Mười tám tuổi in sách về Kant, Nietzsche và Einstein; hai mươi mốt tuổi viết bài hát Diệt phát xít và dự Quốc dân Đại hội Tân Trào; về sau viết tiểu thuyết, thơ, kịch, tiểu luận, và làm Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam hơn ba mươi năm. Nguyễn Đình Thi (1924 – 2003) là người nghệ sĩ đa tài hiếm có ấy, tác giả bài thơ Đất nước, bộ tiểu thuyết Vỡ bờ, vở kịch Rừng trúc và bài hát Người Hà Nội.
Sinh ở Luang Prabang, gốc làng Vũ Thạch

| Tên | Nguyễn Đình Thi (tên thật, cũng là tên ký trên tác phẩm) |
| Năm sinh – năm mất | 20/12/1924 – 18/4/2003 |
| Quê quán | Sinh ở Luang Prabang (Lào); quê gốc làng Vũ Thạch, nay là phố Bà Triệu, Hà Nội |
| Thể loại | Tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch, tiểu luận, triết học, ca khúc |
| Tác phẩm tiêu biểu | Xung kích (1951), Đất nước (1948 – 1955), Vỡ bờ (1962, 1970), Con nai đen (1961), Rừng trúc (1978), Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1979); ca khúc Diệt phát xít (1945), Người Hà Nội (1947) |
| Giải thưởng | Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I, 1996); Huân chương Hồ Chí Minh |
| Trong SGK | Việt Nam quê hương ta (lớp 6), Lá đỏ (lớp 8), Đất nước (lớp 10), Mấy ý nghĩ về thơ (lớp 12) và một số văn bản đọc mở rộng |
Cha ông là một viên chức Sở Bưu điện Đông Dương, được cử sang làm việc ở Lào. Năm 1931, gia đình về nước; ông đi học ở Hà Nội, Hải Phòng (Bảo tàng Văn học Việt Nam, báo Nhân Dân). Báo Đại biểu Nhân dân ghi ông về nước khi tròn năm tuổi.
Mười tám tuổi viết sách triết học
Ngay từ thời học trường Bưởi, ông đã mê triết học, văn chương, âm nhạc, hội họa. Năm 1942, khi mới mười tám tuổi, ông in một loạt sách mỏng: Triết học nhập môn, Triết học Kant, Triết học Nietzsche, Triết học Einstein, Triết học Descartes, Siêu hình học. Đỗ tú tài, ông vào Đại học Đông Dương; báo Đại biểu Nhân dân ghi ông học khoa Luật, báo Nhân Dân ghi ban Triết.
Song song với sách vở là con đường cách mạng. Từ năm 1941, ông hoạt động trong phong trào Việt Minh, tham gia nhóm bí mật nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Ông hai lần bị mật thám Pháp bắt giam. Từ năm 1943, ông là cán bộ chủ chốt của Hội Văn hóa cứu quốc, phụ trách báo Độc lập, tham gia tòa soạn tạp chí Tiên phong.
Tân Trào 1945 và Quốc hội khóa I
Tháng Tám năm 1945, ông là đại biểu dự Quốc dân Đại hội Tân Trào và được bầu vào Ủy ban Giải phóng dân tộc. Báo Đại biểu Nhân dân ghi ông là một trong hai đại biểu trẻ nhất của Đại hội. Sau Cách mạng, ông làm Tổng Thư ký Hội Văn hóa cứu quốc.
Trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, ông trúng cử đại biểu Quốc hội ở Hải Phòng, theo báo Đại biểu Nhân dân là đại biểu trẻ nhất khóa I, rồi được cử vào ban dự thảo Hiến pháp và Ban Thường trực Quốc hội. Ông tiếp tục là đại biểu Quốc hội các khóa II, III.
Diệt phát xít, Người Hà Nội: sáu ca khúc
Trong âm nhạc, ông chỉ viết sáu bài hát: Căm hờn, Diệt phát xít, Du kích quân (1945), Người Hà Nội (1947), Con voi (1948) và Đất nước yêu thương (1977), theo bài viết nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông trên báo Nhân Dân. Ít bài, nhưng Diệt phát xít vang lên trong những ngày Tổng khởi nghĩa, còn Người Hà Nội viết năm 1947, khi Hà Nội đã khói lửa toàn quốc kháng chiến, là một bài ca về Thủ đô được hát đến tận bây giờ.
Đất nước và cuộc tranh luận thơ không vần ở Việt Bắc
Bài thơ Đất nước được viết trong nhiều năm, từ 1948 đến 1955, ghép từ hai bài trước đó là Sáng mát trong như sáng năm xưa (1948) và Đêm mít tinh (1949), sau in trong tập Người chiến sĩ. Hai câu mở đầu là mùa thu Hà Nội trong ký ức người ra đi:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Cùng thời gian ấy, ông thử nghiệm thơ không vần, câu dài ngắn tự do. Tại Hội nghị tranh luận văn nghệ ở Việt Bắc tháng 9/1949, lối thơ này bị phê phán gay gắt, trong đó có ý kiến của Xuân Diệu; một số người như Văn Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng lên tiếng bênh vực. Nhà thơ Hữu Thỉnh, viết trên báo Văn nghệ, cho rằng lời giải thích thuyết phục nhất là của nhà phê bình Lại Nguyên Ân: cuộc tranh luận thực chất là phản ứng của thẩm mỹ Thơ mới trước những cách tân của thơ kháng chiến.
Cũng năm 1949, ông viết tiểu luận Mấy ý nghĩ về thơ, trình bày quan niệm thơ của một người vừa làm thơ vừa nghiên cứu, nay là văn bản học trong sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức. Năm 1948, ông còn viết Nhận đường, bài tiểu luận bàn về con đường của văn nghệ sĩ đi theo kháng chiến.
Từ Xung kích đến Vỡ bờ
Năm 1952, ông vào bộ đội làm chính trị viên phó tiểu đoàn ở Đại đoàn 308. Văn xuôi của ông bám theo các chặng đường lịch sử:
| Tác phẩm | Năm | Ghi chú |
|---|---|---|
| Xung kích (tiểu thuyết) | 1951 | Giải nhì Giải thưởng Văn nghệ 1951 – 1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam |
| Bên bờ sông Lô (truyện ngắn) | 1957 | |
| Vỡ bờ (tiểu thuyết, 2 tập) | 1962, 1970 | Bộ tiểu thuyết lớn nhất của ông |
| Vào lửa, Mặt trận trên cao (tiểu thuyết) | 1966, 1967 | |
| Tuyết (truyện ngắn) | 2003 |
Hội đồng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996 ghi nhận ông với mười bốn tác phẩm, từ Xung kích, Vỡ bờ đến các tập thơ và các vở kịch. Nét chung trong sáng tác của ông, ở thể loại nào cũng thấy, là chất trí tuệ, triết lý gắn với cảm xúc; phân tích kỹ có ở bài phong cách sáng tác của Nguyễn Đình Thi.
Rừng trúc, Con nai đen và mười vở kịch
Từ đầu thập niên 1960 và nhất là sau 1975, ông viết nhiều cho sân khấu: Con nai đen (1961), Hoa và Ngần (1975), Rừng trúc (1978), Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1979), Người đàn bà hóa đá (1980), Cái bóng trên tường (1982), Giấc mơ, Trương Chi (1983), Tiếng sóng, Hòn Cuội. Nhiều vở lấy chất liệu từ lịch sử và truyện dân gian, như Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Trương Chi, Hòn Cuội, để đặt ra những câu hỏi về con người. Giới phê bình, theo báo Nhân Dân, nhận xét kịch của ông giàu chất thơ, nhạc điệu và triết lý, đan xen hiện thực với liên tưởng.
Ba vở hiện có mặt trong sách giáo khoa dưới dạng văn bản đọc mở rộng hoặc tự đánh giá: Cái bóng trên tường, Trương Chi và Thật và giả (trích).
Hơn ba mươi năm Tổng Thư ký Hội Nhà văn
Năm 1957, ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam. Từ năm 1958, ông làm Tổng Thư ký Hội qua các khóa I, II, III, đến năm 1989 (trước đó là Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam 1956 – 1958). Wikipedia tiếng Việt ghi mốc 1963, nhưng Bảo tàng Văn học, báo Nhân Dân và Đại biểu Nhân dân đều ghi 1958. Từ năm 1995, ông là Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cho đến khi qua đời.
Ông mất ngày 18/4/2003 tại Hà Nội, an táng ở nghĩa trang Mai Dịch. Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I; năm 2008 được truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh. Tại hội thảo kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông (tháng 12/2024), PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, đánh giá ông là một nghệ sĩ thông tuệ, đa tài, xuất sắc ở nhiều lĩnh vực (báo Văn hóa, Sài Gòn Giải Phóng đưa tin).
Nguyễn Đình Thi trong sách giáo khoa Ngữ văn mới
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Việt Nam quê hương ta | Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 3 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Bài thơ “Đường núi” của Nguyễn Đình Thi (Vũ Quần Phương) | Ngữ văn 7 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 4 | Soạn bài |
| Lá đỏ | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 7 | Soạn bài Lá đỏ · Phân tích |
| Cái bóng trên tường (trích) | Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 9 (đọc mở rộng) | — |
| Đất nước | Ngữ văn 10 Cánh diều, tập 2 – Bài 7; Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 9 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Tóm tắt |
| Trương Chi (trích) | Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 2 – Bài 8 (tự đánh giá) | — |
| Mấy ý nghĩ về thơ | Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 3 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Thật và giả (trích) | Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 5 (đọc mở rộng) | — |
Hiếm tác giả nào có mặt ở nhiều lớp học như ông: từ bài thơ lục bát cho học sinh lớp 6 đến một tiểu luận lý luận cho học sinh lớp 12. Bài phân tích Đất nước của Nguyễn Đình Thi giúp ôn tập bài thơ dài nhất trong số đó; còn danh mục đầy đủ các tác phẩm có ở bài tuyển tập tác phẩm Nguyễn Đình Thi.
Xem thêm: