và các thợ phụ là những nhân vật phụ nhưng được khắc họa sắc nét qua lời thoại ngắn gọn, khẩu khí tự nhiên. Họ nhắc chúng ta cảnh giác trước những lời tâng bốc ngọt ngào: đằng sau đó thường là túi tiền của chính mình.
Phân tích nghệ thuật gây cười trong Trưởng giả học làm sang – mẫu 6
Tiếng cười của Mô-li-e không đến từ những trò hề rẻ tiền mà từ nghệ thuật dựng tình huống, lời thoại và hành động trên sân khấu. Đoạn trích Trưởng giả học làm sang (Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục) là mẫu mực cho nghệ thuật ấy.
Thủ pháp đầu tiên là tạo tình huống kịch từ một sự việc nhỏ: mặc thử bộ lễ phục. Bộ áo lẽ ra phải trang trọng lại sai màu, ngược hoa; người thợ lẽ ra phải xin lỗi lại lên mặt dạy đời. Từ sự “lệch chuẩn” ấy, xung đột bùng lên và tiếng cười nảy sinh tự nhiên.
Thủ pháp thứ hai là tương phản. Ông Giuốc-đanh muốn thành người sang nhưng mọi hành động lại tố cáo sự quê kệch; bộ áo sang trọng mà hoa chúc ngược; danh xưng cao quý mà được bán bằng vài đồng tiền uống rượu. Ở bản Kết nối tri thức, tương phản còn thể hiện giữa vẻ nghiêm trang tự đắc của ông chủ và những tràng cười không dứt của người hầu Ni-côn.
Thủ pháp thứ ba là tăng cấp. Các danh xưng mà thợ tôn ông cứ cao dần lên, tiền thưởng cũng tăng theo, và cảm xúc của ông Giuốc-đanh càng lúc càng phấn khích. Tiếng cười vì thế không bùng lên một lần mà dâng từng đợt, đạt đỉnh khi ông nói riêng về nỗi lo mất cả túi tiền.
Thủ pháp thứ tư là lời nói riêng và chỉ dẫn sân khấu. Lời nói riêng cho khán giả biết ý nghĩ thật của ông – ông cũng tiếc tiền – nhờ đó tạo “độ vênh” hài hước giữa suy nghĩ và hành động. Chỉ dẫn sân khấu mô tả cảnh bốn người thợ cởi áo, mặc áo theo nhịp nhạc, biến ông thành một diễn viên múa vụng về giữa sân khấu.
Thủ pháp thứ năm là lặp lại và thoại bỏ lửng, rõ nhất ở cảnh Ni-côn: tiếng cười “hí, hí” lặp đi lặp lại, lời ông chủ liên tục bị cắt ngang. Người xem không cần ai giải thích cũng thấy ông Giuốc-đanh đã mất hết uy phong.
Cuối cùng, ngôn ngữ nhân vật mang đậm khẩu ngữ, ngắn gọn, đúng tính cách: ông Giuốc-đanh hấp tấp, phó may lém lỉnh, thợ phụ ngọt xớt, Ni-côn hồn nhiên. Nhờ phối hợp nhuần nhuyễn những thủ pháp ấy, Mô-li-e biến một lớp kịch ngắn thành màn hài kịch đặc sắc, cười mà phê phán, vui mà thâm thúy.
Phân tích Trưởng giả học làm sang (bài học sinh giỏi) – mẫu 7
Người Pháp gọi Nhà hát Kịch Pháp là “Nhà Mô-li-e” để tôn vinh nhà viết kịch đã đưa tiếng cười lên hàng nghệ thuật lớn. Ba thế kỉ rưỡi sau khi ra đời, nhân vật ông Giuốc-đanh trong Trưởng giả học làm sang vẫn khiến khán giả bật cười, bởi Mô-li-e không chỉ chế giễu một người mà gọi đúng tên một căn bệnh của xã hội: bệnh sĩ diện, học đòi.
Vở kịch ra đời năm 1670, khi tầng lớp thị dân Pháp giàu lên nhờ buôn bán và bắt đầu thèm khát địa vị của giới quý tộc. Ông Giuốc-đanh là đại diện điển hình của lớp người ấy: có tiền mà thiếu học, muốn đổi đời bằng cách bắt chước cung cách người sang. Cảnh mặc lễ phục – được SGK trích với hai nhan đề Trưởng giả học làm sang và Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục – là khoảnh khắc khát vọng ấy được “may đo” thành hình, và cũng là lúc nó lộ rõ sự lố bịch.
Điều sâu sắc đầu tiên là Mô-li-e cho thấy “cái sang” giả tạo được tạo ra như thế nào. Nó không đến từ hiểu biết, mà từ lời người khác nói. Bộ áo ngược hoa trở thành “mốt quý phái” chỉ vì phó may bảo thế; ông Giuốc-đanh thành “người lớn” chỉ vì thợ gọi thế. Ông đã giao toàn bộ giá trị của mình cho miệng lưỡi kẻ khác, nên cũng bị kẻ khác định đoạt. Bi hài nằm ở chỗ: người muốn đứng trên thiên hạ lại hoàn toàn phụ thuộc vào thiên hạ.
Điều sâu sắc thứ hai là quan hệ trao đổi giữa danh hão và tiền thật. Ở cảnh thợ tâng bốc, mỗi danh xưng có “giá” bằng một khoản tiền thưởng. Mô-li-e để nhân vật tự nói riêng về nỗi lo mất túi tiền, tức là ông biết mình đang trả giá, nhưng vẫn trả. Thủ pháp tăng cấp ở đây không chỉ gây cười; nó như một chiếc thang dẫn nhân vật leo lên đỉnh của sự ngớ ngẩn, và mỗi bậc thang là một lần hầu bao vơi đi.
Điều sâu sắc thứ ba là tiếng cười có nhiều tầng. Khán giả cười ông Giuốc-đanh, nhưng cũng cười bác phó may cãi cùn, cười đám thợ khéo nịnh. Ở bản Kết nối tri thức, tiếng cười còn được “đóng dấu” bởi chính nhân vật Ni-côn. Chị hầu cười đến mức xin thà bị đánh còn hơn phải nhịn – tiếng cười ấy là phản ứng lành mạnh của lẽ thường trước cái phi lí. Mô-li-e khéo léo đặt người bình dân vào vị trí người phán xét, cho thấy sự tỉnh táo không phụ thuộc vào địa vị hay tiền bạc.
Về nghệ thuật, đoạn trích tiêu biểu cho hài kịch cổ điển: tình huống tập trung, nhân vật mang tính điển hình, lời thoại ngắn gọn giàu khẩu ngữ, xung đột giữa bên trong và bên ngoài. Các lời chỉ dẫn sân khấu – cảnh mặc áo theo nhịp nhạc, cảnh bốn người thợ nhảy múa – cho thấy đây là kịch để diễn chứ không chỉ để đọc; đọc văn bản, ta vẫn hình dung được cả một sân khấu rộn ràng âm thanh và màu sắc.
Đặt vào đời sống hôm nay, ông Giuốc-đanh không hề xa lạ. Có người vay nợ để mua hàng hiệu, có người khoe khoang những danh hiệu mua bằng tiền, có người đo giá trị bản thân bằng lượt thích trên mạng xã hội. Họ cũng đang mặc “bộ lễ phục ngược hoa” mà tưởng là sang. Và quanh họ cũng không thiếu những “bác phó may”, “chú thợ phụ” sẵn sàng tung hô để trục lợi.
Trưởng giả học làm sang vì thế là một tấm gương soi. Tiếng cười Mô-li-e nhẹ nhàng mà sắc sảo, giúp ta nhận ra rằng sự sang trọng thật sự nằm ở tri thức, nhân cách và sự tự trọng, chứ không nằm ở bộ áo hay những danh xưng mua được bằng tiền.
Kết luận
Bảy bài văn mẫu trên tiếp cận Trưởng giả học làm sang (Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục) từ nhiều góc: phân tích đoạn trích theo bố cục, phân tích nhân vật ông Giuốc-đanh, nhân vật phó may – thợ phụ và nghệ thuật gây cười. Khi viết, em nên bám dàn ý, chọn dẫn chứng đúng bản dịch trong SGK mình học và viết bằng cảm nhận riêng; các bài mẫu chỉ để tham khảo cách triển khai ý.
Xem thêm:
- Soạn bài Trưởng giả học làm sang (Mô-li-e) – Ngữ văn 8 Kết nối tri thức
- Soạn bài Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục – Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo
- Cái chúc thư (Vũ Đình Long) – Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo
- Loại vi trùng quý hiếm (Văn 8): Soạn bài, tóm tắt