Sáu trang cuối sách Ngữ văn 12 tập hai bộ Chân trời sáng tạo (trang 120–125) là chặng ôn tập cuối cùng của cả chương trình phổ thông, nên sách gộp hai việc vào một khối mang tên Ôn tập cuối học kì II và hệ thống hoá về văn học Việt Nam. Phần đầu có 13 câu ôn lại bốn bài của học kì II: thơ có yếu tố tượng trưng, siêu thực; tiểu thuyết hiện đại; tác gia Hồ Chí Minh và văn nghị luận; văn bản thông tin. Phần sau in bài đọc Nhìn chung về các chặng đường phát triển của văn học Việt Nam rồi đặt 5 câu hỏi để học sinh tự dựng lại “bản đồ” văn học dân tộc từ văn học dân gian tới hôm nay. Trang này soạn đủ 18 câu của Ôn tập học kì II Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, có bảng văn bản Bài 6–9 dẫn tới bài soạn và một đề kiểm tra tự soạn kèm đáp án với ngữ liệu là một đoạn tiểu thuyết viết riêng cho bài luyện. Danh sách mọi bài học của bộ sách có tại Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo.

Soạn bài Ôn tập học kì II Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo (trang 120–121)
13 câu bám theo bốn bài học, sau đó tới phần tiếng Việt và các kĩ năng viết, nói; đây cũng là những dạng câu đề thi tốt nghiệp hay hỏi.
Đọc hiểu văn bản (câu 1–6)
Câu 1 (trang 120): Yếu tố tượng trưng, siêu thực trong Đàn ghi ta của Lor-ca
Xác định yếu tố tượng trưng hoặc siêu thực trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo), ý nghĩa và vai trò của yếu tố đó trong việc thể hiện chủ đề, cảm hứng của đoạn thơ.
Trả lời:
| Hình ảnh trong bài | Thuộc yếu tố | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Tiếng đàn như bọt nước, chiếc áo choàng đỏ, Lor-ca lang thang về miền đơn độc | Tượng trưng | Tiếng đàn là nghệ thuật của Lor-ca: trong trẻo, mong manh; áo choàng đỏ gợi đấu trường, máu và cái chết đang chờ; hình ảnh người nghệ sĩ cô đơn trước một Tây Ban Nha nhiều bạo lực. |
| Tiếng ghi ta được “thấy” bằng màu (nâu, lá xanh), bằng hình (tròn bọt nước vỡ tan), bằng máu chảy | Siêu thực (âm thanh hoá thành màu sắc, hình khối, máu) | Âm nhạc mang hình hài con người; khi tiếng đàn “chảy máu” thì người nghệ sĩ bị giết. Cái chết của Lor-ca được nói mà không cần kể. |
| Đường chỉ tay bị đứt, dòng sông rộng vô cùng, Lor-ca bơi sang ngang trên cây đàn màu bạc | Siêu thực kết hợp tượng trưng | Số phận bị cắt ngang; dòng sông là ranh giới sống – chết, cũng là dòng chảy của nghệ thuật; cây đàn trở thành con thuyền đưa người nghệ sĩ đi tiếp. |
| Ném lá bùa cô gái di-gan vào xoáy nước, ném trái tim mình vào lặng im bất chợt; tiếng đệm li-la li-la | Tượng trưng | Sự giải thoát: nghệ thuật cần được tự do, không bị giam vào cái bóng của người đã khuất; âm thanh li-la như tiếng đàn còn vọng mãi. |
Vai trò: Các yếu tố ấy giúp Thanh Thảo không kể lại cái chết của Lor-ca theo lối tự sự mà dựng nó thành một chuỗi ảo ảnh, hợp với tinh thần cách tân thơ của chính Lor-ca. Chủ đề ngợi ca người nghệ sĩ – chiến sĩ tự do và nỗi xót thương trước cái đẹp bị bạo lực vùi dập hiện ra qua cảm giác hơn là lời bình. Câu thơ vì thế giàu nhạc, nhiều khoảng trống, buộc người đọc tự lấp nghĩa.
Câu 2 (trang 120): Đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại qua một văn bản
Chỉ ra một số đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại thể hiện qua một trong các văn bản sau: – Hai quan niệm về gia đình và xã hội (trích Số đỏ, Vũ Trọng Phụng) – Ở Va-xan (trích Hội chợ phù hoa, Uy-li-am Thác-cơ-rây) – Ngày 30 Tết (trích Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng).
Trả lời: (chọn Ở Va-xan, có so sánh nhanh với Số đỏ)
- Hiện thực đời thường thay cho những biến cố lớn. Đoạn trích chỉ là một buổi tối đi chơi vườn Va-xan của mấy người trẻ: ăn uống, xem pháo hoa, tán tỉnh. Tiểu thuyết hiện đại lấy chính những chuyện vụn vặt ấy để soi một tầng lớp xã hội, ở đây là giới thị dân giàu có nước Anh đầu thế kỉ XIX.
- Người kể chuyện hiện diện, bình luận và đối thoại với độc giả. Người kể xưng “tôi”, gọi người đọc là “chúng ta”, có lúc “thú thật” rằng câu chuyện chẳng có gì đặc sắc. Giọng điệu ấy vừa thân mật vừa mỉa mai.
- Nhân vật không có “người hùng”. Tác phẩm có phụ đề Tiểu thuyết không có nhân vật chính; mỗi nhân vật đều có điểm đáng cười, đáng thương. Nhân vật được khắc hoạ qua ngoại hình, hành động, lời nói, suy nghĩ và cả cái nhìn của người khác.
Câu 3 (trang 120): Trường phái văn học của Số đỏ và Trên đỉnh non Tản
Mỗi văn bản dưới đây được sáng tác theo phong cách của trường phái văn học nào? Dựa vào đâu để bạn xác định như vậy? a. Hai quan niệm về gia đình và xã hội (trích Số đỏ, Vũ Trọng Phụng); b. Trên đỉnh non Tản (Nguyễn Tuân).
Trả lời:
| Văn bản | Trường phái | Căn cứ |
|---|---|---|
| a. Hai quan niệm về gia đình và xã hội | Hiện thực (hiện thực phê phán, giọng trào phúng) | Phản ánh trung thực một hiện tượng có thật của Hà Nội thập niên 1930 (phong trào Âu hoá, “cải cách” trang phục); nhân vật điển hình (Xuân Tóc Đỏ, vợ chồng Văn Minh, bà Phó Đoan…); chi tiết cụ thể, ngôn ngữ đời thường; thái độ phê phán xã hội thực dân nửa phong kiến qua tiếng cười. |
| b. Trên đỉnh non Tản | Lãng mạn | Đề cao cái tôi tài hoa, khát vọng vượt khỏi đời thường; thế giới thiêng liêng, kì ảo quanh núi Tản Viên; cảm hứng hướng về cái đẹp, cái phi thường; ngôn ngữ trau chuốt, giàu chất thơ, đúng lối văn Nguyễn Tuân trước 1945. |
Câu 4 (trang 120): Những thông tin về tác giả Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cần lưu ý
Tóm lược một số nội dung/ thông tin trong phần giới thiệu về tác giả Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh mà theo bạn là cần lưu ý khi đọc tác phẩm của Người.
Trả lời:
- Tiểu sử. Hồ Chí Minh (1890–1969), tên khai sinh Nguyễn Sinh Cung, quê Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Năm 1911 ra đi tìm đường cứu nước; dùng nhiều bút danh, nổi tiếng nhất là Nguyễn Ái Quốc. Người là lãnh tụ cách mạng và cũng là một cây bút lớn của văn học dân tộc. Khi đọc, cần đặt mỗi tác phẩm vào đúng thời điểm ra đời (thời hoạt động ở Pháp, thời bị giam ở Quảng Tây, ngày độc lập 1945…).
- Quan điểm sáng tác. Văn chương là vũ khí phục vụ sự nghiệp cách mạng, nhà văn cũng là chiến sĩ; coi trọng tính chân thật và tính dân tộc; trước khi viết luôn tự hỏi viết cho ai, viết để làm gì, viết cái gì, viết thế nào. Điều này giải thích vì sao mỗi văn bản của Người có đối tượng và mục đích rất rõ.
- Di sản. Văn chính luận (Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên ngôn Độc lập), truyện và kí (Vi hành, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu), thơ (Nhật kí trong tù, các bài thơ viết ở Việt Bắc).
- Phong cách. Chính luận ngắn gọn, lập luận chặt, bằng chứng xác thực; truyện kí hiện đại, trào phúng sắc sảo; thơ hàm súc, kết hợp màu sắc cổ điển với tinh thần hiện đại, ung dung mà vẫn hướng về cuộc sống.
Câu 5 (trang 120): Nghệ thuật nghị luận của Tuyên ngôn Độc lập và điểm tương đồng tư tưởng
Nêu một số nét đặc sắc về nghệ thuật nghị luận trong Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh. Chỉ ra một số điểm tương đồng về tư tưởng giữa tác phẩm này với các tác phẩm Nam quốc sơn hà (tương truyền của Lý Thường Kiệt) và Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi).
Trả lời:
Nghệ thuật nghị luận. (1) Cơ sở pháp lí chọn khéo: mở đầu bằng lời trong hai bản tuyên ngôn của Mỹ (1776) và Pháp (1791), vừa đặt cuộc cách mạng Việt Nam ngang hàng với hai cuộc cách mạng lớn, vừa dùng chính lí lẽ của đối phương để chặn họ lại. (2) Lập luận chặt, từ quyền con người “suy rộng ra” thành quyền dân tộc. (3) Bằng chứng cụ thể về tội ác của thực dân Pháp trên các mặt chính trị, kinh tế; về việc Pháp hai lần “bán” Đông Dương cho Nhật; về việc nhân dân ta giành chính quyền từ tay Nhật. (4) Giọng văn đanh thép mà vẫn nhân đạo (nhắc việc ta giúp người Pháp chạy qua biên giới); câu văn nhiều phép điệp, liệt kê, tạo sức nặng. (5) Hướng tới nhiều đối tượng một lúc: đồng bào, nhân dân thế giới và các thế lực đang dòm ngó.
Điểm tương đồng tư tưởng với Nam quốc sơn hà và Bình Ngô đại cáo:
- Cả ba đều tuyên bố chủ quyền: đất nước có lãnh thổ, có người làm chủ, kẻ xâm lược không có quyền chiếm đoạt.
- Cả ba dựa vào lẽ phải để khẳng định độc lập: Nam quốc sơn hà viện “sách trời”, Bình Ngô đại cáo nêu văn hiến, phong tục, lịch sử riêng, Tuyên ngôn Độc lập viện quyền con người và quyền dân tộc được thế giới thừa nhận.
- Cả ba đều thể hiện ý chí sẵn sàng bảo vệ nền độc lập và niềm tin vào chính nghĩa. Điểm mới của Tuyên ngôn Độc lập là quyền ấy thuộc về nhân dân, gắn với tự do, dân chủ chứ không chỉ gắn với một triều đại.
Câu 6 (trang 120): Xử lí thông tin, tài liệu trong văn bản thông tin
Vì sao việc xử lí thông tin, sử dụng tài liệu trong văn bản thông tin lại được xem là quan trọng? Khi đọc một văn bản thông tin về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội, bạn có thể căn cứ vào đâu để nhận biết, đánh giá: a. Tài liệu sơ cấp, tài liệu thứ cấp? b. Tính mới mẻ, cập nhật, độ tin cậy của dữ liệu, thông tin trong văn bản?
Trả lời:
Văn bản thông tin chỉ có giá trị khi người đọc tin được nó: chọn đúng tài liệu, ghi đúng nguồn, sắp xếp số liệu hợp lí quyết định độ chính xác của kết luận. Khuôn đúc đồng Cổ Loa thuyết phục nhờ hiện vật khảo cổ; bài của Rây-cheo Ca-sơn gây chấn động nhờ quan sát, số liệu cụ thể.
- a. Sơ cấp hay thứ cấp. Loại sơ cấp do chính người nghiên cứu hay nhân chứng tạo ra: hiện vật, văn bản gốc, số liệu khảo sát, lời kể tận mắt, ảnh chụp tại chỗ, kết quả thí nghiệm. Loại thứ cấp là phần người khác đã tổng hợp, phân tích, bình luận lại (sách chuyên khảo, bài báo tổng thuật). Căn cứ: xem tác giả có trực tiếp tạo ra dữ liệu không, ghi chú nguồn dẫn tới đâu, có cụm “theo…”, “dẫn từ…” hay không.
- b. Mới, cập nhật, tin cậy. Xem thời điểm công bố và thời điểm thu thập số liệu; uy tín của tác giả, cơ quan xuất bản; có trích dẫn đầy đủ, kiểm chứng được không; các nguồn độc lập có cho kết quả tương tự không; văn bản có lẫn ý kiến chủ quan vào dữ liệu không.
Tiếng Việt (câu 7–9)
Câu 7 (trang 120): Những điều cần lưu ý để giữ gìn và phát triển tiếng Việt trong giao tiếp
Để giữ gìn và phát triển tiếng Việt, trong giao tiếp, chúng ta cần lưu ý những gì?
Trả lời:
- Nói, viết đúng chuẩn: phát âm rõ, chính tả đúng, dùng từ đúng nghĩa, câu đủ thành phần.
- Không lạm dụng từ nước ngoài khi tiếng Việt đã có từ tương đương (“deadline” có thể nói “hạn chót”, “check” có thể nói “kiểm tra”); với thuật ngữ chuyên ngành chưa có từ Việt thì dùng có chọn lọc.
- Hạn chế kiểu chữ viết tắt, biến âm của mạng xã hội trong văn bản trang trọng, bài làm, đơn từ.
- Biết làm giàu tiếng Việt: học thêm từ hay qua văn học, ca dao, thành ngữ; sáng tạo cách nói mới nhưng phải dễ hiểu, hợp chuẩn mực.
Câu 8 (trang 120): Ví dụ và tác dụng của biện pháp tu từ nói mỉa
Lấy ví dụ và chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ nói mỉa.
Trả lời:
Nói mỉa là cách nói ngược với điều thực sự muốn nói (khen để chê, tỏ ra đồng tình để phản đối) nhằm châm biếm, phê phán.
Ví dụ (tự đặt): Thấy bạn cùng nhóm đến muộn bốn mươi phút, Minh cười: “Cậu đúng là người đúng giờ nhất lớp, chuẩn như đồng hồ hỏng.” Lời “khen” đúng giờ thực chất chê sự trễ hẹn; hình ảnh “đồng hồ hỏng” làm lộ ý mỉa. Tác dụng: phê phán nhẹ nhàng mà thấm, tạo tiếng cười, khiến người nghe tự nhận ra lỗi mà không cần lời trách nặng. Trong Số đỏ, Vũ Trọng Phụng dùng cách nói mỉa rất nhiều: những từ trang trọng như “cải cách”, “văn minh”, “nhà mĩ thuật” được gắn cho các trò lố, làm bật ra sự giả dối của lối sống Âu hoá rởm.
Câu 9 (trang 120): Tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản thông tin
Phân tích tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (hình ảnh, số liệu, biểu đồ, sơ đồ,…) trong văn bản thông tin.
Trả lời:
- Hình ảnh cho người đọc thấy tận mắt đối tượng (ảnh khuôn đúc mũi tên đồng ở Cổ Loa), tăng sức thuyết phục.
- Số liệu biến nhận định thành điều đo đếm được, khó bác bỏ, đồng thời cho phép so sánh qua thời gian.
- Biểu đồ cho thấy xu hướng tăng giảm, tỉ lệ một cách trực quan, tiết kiệm nhiều câu chữ.
- Sơ đồ thể hiện quan hệ (quy trình, nguyên nhân – kết quả, cấu trúc) mà lời văn phải giải thích rất dài.
Viết, nói và nghe (câu 10–13)
Câu 10 (trang 121): Lưu ý khi viết báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề xã hội; khác biệt với báo cáo bài tập dự án
Nêu một số lưu ý khi viết báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề xã hội. Chỉ ra một số điểm khác biệt về bố cục giữa kiểu bài này với kiểu bài viết báo cáo kết quả của bài tập dự án về một vấn đề xã hội.
Trả lời:
Lưu ý: chọn vấn đề vừa sức và có ý nghĩa; nêu rõ câu hỏi, mục đích và phương pháp nghiên cứu (khảo sát, phỏng vấn, phân tích tài liệu); số liệu phải thật, được xử lí và trình bày bằng bảng, biểu đồ; phân biệt kết quả với bình luận của người viết; ghi đầy đủ tài liệu tham khảo; ngôn ngữ khách quan, chính xác.
| Báo cáo kết quả nghiên cứu | Báo cáo kết quả bài tập dự án |
|---|---|
| Tên đề tài, tóm tắt | Tên dự án, nhóm thực hiện, phân công |
| Mở đầu: lí do chọn đề tài, mục đích, câu hỏi, phạm vi, phương pháp | Mục tiêu dự án, sản phẩm dự kiến, thời gian |
| Nội dung: cơ sở lí thuyết, kết quả nghiên cứu, thảo luận | Quá trình thực hiện theo từng giai đoạn; sản phẩm đã làm ra |
| Kết luận, kiến nghị | Đánh giá: thuận lợi, khó khăn, bài học, đề xuất hướng phát triển |
| Tài liệu tham khảo, phụ lục | Minh chứng (ảnh, biên bản, sản phẩm), có thể kèm tài liệu tham khảo |
Nói gọn: báo cáo nghiên cứu xoay quanh câu hỏi và câu trả lời; báo cáo dự án xoay quanh việc đã làm và sản phẩm.
Câu 11 (trang 121): Khác biệt giữa nghị luận về vấn đề tuổi trẻ và bài phát biểu phát động phong trào
Nêu một số điểm khác biệt đáng lưu ý giữa hai kiểu bài: viết bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ và viết bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào hoặc một hoạt động xã hội.
Trả lời:
| Phương diện | Nghị luận về vấn đề tuổi trẻ | Bài phát biểu phát động |
|---|---|---|
| Mục đích | Làm rõ một vấn đề, thuyết phục người đọc đồng tình với quan điểm. | Kêu gọi người nghe tham gia một hoạt động cụ thể. |
| Người tiếp nhận | Người đọc nói chung. | Người nghe có mặt trong buổi lễ (thầy cô, bạn bè, cộng đồng). |
| Bố cục | Mở bài – thân bài (giải thích, bàn luận, phản đề) – kết bài. | Lời chào, giới thiệu bản thân; lí do, ý nghĩa của phong trào; nội dung, cách thức, thời gian tham gia; lời kêu gọi, cảm ơn. |
| Ngôn ngữ | Văn viết, lập luận chặt, nhiều lí lẽ và bằng chứng. | Văn nói được chuẩn bị trước: câu ngắn, nhiều lời hô ứng, giàu cảm xúc, có thể dùng khẩu hiệu. |
Câu 12 (trang 121): So sánh hai kiểu bài thuyết trình
So sánh, chỉ ra một số điểm khác biệt giữa hai kiểu bài thuyết trình: – Trình bày báo cáo kết quả của bài tập dự án. – Thuyết trình về một vấn đề liên quan đến cơ hội và thách thức đối với đất nước.
Trả lời:
- Nội dung: bài thứ nhất kể lại quá trình và giới thiệu sản phẩm của nhóm; bài thứ hai bàn về một vấn đề vĩ mô (hội nhập, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu…), phân tích cả mặt thuận lợi và khó khăn.
- Tính chất: bài thứ nhất thiên về thông tin, có minh chứng sản phẩm; bài thứ hai thiên về nghị luận, cần quan điểm rõ và giải pháp.
- Phương tiện hỗ trợ: bài thứ nhất thường chiếu ảnh hoạt động, sản phẩm thật; bài thứ hai cần số liệu, biểu đồ, dẫn chứng thời sự có nguồn.
Câu 13 (trang 121): Lập dàn ý bài nghị luận xã hội rồi chuyển thành dàn ý bài nói
Lập dàn ý cho bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội, sau đó chuyển dàn ý bài viết đó thành dàn ý bài nói.
Trả lời: Vấn đề chọn: Người trẻ trước thói quen lướt tin nhanh trên mạng xã hội.
| Bản dàn ý để viết | Bản dàn ý để nói |
|---|---|
| Mở bài: nêu vấn đề – nhiều bạn trẻ đọc rất nhiều nhưng nhớ rất ít. | Mở đầu: chào người nghe; đặt một câu hỏi: “Hôm qua bạn đã lướt qua bao nhiêu bản tin?”; giới thiệu vấn đề. |
| Thân bài: 1. Giải thích: lướt tin là đọc lướt, đọc vụn, chuyển nhanh giữa các nội dung ngắn. 2. Thực trạng, biểu hiện. 3. Nguyên nhân: thuật toán đề xuất, áp lực cập nhật. 4. Tác hại: giảm tập trung, dễ tin tin giả, thiếu chiều sâu. 5. Phản đề: lướt tin cũng giúp nắm nhanh thời sự nếu biết chọn nguồn. 6. Giải pháp: đặt giờ dùng mạng, đọc trọn một bài dài mỗi ngày, kiểm tra nguồn. | Triển khai: mỗi ý thành một “điểm dừng” ngắn, có từ nối rõ (thứ nhất, tiếp theo, vậy làm gì); kèm ví dụ gần gũi, một số liệu khảo sát nhỏ trong lớp; dùng trang chiếu tóm tắt ý; dừng hỏi ý kiến người nghe ở phần phản đề. |
| Kết bài: khẳng định cần đọc chậm, đọc sâu; liên hệ bản thân. | Kết thúc: nhắc lại thông điệp bằng một câu dễ nhớ; mời người nghe thử thách “một ngày đọc chậm”; cảm ơn, mời đặt câu hỏi. |
Hệ thống hoá về văn học Việt Nam (trang 121–125)
Bài đọc trong sách tóm lược hai bộ phận văn học (dân gian và viết), bốn giai đoạn của văn học trung đại (thế kỉ X–XIX) với hai nguồn cảm hứng lớn là yêu nước và nhân đạo, hai thời kì của văn học hiện đại (trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945). Năm câu hỏi dưới đây dùng chính bài đọc đó làm điểm tựa.
Câu 1 (trang 124): Thể loại chính của văn học dân gian và tác phẩm tiêu biểu
Văn học dân gian Việt Nam gồm những thể loại chính nào? Nêu tên tác phẩm tiêu biểu cho mỗi thể loại đó.
Trả lời:
| Nhóm | Thể loại | Tác phẩm tiêu biểu |
|---|---|---|
| Tự sự dân gian | Thần thoại | Thần Trụ Trời, Cuộc tu bổ lại các giống vật |
| Truyền thuyết | Thánh Gióng, An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ | |
| Sử thi | Đăm Săn (Ê-đê), Đẻ đất đẻ nước (Mường) | |
| Truyện cổ tích | Tấm Cám, Sọ Dừa, Thạch Sanh | |
| Truyện cười | Treo biển, Lợn cưới áo mới | |
| Truyện ngụ ngôn | Thầy bói xem voi, Ếch ngồi đáy giếng | |
| Trữ tình dân gian | Ca dao, dân ca | Ca dao than thân, ca dao yêu thương tình nghĩa; dân ca quan họ, hò, lí |
| Lời nói dân gian | Tục ngữ, câu đố | Tục ngữ về thiên nhiên, lao động sản xuất, về con người và xã hội |
| Sân khấu dân gian | Chèo, tuồng | Quan Âm Thị Kính (chèo), Nghêu, Sò, Ốc, Hến (tuồng đồ) |
| Thơ – truyện | Truyện thơ dân gian | Tiễn dặn người yêu (Thái) |
Câu 2 (trang 124): Xếp các tác phẩm trung đại vào bốn giai đoạn
Kẻ bảng sau vào vở và xếp các tác phẩm – tác giả nêu phía dưới vào ô phù hợp trong bảng (bảng Văn học trung đại Việt Nam gồm bốn giai đoạn; danh sách tác phẩm in ở trang 124–125).
Trả lời:
| Giai đoạn | Tác phẩm – tác giả |
|---|---|
| Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XV | Nam quốc sơn hà (tương truyền của Lý Thường Kiệt); Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn); Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi); Thánh Tông di thảo (tương truyền của Lê Thánh Tông) |
| Từ đầu thế kỉ XVI đến hết thế kỉ XVII | Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ) |
| Từ đầu thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX | Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn; bản diễn Nôm: Phan Huy Ích); Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái); Truyện Kiều (Nguyễn Du); Chí khí anh hùng (Nguyễn Công Trứ) |
| Nửa cuối thế kỉ XIX | Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu); Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm (Nguyễn Khuyến); Thương vợ (Trần Tế Xương); Hương Sơn phong cảnh ca (Chu Mạnh Trinh) |
Ghi chú: Thánh Tông di thảo là tác phẩm tương truyền, xếp theo thời Lê Thánh Tông (thế kỉ XV); Nguyễn Công Trứ (1778–1858) sáng tác chủ yếu ở nửa đầu thế kỉ XIX.
Câu 3 (trang 125): Khác biệt giữa văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm
Nêu một số điểm khác biệt đáng lưu ý giữa hai bộ phận văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm.
Trả lời:
| Phương diện | Văn học chữ Hán | Văn học chữ Nôm |
|---|---|---|
| Thời điểm, vị trí | Có từ sớm (thế kỉ X), giữ vị trí chính thống, gắn với thi cử, triều đình. | Xuất hiện muộn hơn (khoảng thế kỉ XIII), phát triển mạnh từ thế kỉ XVIII. |
| Thể loại | Thơ trữ tình theo luật Đường; truyện, kí bằng văn xuôi (Truyền kì mạn lục, Hoàng Lê nhất thống chí); cáo, hịch, chiếu, biểu. | Chủ yếu văn vần: thơ Nôm Đường luật, lục bát, song thất lục bát, hát nói; truyện thơ (Truyện Kiều, Lục Vân Tiên), ngâm khúc. |
| Nội dung | Thiên về đạo lí, sử thi, chuyện quốc gia đại sự. | Gần đời sống, tâm tư cá nhân, chuyện tình yêu, thân phận con người, nhất là người phụ nữ. |
| Ngôn ngữ | Ngôn ngữ mượn, trang trọng, nhiều điển cố. | Tiếng Việt, đưa ca dao, thành ngữ, khẩu ngữ vào văn chương; khẳng định khả năng biểu đạt của tiếng mẹ đẻ. |
Câu 4 (trang 125): Bảng tác phẩm văn học hiện đại theo hai thời kì
Kẻ bảng sau vào vở và ghi tên ít nhất 5 tác phẩm (kèm tên tác giả) đã học thuộc văn học hiện đại Việt Nam vào ô phù hợp trong bảng (có thể chọn tác phẩm từ lớp 6 đến lớp 12).
Trả lời:
| Thời kì | Tác phẩm truyện / thơ / kịch / văn nghị luận |
|---|---|
| Từ đầu thế kỉ XX đến hết Cách mạng tháng Tám năm 1945 | Truyện: Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Lão Hạc (Nam Cao), Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Vi hành (Nguyễn Ái Quốc). Thơ: Tràng giang (Huy Cận), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử), Tiếng thu (Lưu Trọng Lư), Nguyên tiêu (Hồ Chí Minh). Phóng sự: Con gà thờ (Ngô Tất Tố). |
| Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay | Nghị luận: Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh). Thơ: Tây Tiến (Quang Dũng), Đất nước (Nguyễn Đình Thi), Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo). Truyện, tiểu thuyết: Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng). Kịch: Thật và giả (Nguyễn Đình Thi). Nhật kí: Trên những chặng đường hành quân (Nguyễn Văn Thạc). |
Câu 5 (trang 125): Nội dung yêu nước và nhân đạo trong văn học hiện đại
Tìm hiểu về nội dung yêu nước và nội dung nhân đạo trong văn học hiện đại Việt Nam. Phân tích biểu hiện của nội dung yêu nước hoặc nhân đạo qua một/ một số tác phẩm đã học.
Trả lời:
Khái quát. Tinh thần yêu nước của văn chương thế kỉ XX gắn với khát vọng độc lập, tự do, với hình tượng nhân dân và người lính; sau 1975 mở rộng thành trách nhiệm xây dựng đất nước, giữ gìn văn hoá. Nhân đạo thể hiện ở niềm thương cảm với con người nhỏ bé, sự trân trọng phẩm giá, đấu tranh cho quyền sống, quyền hạnh phúc, và từ sau đổi mới là sự quan tâm tới số phận cá nhân, đời sống tinh thần riêng tư.
Phân tích nội dung nhân đạo qua Hai đứa trẻ (Thạch Lam). Truyện không có biến cố lớn: hai chị em Liên, An trông một gian hàng tạp hoá nhỏ ở phố huyện nghèo, thức đợi chuyến tàu đêm. Nhân đạo trước hết ở cái nhìn xót thương những kiếp người lam lũ: mẹ con chị Tí, bác phở Siêu, gia đình bác xẩm, bà cụ Thi điên, những ngọn đèn leo lét trong bóng tối mênh mông. Sâu hơn, Thạch Lam trân trọng khát vọng của họ: chuyến tàu đi qua chỉ trong chốc lát nhưng mang theo ánh sáng và một “thế giới khác” mà Liên mơ hồ mong đợi. Nhà văn không lên án gay gắt mà để người đọc tự thấy những con người ấy xứng đáng với một cuộc đời sáng sủa hơn.
Hệ thống văn bản đã học ở học kì II Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo
| Bài học | Văn bản đọc chính | Đọc kết nối, đọc mở rộng | Điều cần nắm |
|---|---|---|---|
| Bài 6. Trong thế giới của giấc mơ (thơ) | Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử); Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo) | San-va-đo Đa-li và “Sự dai dẳng của kí ức”; Tự do (Pôn Ê-luy-a) | Yếu tố tượng trưng, siêu thực; thế giới mộng ảo trong thơ. |
| Bài 7. Trong ánh đèn thành thị (tiểu thuyết hiện đại) | Hai quan niệm về gia đình và xã hội (Vũ Trọng Phụng); Ở Va-xan (Thác-cơ-rây) | Áo dài đầu thế kỉ XX (Đoàn Thị Tình); Ngày 30 Tết (Ma Văn Kháng) | Hiện thực đời thường, người kể chuyện, nhân vật, tiếng cười trào phúng. |
| Bài 8. Hai tay xây dựng một sơn hà (Hồ Chí Minh, văn nghị luận) | Tuyên ngôn Độc lập; Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng) (Hồ Chí Minh) | Giá trị của tập “Truyện và kí” (Phạm Huy Thông); Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (Nguyễn Ái Quốc); Cảnh rừng Việt Bắc (Hồ Chí Minh) | Quan điểm sáng tác, phong cách Hồ Chí Minh; nghệ thuật lập luận. |
| Bài 9. Khám phá tự nhiên và xã hội (văn bản thông tin) | Khuôn đúc đồng Cổ Loa: “Nỏ thần” không chỉ là truyền thuyết (theo Hà Trang); Sự ô nhiễm nguồn nước trên bề mặt Trái Đất và hậu quả (Rây-cheo Ca-sơn) | Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn (Trần Đăng Khoa); Dòng Mê Kông “giận dữ” (nhóm tác giả) | Tài liệu sơ cấp – thứ cấp, độ tin cậy của dữ liệu, phương tiện phi ngôn ngữ. |
Đề kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo tham khảo (tự soạn, có đáp án)
Thời gian làm bài: 90 phút. Phần I – Đọc hiểu (4 điểm). Đoạn văn dưới đây do Văn VN soạn để luyện tập, mô phỏng một chương tiểu thuyết về đời sống đô thị:
Đêm cuối cùng ở căn hộ tầng chín, bà Thục không ngủ được. Thùng các-tông chất kín phòng khách, trên mỗi thùng con trai bà viết bằng bút dạ: “bếp”, “sách”, “đồ của mẹ”. Bà nhìn chữ “đồ của mẹ” khá lâu. Ba mươi năm ở thành phố gói lại vừa đúng hai thùng.
Ngoài cửa kính, đường vành đai vẫn sáng như ban ngày. Hồi mới chuyển lên, bà từng đứng đây đếm xe để dỗ giấc ngủ, đếm đến hai trăm thì thôi. Bây giờ xe nhiều đến mức không ai đếm nổi, mà bà cũng không còn muốn đếm.
– Mẹ chưa ngủ à? – Tuấn bước ra, tay vẫn cầm điện thoại. – Sáng mai sáu giờ xe tải đến đấy.
– Ừ, mẹ biết. Thế bên ấy có ban công không?
– Có, nhưng nhỏ. Mẹ đừng trồng rau nữa, hàng xóm người ta phàn nàn.
Bà gật đầu. Bà định nói rằng mấy chậu húng ở đây cũng từng bị phàn nàn, rồi bà vẫn trồng, rồi chính người phàn nàn sang xin một nắm về nấu canh. Nhưng Tuấn đã quay vào, ánh màn hình xanh lét hắt lên khuôn mặt nó, khuôn mặt bà thấy mỗi năm một giống người chồng đã mất mà cũng mỗi năm một lạ.
Bà cúi xuống thùng “đồ của mẹ”, mở ra. Trên cùng là chiếc nón lá đã rách vành, thứ đầu tiên bà mang theo khi rời quê. Bà định vứt nó từ lâu. Bà đặt nó lại vào thùng, lần này cẩn thận hơn, và dán băng keo hai lượt.
(Văn VN, “Căn hộ tầng chín”, ngữ liệu tự soạn)
Câu 1. (0,5 điểm) Câu chuyện được kể ở ngôi nào, chủ yếu qua cái nhìn của nhân vật nào?
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra hai chi tiết cho thấy nhịp sống đô thị trong đoạn trích.
Câu 3. (0,75 điểm) Cuộc đối thoại giữa bà Thục và Tuấn cho thấy điều gì về quan hệ giữa hai mẹ con?
Câu 4. (1,0 điểm) Phân tích ý nghĩa của chi tiết chiếc nón lá rách vành và hành động “dán băng keo hai lượt” ở cuối đoạn.
Câu 5. (0,75 điểm) Đoạn trích thể hiện những đặc điểm nào của tiểu thuyết hiện đại?
Câu 6. (0,5 điểm) Theo em, người trẻ có thể làm gì để những người lớn tuổi trong gia đình không thấy lạc lõng giữa nhịp sống hiện đại? (3–5 dòng)
Phần II – Viết (6 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Trong khoảng 200 chữ, hãy làm rõ tâm trạng bà Thục ở đêm cuối trong căn hộ.
Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài nghị luận khoảng 600 chữ bàn về vấn đề: người trẻ và khoảng cách thế hệ trong gia đình hiện đại.
Đáp án và hướng dẫn chấm
| Câu | Nội dung cần đạt | Điểm |
|---|---|---|
| I.1 | Kể ở ngôi thứ ba; người đọc chủ yếu nhìn qua mắt bà Thục (người đọc biết bà nghĩ gì, định nói gì mà không nói). | 0,5 |
| I.2 | Hai trong các chi tiết: đường vành đai sáng như ban ngày; xe nhiều đến mức không đếm nổi; Tuấn luôn cầm điện thoại, ánh màn hình; hàng xóm phàn nàn chuyện trồng rau; xe tải đến lúc sáu giờ sáng. | 0,5 |
| I.3 | Hai mẹ con vẫn quan tâm nhau (con nhắc mẹ ngủ, mẹ hỏi về ban công) nhưng có khoảng cách: con nói ngắn, thực dụng, vội; mẹ có điều muốn nói mà không nói. Sự xa cách lặng lẽ, không xung đột gay gắt. | 0,75 |
| I.4 | Chiếc nón là kỉ vật của quê, của tuổi trẻ, của con người bà trước khi thành thị hoá; định vứt mà giữ lại cho thấy bà nhận ra mình cần níu giữ gốc gác. “Dán băng keo hai lượt”: hành động nhỏ mà quyết liệt, thể hiện ý muốn bảo vệ phần kí ức ấy trong cuộc chuyển nhà, cũng là chuyển đời. Chi tiết kết đoạn bằng hành động thay cho lời bình, giàu sức gợi. | 1,0 |
| I.5 | Lấy đời sống thường nhật làm chất liệu; nhân vật bình thường có đời sống nội tâm phức tạp; điểm nhìn nhân vật, lời kể xen độc thoại nội tâm; chi tiết nhỏ mang ý nghĩa lớn; xung đột ngầm giữa các thế hệ, giữa quê và phố. | 0,75 |
| I.6 | Nêu được 2–3 việc cụ thể, hợp lí (dành thời gian trò chuyện, lắng nghe kí ức, giúp ông bà làm quen công nghệ, tôn trọng thói quen của người lớn…). | 0,5 |
| II.1 | Đúng hình thức đoạn (0,25); nêu được tâm trạng: bồi hồi, trống trải khi rời căn hộ, nỗi cô đơn giữa đô thị, chút tủi thân trước sự vội vã của con, ý thức giữ gìn kỉ niệm (1,25); dẫn chi tiết, nhận xét nghệ thuật điểm nhìn (0,25); diễn đạt (0,25). | 2,0 |
| II.2 | Bố cục, luận đề (0,5); giải thích khoảng cách thế hệ (0,5); biểu hiện, nguyên nhân (nhịp sống, công nghệ, khác biệt giá trị) (1,0); hậu quả nếu không thu hẹp, phản đề: khác biệt cũng là điều tự nhiên, cần tôn trọng (0,75); giải pháp, vai trò của người trẻ, liên hệ (0,75); chính tả, sáng tạo (0,5). | 4,0 |
Mẹo ôn phần hệ thống hoá trước kì thi tốt nghiệp
- Học mốc theo “khung bốn – hai”. Văn học trung đại bốn giai đoạn, văn học hiện đại hai thời kì. Mỗi ô chỉ cần nhớ 2–3 tác phẩm đã học là đủ để trả lời câu xếp bảng và có dẫn chứng cho bài nghị luận văn học.
- Gắn tác phẩm với trường phái. Câu hỏi kiểu câu 3 rất hay ra lại: hiện thực (Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố), lãng mạn (Thạch Lam, Nguyễn Tuân trước 1945, Thơ mới), tượng trưng – siêu thực (Hàn Mặc Tử, Thanh Thảo).
- Ôn văn bản thông tin bằng câu hỏi “nguồn ở đâu?”. Khi gặp văn bản lạ, gạch chân mọi số liệu, tên tổ chức, năm công bố; đó là chỗ ra câu hỏi về độ tin cậy.
Xem thêm: