Nam Cao (1915 – 1951) là nhà văn hiện thực lớn của văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, tác giả của Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa, Sống mòn. Ông tên thật là Trần Hữu Tri, quê Hà Nam, viết về người nông dân nghèo và người trí thức nghèo bằng ngòi bút phân tích tâm lý sắc sảo, rồi hi sinh khi đang làm nhiệm vụ trong kháng chiến chống Pháp. Bài viết dưới đây của Văn VN tóm tắt tiểu sử, các mốc đời, sự nghiệp, phong cách và những tác phẩm của Nam Cao trong sách giáo khoa.
Tác giả Nam Cao là ai?
Nam Cao là bút danh của Trần Hữu Tri, nhà văn, nhà báo, liệt sĩ. Ông là một trong những cây bút tiêu biểu nhất của dòng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 và có công lớn trong việc hoàn thiện truyện ngắn, tiểu thuyết tiếng Việt hiện đại. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I).

| Tên thật | Trần Hữu Tri |
| Bút danh | Nam Cao; ngoài ra còn ký Thúy Rư, Xuân Du, Nguyệt… |
| Năm sinh – năm mất | 29/10/1915 (giấy tờ ghi năm 1917) – cuối tháng 11/1951 |
| Quê quán | Làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) |
| Thể loại | Truyện ngắn, tiểu thuyết, nhật ký, bút ký |
| Tác phẩm tiêu biểu | Chí Phèo, Trăng sáng, Đời thừa, Lão Hạc, Sống mòn, Đôi mắt |
| Giải thưởng | Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (truy tặng, 1996) |
| Trong SGK hiện hành | Lão Hạc (Ngữ văn 8, Ngữ văn 12), Chí Phèo (Ngữ văn 11) |
Bút danh Nam Cao được ghép từ chữ đầu tên huyện Nam Sang và tên tổng Cao Đà, nơi ông sinh ra. Cái tên ấy cũng nói lên phần nào con người ông: cả đời gắn bó với làng quê nghèo vùng chiêm trũng Hà Nam, nơi trở thành bối cảnh của phần lớn những trang viết về người nông dân, trong đó có làng Vũ Đại của Chí Phèo.
Cuộc đời Nam Cao qua các mốc chính
Nam Cao sinh ra trong một gia đình Công giáo nghèo ở nông thôn. Cuộc đời ông ngắn ngủi, chỉ hơn ba mươi sáu năm, nhưng đi qua hai thời kỳ lịch sử rất khác nhau: những năm đói nghèo, bế tắc trước Cách mạng và những năm kháng chiến gian khổ sau Cách mạng.
- 1915: sinh ngày 29/10 tại làng Đại Hoàng (giấy tờ khai sinh ghi năm 1917). Thuở nhỏ học ở quê, rồi học trường Cửa Bắc và trường Thành Chung ở Nam Định.
- 1935: lập gia đình với bà Trần Thị Sen; cuối năm theo người quen vào Sài Gòn, kiếm sống bằng nghề thư ký hiệu may và bắt đầu có truyện in báo dưới tên Thúy Rư.
- 1938: vì ốm nặng, trở ra Bắc; sau đó lên Hà Nội dạy học ở trường tư thục Công Thanh (đường Thụy Khuê).
- 1941: truyện “Cái lò gạch cũ” được in thành sách với tên Đôi lứa xứng đôi (Nhà xuất bản Đời mới); năm 1946, khi in lại trong tập Luống cày, tác phẩm mang tên Chí Phèo.
- 1943: tháng 6 gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc; trong năm này ra đời Đời thừa, Lão Hạc, Một bữa no.
- 1945: tham gia giành chính quyền ở quê, được cử làm chủ tịch xã; sau đó lên Hà Nội làm thư ký tòa soạn tạp chí Tiên phong và đi theo đoàn quân Nam tiến.
- 1947 – 1948: mùa thu 1947 lên Việt Bắc làm báo Cứu quốc; năm 1948 vào Đảng, viết truyện ngắn Đôi mắt và nhật ký Ở rừng.
- 1950: chuyển về Hội Văn nghệ Việt Nam, làm việc ở tạp chí Văn nghệ, đi Chiến dịch Biên giới.
- 1951: cuối năm đi công tác thuế nông nghiệp vào vùng địch hậu ở Ninh Bình thì bị địch bắt và bắn chết tại đồn Hoàng Đan. Các tài liệu ghi ngày mất khác nhau (28/11 hoặc 30/11/1951).
- 1996: được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I.

Hoàn cảnh sống của Nam Cao in đậm lên trang văn: một người trí thức nghèo phải chật vật vì miếng cơm manh áo, chứng kiến tận mắt cảnh làng quê xơ xác, con người bị cái đói và cái ác dồn đến bước đường cùng. Sau Cách mạng, ông dấn thân vào công tác kháng chiến với tinh thần coi ngòi bút cũng là vũ khí, và đã ngã xuống khi đang làm nhiệm vụ. Tìm đọc thêm bài Nhà văn Nam Cao, day dứt phận người để hiểu thêm về cuộc đời ông.
Sự nghiệp sáng tác của Nam Cao
Sự nghiệp văn chương của Nam Cao kéo dài khoảng mười lăm năm và chia làm hai chặng rõ rệt.
Trước Cách mạng tháng Tám (1936 – 1945). Đây là chặng sáng tác sung sức nhất. Nam Cao tập trung vào hai đề tài lớn. Đề tài thứ nhất là người nông dân nghèo bị áp bức, bị lưu manh hóa hoặc bị dồn tới cái chết, nhưng vẫn giữ được phần nhân tính sâu xa: Chí Phèo, Lão Hạc, Một bữa no, Trẻ con không được ăn thịt chó, Dì Hảo… Đề tài thứ hai là người trí thức tiểu tư sản nghèo, có hoài bão nhưng bị gánh nặng cơm áo đè nặng, sống mòn mỏi, lãng phí: Trăng sáng, Đời thừa, tiểu thuyết Sống mòn.
Sau Cách mạng (1945 – 1951). Nam Cao vừa làm báo, vừa viết truyện ngắn, bút ký, nhật ký về đời sống kháng chiến. Truyện ngắn Đôi mắt (1948) được xem là tuyên ngôn nghệ thuật của lớp nhà văn đi theo Cách mạng, đặt ra vấn đề “đôi mắt” – cách nhìn của người cầm bút đối với quần chúng. Ngoài ra còn có Mò sâm banh, bút ký Đường vô Nam, nhật ký Ở rừng.
Số lượng tác phẩm của Nam Cao không đồ sộ, nhưng chất lượng rất đều. Nhiều truyện ngắn của ông đã thành kinh điển, có mặt trong sách giáo khoa từ chương trình cũ đến chương trình mới. Danh mục đầy đủ các tập truyện, tiểu thuyết, kèm giới thiệu từng tác phẩm, bạn có thể xem trong bài những tác phẩm của Nam Cao tiêu biểu nhất.
Các tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao
Chí Phèo (1941)
Đây là kiệt tác truyện ngắn của Nam Cao. Từ một người làm thuê hiền lành ở làng Vũ Đại, Chí bị Bá Kiến ghen tuông đẩy đi tù; trở về, hắn đã thành một kẻ chỉ biết rượu, chửi và gây sự, làm tay sai cho chính kẻ hại mình. Mấy ngày được Thị Nở chăm sóc khiến Chí thèm được làm người tử tế, nhưng cánh cửa trở về bị đóng lại, và bi kịch kết thúc bằng hai cái chết. Qua số phận ấy, nhà văn đặt ra câu hỏi day dứt về quyền được làm người của người nông dân nghèo. Xem thêm: Chí Phèo – giới thiệu tác phẩm và tóm tắt, bài phân tích nhân vật Chí Phèo.
Trăng sáng (1942)
Nhân vật Điền là một nhà văn nghèo từng mơ viết những trang văn lãng mạn “thơ mộng” dưới ánh trăng, nhưng tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng, tiếng đòi nợ ngoài xóm kéo anh về với đời thực. Truyện ngắn này thể hiện rõ quan niệm nghệ thuật vị nhân sinh của Nam Cao. Tham khảo bài Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối.
Đời thừa (1943)
Hộ là một nhà văn từng mơ viết một tác phẩm “sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời”, nhưng gánh nặng nuôi vợ con buộc anh phải viết vội, viết nhanh để kiếm tiền, rồi tự khinh bỉ mình. Truyện là bi kịch tinh thần của người trí thức nghèo, đồng thời chứa đựng những phát biểu nổi tiếng nhất về nghề văn của Nam Cao.
Lão Hạc (1943)
Ông lão nông góa vợ có đứa con trai bỏ làng đi làm phu cao su, chỉ còn cậu Vàng làm bạn. Đói kém dồn tới, lão đành bán chó rồi day dứt khôn nguôi; lão nhờ người hàng xóm là ông giáo giữ giúp mảnh vườn cho con, gửi lại số tiền dành dụm để lo hậu sự, rồi chọn cái chết đau đớn bằng bả chó. Câu chuyện cho thấy một tâm hồn trong sạch, giàu tự trọng giữa cảnh nghèo cùng cực. Đọc thêm: tác phẩm Lão Hạc, tóm tắt Lão Hạc, phân tích truyện ngắn Lão Hạc.
Sống mòn (viết xong 1944, in 1956)
Tiểu thuyết xoay quanh Thứ, một giáo viên trường tư ở ngoại thành Hà Nội, cùng những người trí thức nghèo sống quẩn quanh, nhỏ nhen vì miếng ăn, để ước mơ cứ thế mòn dần theo năm tháng. Bản thảo được Tô Hoài giữ gìn qua kháng chiến và chỉ được xuất bản sau khi tác giả mất.
Đôi mắt (1948)
Người kể chuyện là Độ, một văn sĩ đã theo kháng chiến, đến thăm người bạn cũ là văn sĩ Hoàng đang tản cư. Hoàng sống sung túc, chỉ thấy ở người nông dân những điều lố bịch; còn Độ nhận ra sự hồn nhiên, lòng yêu nước của họ. Hai cách nhìn ấy chính là câu hỏi Nam Cao đặt cho người cầm bút trong thời đại mới, và Đôi mắt thường được coi là thành tựu nổi bật nhất trong mảng sáng tác sau 1945 của ông.
Phong cách nghệ thuật của Nam Cao
Văn Nam Cao dễ nhận ra ở giọng kể tỉnh táo, có lúc lạnh lùng, ở biệt tài phân tích tâm lý và ở cách đặt những vấn đề lớn về nhân phẩm vào chuyện đời thường như miếng ăn, món nợ; quan niệm của ông được nói thẳng trong Trăng sáng và Đời thừa. Các nét ấy được phân tích kỹ, có dẫn chứng từ Chí Phèo và Lão Hạc, trong bài phong cách sáng tác của Nam Cao.
Nhận định về Nam Cao
Phần này tổng hợp những nhận xét có thể dùng khi viết bài nghị luận về Nam Cao. Đây là nhận xét chung của người biên tập dựa trên tiểu sử và tác phẩm, không phải trích dẫn của một nhà phê bình cụ thể.
- Nam Cao là nhà văn của thế giới nội tâm: điều làm nên giá trị tác phẩm của ông không nằm ở cốt truyện ly kỳ mà ở những trang phân tích tâm lý tinh tế, chân thật.
- Ông nhìn người nông dân không bằng con mắt thương hại hay coi thường mà bằng sự thấu hiểu: ngay cả khi họ bị tha hóa như Chí Phèo, nhà văn vẫn tin vào bản chất lương thiện của họ.
- Viết về người trí thức nghèo, Nam Cao tự soi vào chính mình; những bi kịch “sống mòn”, “đời thừa” vì thế mang sức nặng của một lời tự thú.
- Từ một cây bút hiện thực trước 1945, Nam Cao trở thành một nhà văn – chiến sĩ trong kháng chiến; việc ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh ngay đợt đầu tiên (1996) cho thấy vị trí của ông trong nền văn học dân tộc.
Tác phẩm của Nam Cao trong sách giáo khoa Ngữ văn
Ở bộ sách giáo khoa mới, học sinh gặp Nam Cao từ lớp 8 cho đến lớp 12:
| Tác phẩm | Lớp – bộ sách | Bài học | Bài soạn trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Lão Hạc | Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 2 | Bài 6 – Truyện | Soạn bài Lão Hạc (Cánh diều 8) |
| Lão Hạc | Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 1 | Bài 2 – Những ô cửa nhìn ra cuộc sống | Soạn bài Lão Hạc (CTST 12) |
| Chí Phèo | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập 1 | Bài 1 – Câu chuyện và điểm nhìn trong truyện kể | Soạn bài Chí Phèo (KNTT 11) |
| Chí Phèo | Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 1 | Bài 3 – Truyện | Phân tích Chí Phèo |
Khi học hai tác phẩm này, học sinh nên nắm chắc hoàn cảnh ra đời, quan điểm nhân đạo của Nam Cao và nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật, vì đây là những ý thường xuất hiện trong đề kiểm tra.
Tóm tắt tiểu sử Nam Cao ngắn gọn
Nam Cao (1915 – 1951), tên thật Trần Hữu Tri, quê làng Đại Hoàng, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ông xuất thân trong gia đình nông dân nghèo, từng kiếm sống ở Sài Gòn rồi dạy học tại Hà Nội. Trước Cách mạng, ông viết về người nông dân nghèo và người trí thức nghèo với các tác phẩm Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa, Sống mòn. Năm 1943 ông gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc; sau Cách mạng làm báo, viết văn phục vụ kháng chiến (Đôi mắt, Ở rừng). Cuối năm 1951, ông hi sinh khi đang công tác ở vùng địch hậu Ninh Bình. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Câu hỏi thường gặp về Nam Cao
Nam Cao tên thật là gì?
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri. Ông còn dùng các bút danh Thúy Rư, Xuân Du, Nguyệt.
Nam Cao quê ở đâu?
Ông quê ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; theo địa giới hành chính mới, vùng quê ấy nay thuộc tỉnh Ninh Bình.
Nam Cao sinh năm bao nhiêu, mất năm bao nhiêu?
Nam Cao sinh ngày 29/10/1915 (giấy tờ ghi năm 1917) và mất cuối tháng 11 năm 1951, khi mới khoảng 36 tuổi.
Nam Cao mất như thế nào?
Cuối năm 1951, trên đường đi công tác thuế nông nghiệp vào vùng địch hậu ở Ninh Bình, ông bị quân Pháp bắt và bắn chết tại đồn Hoàng Đan.
Vì sao lấy bút danh Nam Cao?
Bút danh được ghép từ chữ “Nam” trong tên huyện Nam Sang và chữ “Cao” trong tên tổng Cao Đà – quê hương của nhà văn.
Tác phẩm nào của Nam Cao có trong sách giáo khoa?
Theo chương trình mới, Lão Hạc có trong Ngữ văn 8 Cánh diều và Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo; Chí Phèo có trong Ngữ văn 11 Kết nối tri thức và Cánh diều.
Lời kết
Cuộc đời ngắn ngủi nhưng sự nghiệp của tác giả Nam Cao đã để lại những trang văn hiện thực và nhân đạo bậc nhất của văn học Việt Nam. Hiểu tiểu sử, hoàn cảnh sống và quan niệm nghệ thuật của ông là chìa khóa để đọc sâu Chí Phèo, Lão Hạc hay Đời thừa. Mời bạn đọc tiếp tuyển tập tác phẩm Nam Cao trên Văn VN.
Xem thêm: Nhà văn Tô Hoài · Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân · Giới thiệu tác giả Lỗ Tấn