Lên lớp 11, kiểu bài viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội đòi hỏi nhiều hơn năm lớp 10: câu hỏi nghiên cứu phải hẹp, số liệu phải đặt trong bảng có tên, nguồn phải trích đúng quy cách, và người viết phải tự nói ra chỗ yếu của nghiên cứu mình. Đề này có ở cả ba bộ sách: Ngữ văn 11 Kết nối tri thức (tập một, Bài 5), Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo (tập một, Bài 4 Nét đẹp văn hóa và cảnh quan) và Ngữ văn 11 Cánh diều (tập hai, Bài 7). Trang có phần nêu yêu cầu, một dàn ý chung và 9 báo cáo mẫu: bốn vấn đề tự nhiên (bụi mịn, nhiệt độ sân trường, sạt lở bờ sông, rác nhựa trên bãi biển), ba khảo sát học đường và hai đề tài văn hóa (Hội An mùa lũ, quà Hà Nội qua trang văn Thạch Lam). Tên trường, người thực hiện và mọi con số đo đạc, khảo sát trong mẫu đều do người viết đặt ra để làm mẫu; còn dữ kiện khoa học, lịch sử thì lấy từ những nguồn ghi ở cuối từng bài.

Yêu cầu của kiểu bài báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên, xã hội
Báo cáo nghiên cứu trả lời một câu hỏi bằng bằng chứng. Người đọc không cần biết người viết cảm thấy thế nào; họ cần biết người viết đã làm gì, thu được gì, và tin được đến đâu.
| Tiêu chí | Đạt khi |
|---|---|
| Đề tài và câu hỏi nghiên cứu | Tên đề tài nói rõ đối tượng, nơi chốn, thời gian; có một đến ba câu hỏi cụ thể mà kết quả sẽ trả lời. |
| Phương pháp, phạm vi | Nói rõ đã đọc tài liệu gì, đo gì bằng dụng cụ gì, hỏi bao nhiêu người, trong bao lâu; phạm vi vừa sức một nhóm học sinh trong vài tuần. |
| Hệ thống luận điểm | Kết quả chia thành mục nhỏ có tiêu đề; mỗi mục có cứ liệu và lời lí giải. |
| Phương tiện hỗ trợ | Bảng, biểu đồ, sơ đồ được đánh số, đặt tên, ghi nguồn hoặc ghi rõ là số liệu tự thu. |
| Trích dẫn, cước chú | Ý của người khác ghi nguồn ngay trong câu hoặc trong ngoặc đơn; thuật ngữ khó thì gắn số chú thích, giải nghĩa ở cuối bài. |
| Hạn chế của nghiên cứu | Có một đoạn nói thẳng điều chưa làm được, chỗ số liệu có thể sai lệch. |
| Kết luận, khuyến nghị | Nhắc lại, thật gọn, điều đã tìm ra so với câu hỏi ban đầu; khuyến nghị xuất phát từ kết quả, không nói chung chung. |
| Tài liệu tham khảo | Chỉ ghi nguồn đã dùng thật, xếp theo thứ tự chữ cái tên tác giả hoặc cơ quan, có tên bài và thời điểm truy cập. |
Ba bộ sách cùng đề nhưng nhấn vào những chỗ khác nhau:
| Bộ sách | Vị trí | Điểm nhấn |
|---|---|---|
| Kết nối tri thức | Tập một, Bài 5 | Sách chú ý thao tác nghiên cứu: phân biệt tài liệu gốc với tài liệu phái sinh, đánh giá độ tin cậy của nguồn, trích dẫn, ghi cước chú và xếp danh sách tài liệu theo tên tác giả. |
| Chân trời sáng tạo | Tập một, Bài 4 Nét đẹp văn hóa và cảnh quan | Bố cục đầy đủ nhất: tên đề tài, tóm tắt, từ khóa (ba đến năm từ), mở đầu, nội dung chính (cơ sở lí thuyết, kết quả khảo sát hoặc thực nghiệm), kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục. Ngữ liệu là một nghiên cứu về bảo tồn các loài chim ở vùng Đông Bắc. |
| Cánh diều | Tập hai, Bài 7 Tùy bút, tản văn, truyện kí | Ngữ liệu là phần tóm tắt một báo cáo về chuyện học qua mạng của học sinh thời dịch Covid-19, có biểu đồ. Dàn ý gợi ý thêm mục lịch sử nghiên cứu vấn đề và phần kết luận kèm khuyến nghị; bài tập yêu cầu viết thay mặt nhóm về chuyện mạng xã hội tác động thế nào tới việc học ở trường em. |
Dàn ý báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội
1. Mở bài (phần đầu báo cáo)
– Tên đề tài; người hoặc nhóm thực hiện; thời gian.
– Tóm tắt khoảng bốn câu: vấn đề, câu hỏi, cách làm, kết quả chính. Có thể thêm dòng từ khóa.
– Phần dẫn: vì sao chọn vấn đề này, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi; với Cánh diều, thêm vài câu về những gì người khác đã viết về vấn đề này.
2. Thân bài (nội dung nghiên cứu)
a. Cơ sở lí thuyết: giải thích khái niệm then chốt, dẫn nguồn.
b. Phương pháp: đọc tài liệu, đo đạc, đếm, phát phiếu, phỏng vấn; số lượng, thời gian, dụng cụ.
c. Kết quả: hai đến bốn mục, mỗi mục một tiêu đề nhỏ; bảng số liệu có số thứ tự và tên; sau mỗi bảng là lời nhận xét.
d. Bàn luận: lí giải kết quả bằng tài liệu đã đọc; so sánh với điều người ta thường nghĩ; nêu ý kiến trái chiều nếu có.
3. Kết bài (kết luận)
– Trả lời lại câu hỏi nghiên cứu bằng một hai câu.
– Hạn chế của nghiên cứu; hướng làm tiếp.
– Khuyến nghị (nếu có), gắn với người có thể thực hiện.
– Chú thích; tài liệu tham khảo; phụ lục (mẫu phiếu hỏi, ảnh chụp).
Một báo cáo đề tài tự nhiên thường cần số đo hoặc số đếm; một báo cáo đề tài xã hội thường cần phiếu hỏi hoặc phỏng vấn. Dù thế nào, câu hỏi nghiên cứu vẫn là sợi chỉ: mục nào không giúp trả lời câu hỏi thì bỏ.
Báo cáo về các vấn đề tự nhiên
Bốn mẫu đầu đi từ tư liệu khoa học đến số đo, số đếm do học sinh tự làm. Chúng hợp với đề Chân trời sáng tạo (vấn đề tự nhiên mà nhiều người quan tâm) và gợi ý của Kết nối tri thức về các đề tài thiên nhiên, môi trường sống.
Mẫu 1: Bụi mịn PM2.5 những sáng mùa đông và hiện tượng nghịch nhiệt
Tình huống giả định: nhóm 3 lớp 11A2 của một trường THPT ở Hà Nội làm báo cáo trong bốn tuần đầu mùa đông; trạm đo, con số trong bảng đều do người viết đặt ra để minh họa.
Tên đề tài: Vì sao những sáng mùa đông lặng gió, bụi mịn quanh trường dày hơn? Tìm hiểu mối liên hệ giữa nghịch nhiệt và nồng độ PM2.5
Nhóm thực hiện: nhóm 3, lớp 11A2 (trưởng nhóm: Minh Khuê) – Thời gian: tháng Mười Một đến tháng Mười Hai
Tóm tắt. Nhiều buổi sáng, từ cửa sổ tầng ba, cả lớp không nhìn rõ dãy nhà cách trường chưa đầy một cây số. Báo cáo tìm hiểu hiện tượng nghịch nhiệt qua tài liệu báo chí và bách khoa, rồi so sánh nồng độ bụi mịn PM2.5 ghi được vào những sáng lặng gió với những sáng có gió mùa đông bắc. Kết quả cho thấy bụi mịn tăng rõ vào sáng sớm những ngày lặng gió, và giảm khi nắng lên hoặc khi có gió mạnh.
Từ khóa: bụi mịn PM2.5, nghịch nhiệt, mùa đông, chất lượng không khí, học sinh.
1. Mở đầu
1.1. Vì sao chọn đề tài. Giờ thể dục của khối 11 xếp vào tiết một. Cô giáo bộ môn nhiều lần phải cho cả lớp vào nhà vì không khí mù đặc. Nhóm muốn biết: hiện tượng ấy chỉ là sương mù, hay là bụi; nếu là bụi, vì sao nó dày nhất đúng vào lúc học sinh tập thể dục.
1.2. Câu hỏi nghiên cứu. (a) Nghịch nhiệt là gì và tác động thế nào tới bụi mịn? (b) Ở khu vực quanh trường, nồng độ PM2.5 lúc sáng sớm khác lúc giữa trưa ra sao, giữa ngày lặng gió và ngày có gió ra sao?
1.3. Phương pháp và phạm vi. Đọc năm nguồn tài liệu; ghi chỉ số PM2.5 hai lần mỗi ngày (6 giờ 30 và 12 giờ) từ một máy đo cầm tay đặt ở ban công tầng ba, trong mười ngày học (giả định). Mỗi ngày ghi thêm tình trạng gió, mưa, sương.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Cơ sở lí thuyết. PM2.5 là những hạt bụi có đường kính khoảng 2,5 micromet trở xuống, đủ nhỏ để đi sâu vào phổi (theo Wikipedia tiếng Anh, mục Particulate matter, và trang thông tin của Vinmec). Năm 2021, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hạ mức khuyến nghị nồng độ PM2.5 trung bình năm từ 10 xuống 5 µg/m³(1), như báo Nhân Dân và bách khoa mở cùng ghi nhận.
Bình thường, càng lên cao không khí càng lạnh. Nghịch nhiệt là khi trật tự ấy bị đảo: lớp không khí sát mặt đất lạnh hơn lớp phía trên. Bách khoa mở Wikipedia tiếng Việt ví lớp không khí ấm phía trên như một cái nắp; một cán bộ ngành môi trường của Hà Nội, được báo Pháp luật TP.HCM dẫn lời, thì gọi nó là chiếc mũ trùm, ngăn khói bụi bay lên cao. Theo bài báo này, ban đêm lớp không khí sát đất mất nhiệt nhanh, nên bụi mịn bị giữ lại; phải đợi nắng làm ấm mặt đất, bụi mới tản ra. Báo Tuổi Trẻ (2023) bổ sung: mùa hè mưa nhiều, gió mạnh nên bụi được rửa trôi; mùa đông ít mưa, lặng gió, chất ô nhiễm quẩn quanh ở tầm thấp.
2.2. Kết quả ghi chép (số liệu giả định).
| Nhóm ngày | Số ngày | PM2.5 lúc 6 giờ 30 (trung bình, µg/m³) | PM2.5 lúc 12 giờ (trung bình, µg/m³) |
|---|---|---|---|
| Lặng gió, có sương mù buổi sáng | 5 | 96 | 58 |
| Có gió mùa đông bắc thổi mạnh | 3 | 41 | 35 |
| Có mưa phùn hoặc mưa nhỏ | 2 | 47 | 39 |
Bảng 1. Nồng độ PM2.5 tại ban công tầng ba theo nhóm ngày (mười ngày; con số do người viết đặt ra).
Hai điều hiện ra từ bảng. Thứ nhất, buổi sáng luôn cao hơn buổi trưa, nhưng khoảng cách lớn nhất nằm ở nhóm ngày lặng gió: con số buổi sáng cao hơn gấp rưỡi buổi trưa. Điều này khớp với cơ chế báo chí mô tả: nắng lên phá lớp nắp, bụi được tản bớt. Thứ hai, những ngày có gió mạnh, buổi sáng và buổi trưa gần bằng nhau và đều thấp hơn hẳn. Cùng một khu phố, cùng lượng xe cộ, chỉ thời tiết khác đi mà không khí buổi sáng đã khác hẳn.
2.3. Bàn luận. Cần tránh một kết luận vội: nghịch nhiệt không sinh ra bụi. Theo chính bài báo Pháp luật TP.HCM, bụi chủ yếu do hoạt động của con người: khí thải xe cộ, công trình xây dựng, sản xuất công nghiệp; nghịch nhiệt chỉ giữ bụi lại gần mặt đất. Vì vậy, nếu chỉ chờ gió, ta chỉ đẩy bụi đi chỗ khác chứ không giảm được bụi.
3. Kết luận và khuyến nghị
Điều cả lớp thắc mắc giờ đã rõ: lớp mù trắng những sáng mùa đông không chỉ có hơi nước; trong đó có bụi mịn bị giữ lại bởi lớp nghịch nhiệt, và nó dày nhất vào khoảng thời gian học sinh tập thể dục. Nhóm khuyến nghị nhà trường xem chỉ số chất lượng không khí trước tiết một; những sáng chỉ số xấu thì chuyển nội dung vận động mạnh vào nhà thể chất, hoặc dời giờ thể dục sang buổi trưa.
Hạn chế. Máy đo cầm tay chưa được hiệu chuẩn với trạm quan trắc chính thức; mười ngày là quá ít để kết luận chắc chắn; nhóm chưa đo được nhiệt độ theo độ cao để xác nhận đúng những sáng ấy có nghịch nhiệt.
Chú thích. (1) µg/m³: microgam trên mét khối không khí, đơn vị đo khối lượng bụi trong một thể tích không khí.
Tài liệu tham khảo (xếp theo chữ cái tên nguồn). Nhân Dân điện tử, bài Năm 2021, không có quốc gia nào đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng không khí của WHO. – Pháp luật TP.HCM, bài Hà Nội nhiều ngày chất lượng không khí ở mức xấu. – Tuổi Trẻ Online (2023), bài Hà Nội ô nhiễm không khí: Mùa đông có phải nguyên nhân? – Vinmec, bài Cách nào làm sạch bụi mịn PM2.5? – Wikipedia tiếng Anh, mục Particulate matter; Wikipedia tiếng Việt, mục Nghịch nhiệt (truy cập tháng 10/2026).
Điểm cần học: phần cơ sở lí thuyết gom ý của nhiều nguồn và nêu tên từng nguồn ngay trong câu; phần bàn luận chặn trước cách hiểu sai của chính kết quả.
Mẫu 2: Đo nhiệt độ dưới tán cây và trên nền bê tông sân trường
Tình huống giả định: câu lạc bộ Khoa học của một trường THPT ở đồng bằng Bắc Bộ làm một thực nghiệm nhỏ trong tuần đầu tháng Năm; các số đo dưới đây do người viết đặt ra.
Đề tài: Chênh lệch nhiệt độ giữa ba điểm trong sân trường vào những ngày nắng đầu hè
Người thực hiện: câu lạc bộ Khoa học khối 11; người ghi số liệu: Hữu Thắng
1. Câu hỏi. Giờ ra chơi, học sinh dồn hết vào hai gốc xà cừ ở góc sân, để trống cả khoảng sân bê tông ở giữa. Chúng tôi muốn biết chỗ có bóng cây mát hơn bao nhiêu độ, và chênh lệch ấy thay đổi thế nào trong ngày.
2. Cách làm. Đặt ba nhiệt kế điện tử giống nhau ở độ cao khoảng một mét rưỡi: dưới tán xà cừ, giữa sân bê tông, dưới mái hiên hành lang. Ghi nhiệt độ lúc 7 giờ, 10 giờ, 13 giờ và 16 giờ trong năm ngày nắng liên tiếp, rồi tính trung bình.
3. Kết quả (số liệu giả định).
| Giờ đo | Dưới tán cây (°C) | Giữa sân bê tông (°C) | Dưới mái hiên (°C) |
|---|---|---|---|
| 7 giờ | 28,4 | 29,1 | 28,8 |
| 10 giờ | 31,0 | 34,6 | 32,2 |
| 13 giờ | 33,2 | 38,5 | 34,9 |
| 16 giờ | 32,1 | 36,8 | 33,6 |
Bảng 2. Nhiệt độ trung bình năm ngày tại ba điểm (số đo giả định của câu lạc bộ).
Buổi sáng sớm, ba điểm gần như ngang nhau. Từ 10 giờ, sân bê tông nóng vọt lên, và lúc 13 giờ thì chênh với chỗ dưới tán cây hơn năm độ. Đáng chú ý là con số lúc 16 giờ: nắng đã dịu nhưng sân bê tông vẫn nóng hơn chỗ có cây gần năm độ, như thể mặt sân trả lại cái nóng đã tích cả buổi. Mái hiên mát hơn sân nhưng vẫn kém bóng cây, nghĩa là chỉ che nắng thôi chưa đủ.
4. Lí giải. Kết quả khớp với điều tài liệu gọi là đảo nhiệt đô thị: Wikipedia tiếng Việt cho biết khu vực đô thị thường nóng hơn vùng xung quanh, nguyên nhân chính là bề mặt dùng nhiều vật liệu giữ nhiệt. Trang VOH giải thích thêm cách cây làm mát: tán lá tạo bóng râm, còn nước từ rễ đi lên lá rồi thoát ra không khí thành hơi, hoạt động như một chiếc máy điều hòa tự nhiên. Mái hiên chỉ có phần thứ nhất, nên kém cây.
5. Hạn chế. Nhiệt kế loại rẻ, không có hộp che nên ánh nắng chiếu thẳng có thể làm số đo giữa sân cao hơn thực tế; chúng tôi chỉ đo năm ngày, và chỉ ở một sân trường.
6. Đề xuất. Câu lạc bộ đề nghị trồng thêm hai cây bóng mát ở dải đất phía tây sân, nơi chiều nào cũng nắng gắt nhất, và không lát thêm bê tông lên phần đất còn lại quanh gốc cây.
Tài liệu tham khảo. VOH, bài 4 cách đảo nhiệt hiệu ứng đảo nhiệt đô thị. Wikipedia tiếng Việt, mục Đảo nhiệt đô thị, xem ngày 6/10/2026.
Điểm cần học: báo cáo thực nghiệm cần nói rõ dụng cụ đặt ở đâu, cao bao nhiêu, đo lúc nào; chính những chi tiết ấy giúp người đọc tự đánh giá số liệu.
Mẫu 3: Sạt lở bờ sông ở đồng bằng sông Cửu Long – nguyên nhân tự nhiên và con người
Tình huống giả định: Ngọc Diệp, học sinh lớp 11 sống gần sông Hậu, tự làm báo cáo tổng thuật tư liệu sau khi con đường ven sông em vẫn đi học bị rào lại vì sạt lở.
Nhan đề: Dòng sông thiếu phù sa: tổng thuật các nguyên nhân gây sạt lở bờ sông ở đồng bằng sông Cửu Long
Người thực hiện: Ngọc Diệp, học sinh lớp 11 (nhân vật giả định) – báo cáo cá nhân
Phần mở đầu
Vì sao em chọn vấn đề này. Một sáng đầu mùa mưa, đoạn đường đất ven sông em đi học có thêm hàng cọc tre và tấm biển cấm đi lại. Người lớn trong xóm bàn nhau đủ chuyện: do nước lớn, do sà lan chở cát, do nhà xây sát mép sông. Mỗi người một ý, và em muốn biết tài liệu nói gì.
Lịch sử vấn đề. Sạt lở ở miền Tây đã được báo chí và các nhà khoa học bàn nhiều năm. Một bài em đọc cho biết cả vùng có tới hàng trăm điểm sạt lở trên bờ sông và bờ biển; các bài khác cũng nhìn sạt lở như chuyện của cả đồng bằng, không phải của riêng một khúc sông.
Câu hỏi nghiên cứu. Đâu là nguyên nhân gốc, đâu là nguyên nhân trực tiếp? Phần nào thuộc về tự nhiên, phần nào do con người?
Phương pháp. Đọc và đối chiếu ba bài báo của Nhân Dân và VnExpress; chỉ giữ lại những nguyên nhân được ít nhất hai bài cùng nêu; lập bảng phân loại.
Phần nội dung
1. Nguyên nhân gốc: sông thiếu cát và phù sa. Cả hai báo đều dẫn ý kiến chuyên gia rằng gốc rễ của sạt lở là lượng cát và phù sa về đồng bằng giảm mạnh. VnExpress dẫn lời một chuyên gia của tổ chức WWF gọi đó là dòng nước đói: khi nước không còn mang đủ trầm tích để bồi lấp lòng sông, nó lấy đất ở hai bờ để bù. Phù sa ít đi vì hai lẽ: các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông giữ lại cát và phù sa, còn việc khai thác cát trên chính các dòng sông ở hạ lưu lấy đi phần còn lại.
2. Nguyên nhân làm sạt lở nặng thêm. Bài của Nhân Dân và bài Chạy lở bên sông Tiền của VnExpress cùng nêu: khai thác nước ngầm làm mặt đất sụt lún; triều cường dâng cao; rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển bị mất cho đất nuôi tôm. Những yếu tố này không trực tiếp kéo đất xuống sông, nhưng làm bờ yếu đi và hạ thấp mặt đất so với nước.
| Nhóm nguyên nhân | Biểu hiện | Thuộc về | Nguồn nêu |
|---|---|---|---|
| Thiếu cát, phù sa | Dòng nước đói xói đáy và bờ sông | Hệ quả của hoạt động con người ở thượng nguồn và hạ lưu | Nhân Dân; VnExpress |
| Thủy điện thượng nguồn | Giữ lại trầm tích trong lòng hồ | Con người | Nhân Dân; VnExpress |
| Khai thác cát | Đáy sông bị khoét sâu, bờ mất chân đỡ | Con người | Nhân Dân; VnExpress (hai bài) |
| Khai thác nước ngầm | Đất sụt lún | Con người | Nhân Dân; VnExpress |
| Triều cường, sóng, gió | Nước dâng, sóng đánh vào bờ | Tự nhiên | Nhân Dân; VnExpress |
| Mất rừng ngập mặn, rừng phòng hộ | Bờ biển không còn vành đai che chắn | Con người | Nhân Dân; VnExpress |
Bảng 3. Các nguyên nhân sạt lở được ít nhất hai bài báo cùng nêu (người viết tự phân loại).
Khi xếp vào bảng, em bất ngờ vì cột cuối: chỉ một dòng thuộc hẳn về tự nhiên. Điều người trong xóm hay nói nhất, nước lớn, hóa ra là nguyên nhân dễ thấy nhất nhưng không phải nguyên nhân sâu xa nhất. Cột ấy cũng cho thấy vấn đề vượt khỏi một con sông: có nguyên nhân nằm ở thượng nguồn, ngoài biên giới; có nguyên nhân nằm dưới chân từng nhà, trong từng giếng khoan.
3. Hai luồng ý kiến về giải pháp. Nhiều địa phương xây kè để giữ bờ. Tuy vậy, một chuyên gia sinh thái độc lập được báo Nhân Dân dẫn ý kiến cho rằng kè chỉ nên làm ở những nơi buộc phải bảo vệ: kè tốn kém, có tuổi thọ, và một khúc bờ quá kiên cố có thể khiến dòng sông xói sang chỗ khác. Cũng theo bài báo, các ý kiến chuyên gia nhấn mạnh việc quản lí khai thác cát, giảm khai thác nước ngầm và lập bản đồ rủi ro sạt lở. Em thấy hai hướng không loại trừ nhau: kè cứu những chỗ nguy cấp trước mắt, còn giữ cát, giữ phù sa mới chạm tới nguyên nhân.
Phần kết luận
Sạt lở bờ sông ở đồng bằng sông Cửu Long là kết quả của nhiều nguyên nhân chồng lên nhau, trong đó nguyên nhân gốc là dòng sông thiếu cát và phù sa. Phần lớn các nguyên nhân em tìm được đều gắn với hoạt động của con người, nên cũng có thể giảm bớt bằng hoạt động của con người.
Hạn chế. Báo cáo chỉ dựa trên ba bài báo, chưa đọc được công trình khoa học gốc; em chưa có số đo nào ở chính khúc sông nhà mình. Hướng tìm hiểu tiếp: hỏi cán bộ xã về lịch sử sạt lở ở đoạn đường bị rào, và so sánh với ảnh chụp bờ sông của gia đình qua các năm.
Tài liệu tham khảo. [1] Nhân Dân, Miền Tây, bao giờ hết nỗi lo sạt lở? [2] VnExpress, Chạy lở bên sông Tiền. [3] VnExpress, Dòng Mekong giận dữ. Cả ba bài em đọc bản điện tử trong tuần đầu tháng Mười năm 2026.
Điểm cần học: với báo cáo tổng thuật, quy tắc giữ lại thông tin có ít nhất hai nguồn cùng nêu nên được viết ngay trong phần phương pháp; cột nguồn trong bảng giúp người đọc kiểm lại.
Mẫu 4: Một giờ nhặt rác nhựa trên một trăm mét bãi biển
Tình huống giả định: sáng Chủ nhật đầu tháng Chín, sáu thành viên một câu lạc bộ Môi trường ở thị trấn ven biển miền Trung đi nhặt rác; Gia Hưng viết bản báo cáo ngắn cho bản tin, số mẩu rác đếm được chỉ để minh họa.
Báo cáo kết quả đếm và phân loại rác nhựa trên một đoạn bãi biển
Người viết: Gia Hưng (lớp 11) – Ngày thực hiện: một sáng Chủ nhật đầu tháng Chín, từ 6 giờ đến 7 giờ
Trong đúng sáu mươi phút, sáu thành viên nhặt được 412 mẩu rác nhựa trên một đoạn bãi dài khoảng một trăm mét, tính từ mép nước lên tới chân hàng dương. Mục đích của buổi làm không chỉ là dọn bãi, mà để biết loại rác nào nhiều nhất, từ đó chọn đúng việc cần tuyên truyền.
Cách làm. Chia đoạn bãi thành ba dải: mép nước, giữa bãi, chân hàng dương. Mỗi dải hai người nhặt, bỏ vào bao theo loại, đếm ngay tại chỗ; mẩu nào nhỏ hơn đốt ngón tay thì không đếm.
| Loại rác | Mép nước | Giữa bãi | Chân hàng dương | Cộng |
|---|---|---|---|---|
| Túi nilon, mảnh túi | 38 | 47 | 66 | 151 |
| Chai, nắp chai nhựa | 22 | 31 | 43 | 96 |
| Mảnh xốp | 41 | 18 | 9 | 68 |
| Ống hút, cốc nhựa dùng một lần | 6 | 15 | 34 | 55 |
| Dây, lưới đánh cá | 29 | 8 | 5 | 42 |
Bảng 4. Số mẩu rác nhựa theo loại và theo dải bãi (số liệu giả định).
Nhận xét. Túi nilon chiếm hơn một phần ba tổng số, đứng đầu ở cả ba dải. Rác ở chân hàng dương nhiều nhất và chủ yếu là túi, cốc, ống hút, tức đồ của người đến chơi bỏ lại sau những buổi ngồi hóng mát. Ở mép nước lại nhiều mảnh xốp và dây lưới, loại rác có lẽ trôi từ biển vào: xốp nhẹ, nổi lâu, sóng đánh dạt lên; dây lưới thì gợi tới thuyền đánh cá. Bảng số liệu vì thế cho thấy bãi biển này chịu rác từ hai phía, từ bờ và từ biển. Một tấm biển nhắc khách mang rác về chỉ giải quyết được khoảng một nửa vấn đề; nửa còn lại cần những người làm nghề trên biển cùng tham gia.
Hạn chế. Chỉ đếm một lần, vào sáng Chủ nhật sau một ngày cuối tuần đông khách; rác vụn không được tính nên tổng số thực tế chắc chắn cao hơn.
Đề nghị gửi bản tin. Đặt thêm thùng rác ở lối xuống bãi phía hàng dương, nơi rác dày nhất; in bảng số liệu này lên tờ rơi phát cho các quán ven bãi. Đợt sau, câu lạc bộ sẽ đếm lại vào một sáng giữa tuần để so sánh, và mang theo cân để ghi thêm khối lượng, vì một mảnh lưới nặng hơn nhiều chiếc ống hút.
Điểm cần học: báo cáo ngắn vẫn đủ mục đích, cách làm, bảng, nhận xét, hạn chế; chia bãi thành dải giúp con số tự nói lên nguồn gốc của rác.
Báo cáo khảo sát đời sống học đường
Ba mẫu sau là đề tài xã hội gần với học sinh, hợp với gợi ý của Cánh diều. Mỗi mẫu dùng một cách thu dữ liệu khác: phiếu hỏi, phân tích ngữ liệu tin nhắn, khảo sát chọn nhiều phương án.
Mẫu 5: Giờ ngủ của học sinh lớp 11 trong mùa thi
Tình huống giả định: chuông tiết một vang lên, nửa lớp vẫn gục đầu xuống bàn; nhóm 2 lớp 11C (người trình bày: Tường Vi) quyết định khảo sát giờ ngủ của khối trong hai tuần ôn thi cuối kì, các con số trong hai bảng không phải số thật.
Tên đề tài: Khối 11 ngủ bao nhiêu giờ trong mùa thi, và vì sao?
Nhóm thực hiện: nhóm 2, lớp 11C
1. Vấn đề và câu hỏi. Khuyến nghị của Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (AASM), được VietNamNet đưa tin, là thanh thiếu niên từ 13 đến 18 tuổi nên ngủ từ 8 đến 10 giờ mỗi ngày; một bài trên Znews cũng nêu đúng mức này. Nhóm đặt hai câu hỏi: trong mùa thi, bao nhiêu bạn khối 11 đạt mức ấy; và điều gì khiến các bạn thức khuya?
2. Phương pháp. Phiếu hỏi ẩn danh, phát cho 150 học sinh ở năm lớp khối 11 vào thứ Sáu của tuần ôn thi thứ hai. Mỗi bạn ghi giờ đi ngủ, giờ thức dậy trung bình của năm đêm trước, và chọn tối đa hai lí do ngủ muộn. Thu về 142 phiếu hợp lệ; 8 phiếu bỏ trống giờ ngủ bị loại.
3. Kết quả
| Thời lượng ngủ mỗi đêm | Số bạn | Tỉ lệ (trên 142) |
|---|---|---|
| Dưới 6 giờ | 39 | 27,5% |
| Từ 6 đến dưới 7 giờ | 58 | 40,8% |
| Từ 7 đến dưới 8 giờ | 33 | 23,2% |
| Từ 8 giờ trở lên | 12 | 8,5% |
Bảng 5. Thời lượng ngủ trung bình trong tuần ôn thi (142 phiếu, số liệu giả định).
Chưa đến một phần mười số bạn ngủ đủ mức khuyến nghị. Nhóm đông nhất ngủ từ sáu đến bảy tiếng, và gần ba mươi phần trăm ngủ chưa tới sáu tiếng.
| Lí do ngủ muộn (chọn tối đa hai) | Số lượt chọn |
|---|---|
| Ôn bài, làm đề | 104 |
| Dùng điện thoại, mạng xã hội sau khi học xong | 71 |
| Học thêm buổi tối về muộn | 46 |
| Khó ngủ vì lo lắng | 29 |
Bảng 6. Lí do ngủ muộn (số lượt chọn, một bạn có thể chọn hai lí do nên tổng lớn hơn 142).
Ôn bài là lí do hàng đầu, điều dễ đoán. Điều nhóm không ngờ là lí do thứ hai: hơn bảy mươi lượt chọn thừa nhận đã học xong mà vẫn cầm điện thoại. Khi tách riêng 39 bạn ngủ dưới sáu tiếng, có 25 bạn chọn lí do này. Tuy nhiên, nhóm không dám nói điện thoại là nguyên nhân khiến các bạn ngủ ít, vì có thể ngược lại: bạn nào căng thẳng, khó ngủ thì mới lướt điện thoại lâu.
4. Kết luận và kiến nghị. Trong mùa thi, phần lớn học sinh khối 11 được hỏi ngủ ít hơn mức khuyến nghị khá xa. Nhóm kiến nghị giáo viên chủ nhiệm nhắc lịch ôn tập rải đều từ sớm thay vì dồn vào hai tuần cuối, và mỗi bạn thử một tuần đặt điện thoại ngoài phòng ngủ sau khi học xong rồi tự so sánh.
Hạn chế của nghiên cứu. Giờ ngủ do học sinh tự nhớ và tự khai, không đo bằng thiết bị; khảo sát chỉ diễn ra trong mùa thi nên chưa so được với thời gian bình thường; mối liên hệ giữa điện thoại và giờ ngủ mới là tương quan.
Tài liệu tham khảo. VietNamNet (bản tiếng Anh), bài Too little sleep linked to health problems in children, teens. Znews, bài Trẻ ngủ bao nhiêu là đủ? Phiếu khảo sát của nhóm (phụ lục, giả định).
Điểm cần học: khi hai hiện tượng đi cùng nhau, báo cáo phải dừng ở chữ liên quan, chưa được viết chữ gây ra; dòng chú thích dưới bảng nói rõ vì sao tổng lượt chọn vượt số phiếu.
Mẫu 6: Từ lóng và kiểu viết tắt trong tin nhắn nhóm lớp
Tình huống giả định: Khôi Nguyên đọc to một tin nhắn nhóm lớp cho mẹ nghe và mẹ không hiểu nổi một nửa; từ đó em làm một báo cáo nhỏ về ngôn ngữ mạng, các số đếm trong bài được đặt ra để làm mẫu.
Đề tài nghiên cứu: Ngôn ngữ trong tin nhắn nhóm của một lớp 11: thống kê, phân loại và giới hạn sử dụng
Người thực hiện: Khôi Nguyên, lớp 11 (báo cáo cá nhân)
1. Đặt vấn đề. Tối hôm ấy, mẹ hỏi một câu đơn giản: các con nói với nhau bằng thứ tiếng gì vậy? Câu hỏi làm em tò mò: trong tin nhắn của lớp, những kiểu viết lạ chiếm bao nhiêu, gồm những loại nào, và chúng có lọt vào bài viết ở trường không.
2. Ngữ liệu và đạo đức nghiên cứu. Em xin phép cả lớp trước, chỉ lấy 300 tin nhắn liên tiếp trong một tuần, xóa tên người gửi, không chép nguyên tin nhắn nào vào báo cáo. Em cũng xin cô giáo cho xem lại 40 bài kiểm tra Ngữ văn gần nhất của lớp (đã che tên) để dò xem có từ nào từ tin nhắn đi vào bài viết.
3. Kết quả
| Loại | Mô tả (ví dụ do người viết tự đặt) | Số tin nhắn có (trên 300) |
|---|---|---|
| Viết tắt | Bỏ dấu, rút gọn từ quen như ko, đc, j | 187 |
| Từ tiếng Anh xen vào | deadline, team, check | 96 |
| Từ lóng mới | Từ có nghĩa riêng trong nhóm tuổi teen | 61 |
| Biến âm có chủ ý | Kéo dài âm, đổi phụ âm để làm duyên | 44 |
| Chỉ dùng biểu tượng, nhãn dán | Không có chữ | 38 |
Bảng 7. Các kiểu ngôn ngữ mạng trong 300 tin nhắn (một tin có thể thuộc nhiều loại; số liệu giả định).
Viết tắt xuất hiện trong gần hai phần ba số tin nhắn, chủ yếu để gõ nhanh. Từ lóng thực sự mới ít hơn em tưởng. Kết quả thứ hai đáng chú ý hơn: trong 40 bài kiểm tra, em chỉ tìm thấy 3 bài có từ viết tắt và 2 bài có từ tiếng Anh xen vào, đều ở phần nháp hoặc câu kết vội.
4. Bàn luận. Có hai cách nhìn trái ngược. Một bên lo ngôn ngữ mạng làm hỏng tiếng Việt; bên kia coi nó là một phương ngữ của tuổi teen, sinh ra rồi mất đi. Số liệu nhỏ của em nghiêng về chỗ giữa: phần lớn các bạn biết đổi giọng theo hoàn cảnh, nhưng vẫn có lúc vội vàng để thói quen gõ tắt lọt vào trang giấy.
5. Kết luận và đề xuất. Ngôn ngữ mạng trong lớp chủ yếu là viết tắt để nhanh, ít khi đi vào bài viết chính thức. Em đề xuất mỗi bạn tự đọc lại đoạn kết bài trước khi nộp, vì đó là chỗ thói quen gõ tắt dễ lọt vào nhất.
Hạn chế. Ngữ liệu của một lớp, trong một tuần; việc xếp loại do một người làm nên có thể chủ quan.
Tài liệu tham khảo. Ngữ liệu tin nhắn của lớp (đã ẩn danh, giả định); 40 bài kiểm tra đã che tên (giả định).
Điểm cần học: nghiên cứu dùng tin nhắn hay bài làm của người khác phải xin phép và ẩn danh, và nên nói rõ điều đó trong báo cáo; ví dụ minh họa do người viết tự đặt thì ghi như vậy.
Mẫu 7: Học sinh đọc sách giấy, sách điện tử hay nghe sách nói?
Tình huống giả định: thư viện trường đang phân vân giữa mua thêm sách giấy và đăng kí một ứng dụng sách nói; Minh Triết, cộng tác viên thư viện, hỏi nhanh 60 bạn khối 11, số liệu giả định.
Báo cáo nhanh gửi cô phụ trách thư viện
Người thực hiện: Minh Triết (lớp 11) – Hình thức: phiếu hỏi trực tuyến, ba ngày
Báo cáo này trả lời một câu hỏi thực tế: trong một tháng gần đây, học sinh khối 11 đọc bằng hình thức nào, để thư viện chia ngân sách cho hợp lí. Cô phụ trách cần câu trả lời trước buổi họp tổ cuối tháng, nên em chọn cách hỏi nhanh thay vì một khảo sát dài.
Cách làm. Phiếu có hai câu: hình thức đã dùng trong tháng (chọn nhiều phương án) và hình thức thích nhất (chọn một). Đường dẫn phiếu gửi vào nhóm chung của sáu lớp khối 11, mở trong ba ngày; khi đủ 60 câu trả lời thì em khóa phiếu. Sách giáo khoa và tài liệu ôn thi không tính, chỉ tính sách đọc thêm.
| Hình thức | Đã dùng trong tháng (60 bạn) | Thích nhất |
|---|---|---|
| Sách giấy | 38 | 27 |
| Sách điện tử trên điện thoại, máy tính bảng | 29 | 14 |
| Sách nói | 21 | 13 |
| Không đọc cuốn nào / không chọn hình thức nào | 9 | 6 |
Bảng 8. Hình thức đọc của 60 học sinh khối 11 (cột thứ hai chọn nhiều phương án nên tổng vượt 60; số liệu giả định).
Sách giấy vẫn được dùng và được thích nhiều nhất. Nhưng cột thứ hai cho thấy nhiều bạn dùng hai, ba hình thức cùng lúc: đọc sách giấy ở nhà, nghe sách nói khi đi xe buýt. Khi em hỏi thêm vài bạn chọn sách nói, các bạn hay nhắc tới quãng đường đi học dài và thói quen nghe khi làm việc nhà. Sách điện tử được dùng nhiều nhưng ít được chọn là thích nhất: mấy bạn nói đọc trên điện thoại tiện nhưng dễ bị tin nhắn cắt ngang.
Một chi tiết nhỏ: trong chín bạn không đọc cuốn nào suốt tháng, có sáu bạn cũng không chọn được hình thức nào mình thích. Với nhóm này, câu chuyện không nằm ở giấy hay màn hình.
Đề xuất. Giữ phần lớn ngân sách cho sách giấy, thử đăng kí sách nói trong một học kì rồi xem số lượt nghe trước khi gia hạn. Với nhóm chưa đọc gì, có lẽ cần một hoạt động giới thiệu sách hơn là một hình thức mới.
Hạn chế. Sáu mươi phiếu, gửi qua nhóm lớp nên bạn nào thích đọc sẽ trả lời nhiều hơn; kết quả có thể đẹp hơn thực tế.
Điểm cần học: với câu hỏi chọn nhiều phương án, phải giải thích vì sao tổng vượt số người; một hạn chế về cách chọn mẫu đáng viết hơn mười câu khen kết quả.
Báo cáo về văn hóa và cảnh quan
Hai mẫu cuối đặt văn hóa trong quan hệ với tự nhiên và thời gian: một di sản đô thị sống chung với lũ, và một thói quen ăn quà được ghi lại trong một tập bút kí. Mẫu 8 hợp với chủ đề Nét đẹp văn hóa và cảnh quan của Chân trời sáng tạo; mẫu 9 hợp với bài tùy bút, tản văn của Cánh diều.
Mẫu 8: Đô thị cổ Hội An mùa lũ – một di sản sống chung với nước
Tình huống giả định: tấm ảnh chiếc thuyền chở khách đi giữa phố cổ được cả lớp chia nhau xem; nhóm 4 (người tổng hợp: Như Ý) quyết định tìm hiểu vì sao Hội An ngập gần như năm nào mà vẫn giữ được phố cũ. Ba lời phỏng vấn ở mục 3 do người viết hình dung.
Nhan đề báo cáo: Sống chung với nước: cách người dân phố cổ Hội An ứng phó với mùa lũ
Nhóm thực hiện: nhóm 4, lớp 11 (giả định) – Từ khóa: Hội An, sông Hoài, lũ lụt, di sản đô thị, thích ứng
Tóm tắt. Nhóm gom tin tức về các trận lũ ở Hội An trên ba tờ báo, kết hợp ba cuộc phỏng vấn qua điện thoại (giả định), để trả lời câu hỏi: một đô thị cổ được UNESCO ghi danh đã quen với lũ bằng những cách nào, và lũ đặt ra thách thức gì cho việc giữ di sản.
1. Mở đầu
Ngày 4 tháng 12 năm 1999, UNESCO ghi danh Đô thị cổ Hội An là di sản văn hóa thế giới (theo Wikipedia tiếng Việt và Tạp chí Công Thương). Hội An nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, nay thuộc thành phố Đà Nẵng; các dãy phố cổ chạy dọc sông Hoài, một nhánh nhỏ của Thu Bồn. Chính vị trí làm nên thương cảng xưa cũng khiến phố cổ đón lũ gần như hằng năm. Nhóm muốn biết: người Hội An chống chọi hay thích nghi?
2. Kết quả tổng hợp tư liệu
2.1. Lũ đến từ đâu. Theo VnExpress (15/11/2023), trong một đợt lũ, các thủy điện thượng nguồn xả lũ cùng lúc với thủy triều dâng cao khiến nước tràn lên các tuyến phố ven sông Hoài, có nơi ngập tới một mét. Báo Sài Gòn Giải Phóng (27/10/2025) ghi nhận nhiều đoạn phố như Bạch Đằng, Nguyễn Thái Học ngập sâu, người dân phải dùng thuyền để đi lại.
2.2. Người dân thích ứng thế nào. Các bài báo cùng mô tả một cách làm: khi nước lên, người dân kê cao đồ đạc, chuyển hàng hóa lên tầng trên hoặc lên gác; nước đến đâu dọn đến đó. Một người dân ở vùng trũng ven Thu Bồn kể với VnExpress (8/10/2020) rằng mùa lũ nào nhà ông cũng buộc sẵn chiếc ghe sau nhà, phòng khi nước lên cao.
| Cách thích ứng | Nơi ghi nhận | Ý nghĩa với di sản |
|---|---|---|
| Kê cao đồ, đưa hàng lên tầng trên, lên gác | VnExpress (2020); Sài Gòn Giải Phóng (2025) | Giảm thiệt hại nhưng phụ thuộc vào kết cấu nhà có tầng trên |
| Đi lại bằng ghe, thuyền trong phố ngập | VnExpress (2023); Sài Gòn Giải Phóng (2025) | Phố vẫn sống trong ngày lũ, nhưng du lịch gián đoạn |
| Để ý gió, triều và việc thủy điện thượng nguồn xả nước để đoán lũ | VnExpress (2020); nguyên nhân được nêu lại ở VnExpress (2023) | Kinh nghiệm thời tiết phải cộng thêm thông tin về hồ chứa |
Bảng 9. Những cách thích ứng với lũ được báo chí ghi nhận (nhóm tổng hợp).
3. Ba cuộc phỏng vấn (giả định)
Nhóm gọi điện cho ba người: một chủ cửa hàng lưu niệm trên phố ven sông, một hướng dẫn viên du lịch và một bác đã nghỉ hưu sống trong phố cổ. Cả ba đều nói lũ là chuyện quen. Điều khiến họ lo lại là bùn: nước rút đi để lại lớp bùn bám vào sàn, chân tường, và việc dọn dẹp mất nhiều ngày. Người hướng dẫn viên kể khách nước ngoài thường ngạc nhiên vì sau lũ vài hôm, phố đã mở cửa đón khách như cũ.
4. Bàn luận
Từ tư liệu, nhóm thấy người Hội An không xem lũ là kẻ thù phải chặn bằng mọi giá; họ sắp xếp đời sống để nước đi qua rồi dọn dẹp. Cách ấy giữ được phố cũ, vì không phải xây tường chắn hay nâng nền làm đổi diện mạo đô thị. Tuy vậy, thông tin về thủy điện xả lũ trong các bài báo cho thấy lũ hôm nay không hoàn toàn là lũ tự nhiên như thời người xưa dựng phố. Kinh nghiệm cũ cần được bổ sung bằng thông tin cảnh báo kịp thời.
5. Kết luận
Hội An là một ví dụ về di sản sống chung với nước: người dân thích ứng bằng cách kê cao, dọn theo nước, đi lại bằng thuyền, chứ không chống lại dòng sông. Báo cáo còn hẹp ở mấy chỗ: nhóm chưa đến Hội An vào mùa lũ, chưa đọc tài liệu chuyên môn về kiến trúc nhà cổ, ba lời phỏng vấn chỉ là ví dụ minh họa. Câu hỏi nhóm muốn tìm hiểu tiếp: các nhà cổ chịu ngập hằng năm được trùng tu như thế nào để vừa giữ nguyên dạng, vừa chịu được nước?
Tài liệu tham khảo. Sài Gòn Giải Phóng (27/10/2025), Người dân phố cổ Hội An tất bật chạy lũ. – Tạp chí Công Thương, Quảng Nam: Kỷ niệm 25 năm Đô thị cổ Hội An được công nhận Di sản văn hóa thế giới. – VnExpress (8/10/2020), Người Hội An phòng tránh lũ. – VnExpress (15/11/2023), Phố cổ Hội An ngập nửa mét. – Wikipedia tiếng Việt, mục Phố cổ Hội An, xem lần cuối ngày 5/10/2026.
Điểm cần học: tin báo chí nên ghi kèm ngày đăng, vì mỗi trận lũ một khác; cột nơi ghi nhận cho người đọc thấy ý nào đã có hai nguồn, ý nào mới dựa vào một bài.
Mẫu 9: Quà Hà Nội trong trang văn Thạch Lam và hàng quà hôm nay
Tình huống giả định: Thùy Dương đọc mấy trang bút kí của Thạch Lam trong giờ tự học, rồi dành hai buổi sáng cuối tuần đi quanh một khu phố cũ của Hà Nội để so sánh; những gì ghi ở cột cuối bảng là quan sát giả định.
Tên báo cáo: Ăn quà theo giờ: hàng quà Hà Nội trong bài Quà Hà Nội của Thạch Lam và một buổi quan sát hôm nay
Người thực hiện: Thùy Dương, học sinh lớp 11, tự làm một mình
1. Mở đầu. Tiếng rao bánh mì lúc tảng sáng ngoài ngõ nhà em làm em nhớ một đoạn văn đã đọc: trong bài Quà Hà Nội, Thạch Lam kể rằng trời vừa rạng, tiếng rao bánh Tây đã hòa vào tiếng chổi của người quét phố, và đấy là bữa quà của thợ thuyền đi làm từ sớm. Thạch Lam (1910–1942) là nhà văn Tự lực văn đoàn; tập bút kí Hà Nội băm sáu phố phường được in năm 1943, sau khi ông mất (theo Wikipedia tiếng Việt và báo Pháp luật Việt Nam). Câu hỏi của báo cáo: trong trang văn ấy, hàng quà được tổ chức theo cách nào, và cách ấy còn lại bao nhiêu trong phố hôm nay?
2. Hàng quà trong văn bản. Đọc bài Quà Hà Nội trên Wikisource, em nhận ra Thạch Lam không liệt kê món ăn theo loại, mà theo đồng hồ và theo người bán. Ông viết rằng mỗi giờ có một thứ quà, và người sành ăn là người biết ăn đúng giờ, chọn đúng người bán; với ông, ăn quà là một nghệ thuật. Rạng sáng là bánh Tây; sau đó là bánh cuốn Thanh Trì, thứ bánh ông tả là “mỏng như tờ giấy và trong như lụa”, do những người bán đội mẹt từ phía Lò Lợn đi vào phố. Mùa nực có xôi, cháo; có ngô bung(1) của một bà già trên Yên Phụ, mỗi sáng đi một đường nhất định suốt hơn hai mươi năm; có cơm nắm cho các cô đi chợ; và phở gánh, thứ quà ăn được cả sáng, trưa, tối.
| Món quà trong bài | Thời điểm, người bán theo văn bản | Quan sát hôm nay (giả định) |
|---|---|---|
| Bánh Tây | Tảng sáng, cho thợ đi làm sớm | Xe bánh mì đẩy và hai cửa hàng bánh mì mở từ sớm |
| Bánh cuốn Thanh Trì | Buổi sáng, người bán đội mẹt vào phố | Một hàng ngồi vỉa hè, hai quán có bàn ghế; không thấy người đội mẹt |
| Xôi, cháo | Theo mùa: mùa nực, mùa rét | Ba gánh xôi buổi sáng; cháo bán quanh năm ở quán |
| Ngô bung | Một bà già đi một đường quen hơn hai mươi năm | Không gặp |
| Phở gánh | Đỗ một chỗ quen, bán cả ngày | Phở bán trong quán; không còn gánh |
Bảng 10. Hàng quà trong bài Quà Hà Nội và quan sát hai buổi sáng ở một khu phố cũ (cột thứ ba là số liệu giả định).
3. Bàn luận. Phần lớn món quà còn, nhưng người bán đã đổi chỗ: từ gánh, mẹt đi rong vào quán có biển hiệu. Điều mất đi rõ nhất là cái nhịp mà Thạch Lam ghi lại, khi người phố biết giờ nào bà hàng nào đi qua cửa. Mặt khác, có những thứ được giữ bằng cách mới: theo Báo Văn Hóa (17/3/2026) và báo Việt Nam News, nghề làm bánh cuốn Thanh Trì vừa được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Thứ quà đi rong trong trang văn năm xưa nay được nhìn nhận như một tri thức nghề cần bảo vệ.
4. Kết luận. Trong bài Quà Hà Nội, hàng quà được sắp theo giờ trong ngày và theo con người bán hàng, nên trang văn vừa là chuyện ăn uống vừa là chân dung phố phường. Hôm nay, món ăn phần nhiều còn, nhưng nhịp đi rong theo giờ đã thưa hẳn.
Giới hạn. Em mới đọc hai bài trong tập (Quà Hà Nội và Còn quà Hà Nội); quan sát chỉ hai buổi sáng ở một khu phố, không đại diện cho cả thành phố.
Chú thích. (1) Ngô bung: trong văn bản, Thạch Lam ghi kèm tên gọi khác là xôi lúa.
Tài liệu tham khảo. Báo Văn Hóa (2026), Nghề bánh cuốn Thanh Trì: Từ gánh rong phố cổ đến di sản quốc gia. – Đại Đoàn Kết, Bánh cuốn Thanh Trì, một hành trình mỹ vị (đối chiếu đoạn trích). – Pháp luật Việt Nam, Thạch Lam của Hà Nội băm sáu phố phường. – Thạch Lam, Hà Nội băm sáu phố phường, bài Quà Hà Nội và Còn quà Hà Nội, bản trên Wikisource tiếng Việt. – Việt Nam News, Thanh Trì steamed rice rolls added to list of National Intangible Cultural Heritage.
Điểm cần học: khi đề tài xuất phát từ một tác phẩm văn học, câu trích phải chép đúng nguyên văn và đối chiếu ở hai nơi; phần quan sát giả định tách riêng thành một cột để không lẫn với điều văn bản viết.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi | Sửa thế nào |
|---|---|
| Chọn đề tài cỡ cả nước, cả thế giới (ô nhiễm môi trường, văn hóa đọc). | Thu về một nơi, một nhóm người, một khoảng thời gian: một sân trường, một đoạn bãi, một khối lớp, một mùa thi. |
| Không có câu hỏi nghiên cứu, chỉ có chủ đề. | Viết câu hỏi có dấu chấm hỏi ngay ở phần mở đầu; kết luận phải trả lời đúng câu ấy. |
| Bảng không số thứ tự, không tên, không đơn vị. | Đánh số bảng, đặt tên, ghi đơn vị đo và nguồn (hoặc ghi rõ số liệu tự thu, giả định). |
| Thấy hai hiện tượng đi cùng nhau liền kết luận cái này gây ra cái kia. | Dùng chữ liên quan, đi kèm; nói rõ còn cách giải thích khác. |
| Trích tin trên mạng mà không biết ai viết, viết khi nào. | Ghi tên báo, tên bài, ngày đăng hoặc ngày truy cập; dữ kiện quan trọng đối chiếu ở hai nguồn. |
| Bỏ trống phần hạn chế, vì sợ bị trừ điểm. | Hạn chế viết thật làm báo cáo đáng tin hơn; nêu cỡ mẫu, dụng cụ đo, thời gian khảo sát. |
| Danh mục tài liệu tham khảo tự nghĩ ra tên sách, tên người viết cho có vẻ học thuật. | Chỉ ghi nguồn đã đọc thật; không có sách thì ghi bài báo, trang bách khoa, phiếu khảo sát của nhóm. |
| Viết giọng nghị luận, kêu gọi, cảm thán. | Câu ngắn, khách quan; khuyến nghị gửi tới người cụ thể (thư viện, giáo viên chủ nhiệm, câu lạc bộ). |
Gợi ý bài nói: Trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu
Cả ba bộ đều có phần Nói và nghe ngay sau bài viết này. Kết nối tri thức nhấn vào việc kết hợp lời nói với phương tiện phi ngôn ngữ; hai bộ còn lại yêu cầu trình bày kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội. Vài cách chuyển bản viết thành phần trình bày:
- Mở đầu bằng điều khiến mình bắt tay vào nghiên cứu (lớp mù trắng ngoài cửa sổ, đoạn đường bị rào), rồi nêu câu hỏi.
- Không đọc cả bảng; chọn một hai con số đáng nhớ nhất, nói to và giải thích nghĩa của chúng.
- Khi đưa dữ kiện, nói tên nguồn bằng lời: theo báo…, theo bách khoa…
- Dành ba mươi giây cho hạn chế; người nghe thường đặt câu hỏi đúng vào chỗ ấy, chuẩn bị trước câu trả lời.
Một cách mở lời: Em chào cô và các bạn. Tuần đầu tháng Năm, nhóm em đặt ba cái nhiệt kế ở ba chỗ trong sân. Lúc một giờ chiều, trung bình chiếc ở giữa sân chỉ 38,5 độ, còn chiếc dưới gốc xà cừ chỉ 33,2 độ. Hôm nay nhóm em xin trình bày vì sao năm độ ấy lại quan trọng với giờ ra chơi của chúng ta.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Nếu cần một báo cáo đủ mục theo bố cục Chân trời sáng tạo, đọc mẫu 1 (có tóm tắt, từ khóa, cơ sở lí thuyết, cước chú) và mẫu 8. Muốn luyện thao tác tổng thuật và đánh giá nguồn như Kết nối tri thức yêu cầu, đọc mẫu 3. Học sinh Cánh diều làm bài tập về mạng xã hội nên xem mẫu 5 và mẫu 6 để học cách thiết kế phiếu hỏi, xin phép và ẩn danh; mẫu 9 gắn với bài tùy bút của tập hai. Mẫu 2, 4, 7 ngắn, hợp khi phải viết trên lớp trong một tiết. Mọi con số đo, đếm, hỏi được trong chín mẫu đều do người viết đặt ra; khi làm bài thật, hãy tự đo, tự hỏi và ghi đúng những gì mình thu được.
Xem thêm:
- Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài và Sống, hay không sống – đó là vấn đề (Kết nối tri thức 11, Bài 5)
- Soạn bài Đồ gốm gia dụng của người Việt, Sơn Đoòng – thế giới chỉ có một, Cung đường của kí ức, hiện tại và tương lai, Chân quê (Chân trời sáng tạo 11, Bài 4)
- Soạn bài Thương nhớ mùa xuân và Vào chùa gặp lại (Cánh diều 11, Bài 7)
- Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề (lớp 10)
- Viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội (lớp 11)
- Tác giả Thạch Lam: cuộc đời và sự nghiệp và Một thứ quà của lúa non: Cốm