Bỏ qua tới nội dung
Thư viện văn học số
Tra chính tả
Lớp mấy?

Viết văn bản thuyết minh về một tác phẩm văn học – Dàn ý + 10 bài văn mẫu (lớp 11)

Cập nhật 08/10/2026·MMavrick Nguyễn·60 phút đọc·Ngữ văn 11·Bài 6: Nguyễn Du – "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng"
Nội dung chính
  • Yêu cầu của kiểu bài thuyết minh về một tác phẩm văn học
  • Thuyết minh về tác phẩm văn học trung đại Việt Nam
  • Thuyết minh về tác phẩm văn học hiện đại và văn học dân gian
  • Thuyết minh về tác phẩm văn học nước ngoài

Viết văn bản thuyết minh về một tác phẩm văn học là bài Viết của Bài 6 (Nguyễn Du – Những điều trông thấy mà đau đớn lòng) trong Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập hai. Đề yêu cầu cung cấp cho người đọc những thông tin đáng tin cậy về một tác phẩm: người viết, thời điểm và bối cảnh ra đời, thể loại, nội dung, nghệ thuật, chỗ đứng của nó trong đời sống văn học. Bên dưới là phần yêu cầu đã đối chiếu với sách, dàn ý để dùng cho mọi đề, rồi 10 bài mẫu viết về mười tác phẩm khác nhau, từ Truyện Kiều, Bình Ngô đại cáo, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đến Số đỏ, Thi nhân Việt Nam, Những người khốn khổ, viết theo nhiều hình thức: bài thi, bài chuyên đề câu lạc bộ, phiếu giới thiệu sách, bài hỏi – đáp. Năm ra đời, số câu, số chương, số bài trong mỗi mẫu đều đã được so ít nhất với hai nguồn; trường lớp, câu lạc bộ, buổi ngoại khóa là giả định.

thuyết minh về một tác phẩm văn học lớp 11
Viết văn bản thuyết minh về một tác phẩm văn học – văn mẫu lớp 11 Kết nối tri thức

Yêu cầu của kiểu bài thuyết minh về một tác phẩm văn học

Sách Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập hai, dành cho bài Viết này các trang 21–26. Khung yêu cầu ở trang 21 có thể chuyển thành bảng kiểm như sau:

Tiêu chí Bài viết đạt khi
Giới thiệu tác phẩm Nêu nhan đề, tên tác giả và một lời đánh giá chung ngắn gọn ngay từ phần mở.
Tác giả Giới thiệu khái quát, chỉ chọn những điều liên quan đến tác phẩm đang nói; không chép cả tiểu sử.
Hoàn cảnh, thể loại, nội dung Cho biết tác phẩm ra đời lúc nào, trong bối cảnh nào, thuộc thể loại gì với những đặc điểm gì; kể ngắn nội dung (với truyện) hoặc nêu đề tài, cảm hứng, bố cục (với thơ, văn tế, cáo…).
Giá trị Chỉ ra cái hay của tác phẩm về nội dung, về nghệ thuật; mỗi ý có dẫn chứng.
Vị trí, đóng góp Cho biết tác phẩm đứng ở đâu trong đời sống văn học: được tiếp nhận, dịch, chuyển thể, giảng dạy ra sao.
Yếu tố lồng ghép Có xen kể, tả, bộc lộ cảm xúc hoặc bàn luận, nhưng chỉ ở mức làm thông tin rõ hơn, hấp dẫn hơn.

Bài viết tham khảo của sách (trang 22–24) là bài làm của một học sinh giới thiệu Truyện Kiều, có ghi chú bên lề chỉ ra từng phần: giới thiệu chung, tác giả, hoàn cảnh và thể loại, tóm tắt, giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật, vị trí của tác phẩm. Phần thực hành gợi ý chọn một tác phẩm đã học ở lớp 10 (sách nêu Mùa xuân chín, Bình Ngô đại cáo, Một chuyện đùa nho nhỏ, Dưới bóng hoàng lan, Con đường không chọn) hoặc một tác phẩm tự chọn có giá trị. Ở bước viết, sách nhắc: điều cốt yếu là đem đến cho người đọc những hiểu biết có ích về tác phẩm, còn các yếu tố bổ trợ không được kéo bài lệch khỏi mục đích ấy.

Điểm dễ nhầm nhất của kiểu bài là ranh giới giữa thuyết minh và phân tích, nghị luận:

Thuyết minh về tác phẩm Phân tích, nghị luận về tác phẩm
Trả lời câu hỏi: tác phẩm này là gì, ra đời thế nào, gồm những phần nào, nói về điều gì, được đón nhận ra sao. Trả lời câu hỏi: tác phẩm hay ở đâu, vì sao, nên hiểu một chi tiết thế nào.
Thông tin khách quan, kiểm chứng được: năm sáng tác, nơi in, số câu, số chương, bố cục, tên nhân vật. Cảm nhận, đánh giá của người viết, lập luận qua từng câu chữ.
Được dùng bảng, sơ đồ, đề mục, ghi chú vị trí đặt hình (ảnh bìa, chân dung, bản đồ). Chủ yếu là các đoạn văn lập luận liền mạch.
Đánh giá chỉ là phần nhỏ, thường dựa vào các nhận định đã có hoặc sự tiếp nhận rộng rãi. Đánh giá là phần chính.
Dàn ý

Dàn ý văn bản thuyết minh về một tác phẩm văn học

421 từ

1. Mở bài

– Nêu nhan đề, tác giả, lời đánh giá khái quát.
– Có thể mở bằng một tình huống (một cuốn sách trên kệ, một câu hỏi của bạn học, một tục lệ gắn với tác phẩm) để dẫn vào.

2. Thân bài

– Tác giả: vài nét cần cho việc hiểu tác phẩm.
– Hoàn cảnh ra đời, quá trình in ấn hoặc lưu truyền (nếu có điều đáng nói).
– Thể loại và đặc điểm thể loại: truyện thơ, cáo, văn tế, tiểu thuyết chương hồi, tập thơ, công trình phê bình…
– Bố cục hoặc tóm tắt: với truyện, kể ngắn theo các chặng; với thơ, văn tế, cáo, nêu các phần và ý chính của từng phần (nên dùng bảng).
– Tác phẩm hay ở nội dung nào, nghệ thuật nào: mỗi ý kèm một dẫn chứng.
– Vị trí, sự tiếp nhận: được dịch, chuyển thể, đưa vào sách giáo khoa, thành cách nói quen thuộc…
– Lồng ghép: kể một trải nghiệm đọc, tả một trang sách, bày tỏ cảm xúc, phản bác một cách hiểu lệch — mỗi thứ một ít, đặt đúng chỗ.

3. Kết bài

– Chốt lại tác phẩm đã góp gì cho văn học, cho người đọc.
– Gợi ý cách đọc, cách tìm hiểu tiếp cho người đọc.

Mẹo khi lập dàn ý: lập một bảng ba cột Thông tin – Nguồn – Chỗ sẽ lồng ghép. Dòng nào chưa điền được cột nguồn thì hoặc tìm thêm, hoặc chuyển thành cách nói định tính (ví dụ “dài hàng nghìn câu” thay cho một con số chưa chắc).

Thuyết minh về tác phẩm văn học trung đại Việt Nam

Ba bài đầu gắn trực tiếp với các tác phẩm có trong sách Ngữ văn THPT. Mẫu 1 đi cùng Bài 6 (Nguyễn Du), mẫu 2 lấy đúng tác phẩm mà sách gợi ý.

Mẫu 1

Mẫu 1: Truyện Kiều, cuốn sách người Việt đọc, ngâm, lẩy và xin quẻ

1.633 từ

Nhan đề: Truyện Kiều ngoài trang sách
Bài đăng trong số chuyên đề Tác phẩm và đời sống của câu lạc bộ Văn khối 11 (giả định), kèm một bảng tóm tắt ba chặng của truyện.

Sáng mồng ba Tết năm ngoái, ở một phố sách (giả định), tôi đứng sau một bà cụ đang xin quẻ Kiều. Bà thắp nén hương, khấn khe khẽ, rồi mở cuốn sách ở một trang bất kì, đặt ngón tay lên một cặp câu và nhờ đứa cháu đọc to. Mấy người đứng quanh im lặng nghe. Tôi không định bàn quẻ ấy đúng hay sai. Điều khiến tôi để ý là một tác phẩm ra đời từ hơn hai trăm năm trước vẫn được người ta cầm lên vào buổi sáng đầu năm, không phải để ôn thi, mà để hỏi chuyện đời mình. Bài viết này giới thiệu Truyện Kiều từ chính chỗ ấy: một cuốn sách vừa là văn chương, vừa là một vật dụng tinh thần của người Việt.

1. Hai cái tên

Tên Nguyễn Du đặt cho tác phẩm là Đoạn trường tân thanh: đoạn trường là đứt ruột, tân thanh là tiếng mới; ghép lại, đó là một tiếng kêu mới cất lên từ nỗi đau như đứt ruột. Người đọc bình dân gọi gọn theo tên nhân vật chính: Truyện Kiều. Hai cái tên nói hai điều. Tên chữ Hán báo trước cảm hứng chủ đạo là nỗi đau. Tên dân gian cho thấy người ta nhớ tác phẩm qua một con người cụ thể, nàng Vương Thúy Kiều.

Truyện dùng chữ Nôm, thể lục bát, gồm cả thảy 3.254 câu. Thời điểm sáng tác đến nay chưa thống nhất: có thuyết cho rằng Nguyễn Du viết trước khi đi sứ Trung Quốc, có thuyết đặt vào khoảng sau chuyến đi sứ, giai đoạn 1814–1820. Cốt truyện được nhà thơ dựa theo cuốn tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Chuyện so sánh hai văn bản là một đề tài riêng; bài viết này chỉ đi theo đời sống của bản tiếng Việt.

2. Ba chặng đời Kiều

Cốt truyện đi theo khuôn quen thuộc của truyện thơ Nôm, gồm ba chặng, trải ra chừng mười lăm năm của đời nhân vật:

Chặng Sự việc chính Không khí
Gặp gỡ, đính ước Trong tiết Thanh minh, Kiều gặp chàng thư sinh Kim Trọng; hai người thề nguyền gắn bó. Tươi sáng, trong trẻo
Gia biến, lưu lạc Gia đình bị vu oan, Kiều bán mình chuộc cha, nhờ Thúy Vân thay mình giữ lời hẹn; nàng rơi vào tay Mã Giám Sinh rồi Tú Bà, làm lẽ Thúc Sinh, bị Hoạn Thư hành hạ, được Từ Hải cứu, rồi mắc lừa Hồ Tôn Hiến; nàng trầm mình ở sông Tiền Đường và được sư Giác Duyên cứu. U tối, dồn dập
Đoàn tụ Kim Trọng tìm được Kiều, gia đình sum họp; Kiều xin đổi tình vợ chồng thành tình bạn. Lặng, buồn

Chặng giữa dài nhất và cũng là chặng người đọc nhớ nhất. Nhiều đoạn quen thuộc trong sách giáo khoa nằm ở đây: Trao duyên, Kiều ở lầu Ngưng Bích, Chí khí anh hùng.

3. Khi sách bước xuống đời sống

Đây là chỗ Truyện Kiều khác hầu hết tác phẩm thời trung đại. Người Việt không chỉ đọc Kiều mà còn chơi với Kiều theo nhiều cách:

  • Ngâm Kiều: đọc thành giọng ngâm, kéo theo nhịp sáu tám.
  • Lẩy Kiều: nhặt một câu sáu và một câu tám bất kì trong 3.254 câu, miễn hợp vần, ghép lại thành một lời mới. Người lẩy giỏi có thể dùng câu Kiều để chào khách, trách bạn, mừng đám cưới mà người nghe vẫn hiểu đúng ý.
  • Tập Kiều: cũng ghép như thế nhưng được chen thêm chữ, thêm câu tự đặt.
  • Vịnh Kiều, bình Kiều: làm thơ, viết lời bàn về các nhân vật, thú chơi của giới nhà nho.
  • Đố Kiều, bói Kiều: lối chơi của dân gian, ai cũng tham gia được.

Bói Kiều là trường hợp lạ nhất. Người xin quẻ thường thắp hương, khấn gọi tên Từ Hải, Giác Duyên, Thúy Kiều, rồi lật sách ở một trang ngẫu nhiên, lấy cặp câu dưới ngón tay làm quẻ và tự liên hệ với điều đang băn khoăn: thi cử, làm ăn, duyên phận. Tin hay không là chuyện riêng của mỗi người. Nhìn từ phía văn học, tục ấy cho thấy câu thơ Nguyễn Du hàm súc đến mức đặt vào hoàn cảnh nào cũng gợi ra được một nghĩa. Ngoài những thú chơi đó, tác phẩm còn được đưa lên sân khấu, lên màn ảnh, được vẽ thành tranh; tên nhân vật thành danh từ chung, người ta nói “một Tú Bà”, “một Hoạn Thư” mà không cần giải thích.

4. Vì sao một truyện thơ dài lại sống lâu đến vậy?

Khi chuẩn bị chuyên đề, nhóm chúng tôi tìm được mấy lời giải thích. Thể lục bát là thể của ca dao, dễ thuộc, dễ ngâm, nên một người không biết chữ vẫn có thể thuộc hàng trăm câu. Ngôn ngữ của truyện có hai tầng: điển cố, chữ Hán cho người có học, và những câu nôm na như lời nói hằng ngày cho mọi người; ai đọc cũng tìm thấy phần của mình. Và cuối cùng là chính nàng Kiều: tài sắc, hiếu thảo, chung tình mà bị đời xô đẩy. Nhiều thế hệ đã đọc thấy trong số phận ấy nỗi khổ của người phụ nữ, của người lương thiện, có khi của chính mình.

Cũng phải nói thật: với học sinh, đọc trọn 3.254 câu không dễ, vì nhiều điển cố cần chú thích. Lẩy Kiều hay xin quẻ Kiều, xét cho cùng, là những cửa phụ dễ vào hơn cửa chính.

Buổi sinh hoạt tháng này, câu lạc bộ sẽ thử một trò nhỏ: mỗi thành viên lẩy hai câu Kiều để tự giới thiệu. Ai chưa thuộc câu nào thì mang theo một cuốn Truyện Kiều có chú thích, mở ra, đọc chậm, và chọn lấy hai câu hợp với mình.

Mẫu 2

Mẫu 2: Bình Ngô đại cáo, đọc từ chữ “cáo” (bài thi)

1.013 từ

Đề: Viết văn bản thuyết minh về một tác phẩm văn học đã học ở lớp 10. Bài làm trong 90 phút.

Học Bình Ngô đại cáo, nhiều bạn thuộc lòng đoạn mở đầu nhưng lúng túng khi được hỏi: cáo là gì, và vì sao một văn bản của triều đình lại được học như một tác phẩm văn chương? Bài viết này giới thiệu tác phẩm của Nguyễn Trãi bắt đầu từ câu hỏi ấy.

Cáo là một thể văn thời trung đại: vua chúa, hoặc người được giao viết thay, dùng nó để báo cho cả nước biết một việc hệ trọng. Chữ “đại” cho biết tầm vóc: đây không phải lời báo một chính sách thông thường mà là lời tuyên bố về vận mệnh của cả một quốc gia. “Bình Ngô” nghĩa là dẹp yên giặc Ngô, ở đây chỉ quân Minh xâm lược. Bài cáo viết bằng chữ Hán, theo lối văn biền ngẫu: câu chia vế, các vế đối nhau, câu dài câu ngắn đan xen, đọc lên có nhịp.

Về hoàn cảnh, cuối năm 1427, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn buộc quân Minh phải rút về nước. Năm 1428, Nguyễn Trãi được Lê Lợi giao viết bài cáo, thay lời vua tuyên bố việc dẹp xong giặc và tuyên bố Đại Việt từ nay độc lập. Bài cáo vì thế vừa là một văn kiện chính trị của triều đại mới, vừa là tiếng nói tổng kết của người trong cuộc về cuộc kháng chiến vừa qua.

Bài cáo có bố cục bốn phần rất rõ:

Phần Nội dung chính Giọng văn
1 Nêu chính nghĩa: việc nhân nghĩa trước hết là làm cho dân yên, dấy binh cốt để dẹp kẻ tàn bạo; khẳng định Đại Việt có văn hiến, cương vực, phong tục, các triều đại riêng, sánh ngang phương Bắc. Trang trọng, chắc nịch
2 Kể tội giặc Minh: nhân lúc nước ta rối ren để sang cướp, vơ vét của cải, tàn hại dân lành. Căm giận, dồn dập
3 Thuật lại cuộc khởi nghĩa từ những ngày đầu gian khó đến những trận thắng lớn và cảnh quân Minh tan vỡ. Hào hùng
4 Tuyên bố đất nước từ nay yên bình, độc lập; nêu bài học về vận nước. Trang nghiêm, tin tưởng

Bảng trên cho thấy trình tự lập luận của bài cáo: nêu nguyên lí trước, đưa chứng cứ sau, rồi mới kể chiến công và rút kết luận. Có một chi tiết đáng nhớ: khi chiến tranh kết thúc, nghĩa quân không giết quân bại trận mà còn cấp lương thực, phương tiện cho họ về nước. Chi tiết ấy làm cho chữ “nhân nghĩa” ở phần đầu không còn là lời nói suông.

Về giá trị, bài cáo thường được ví như một bản tuyên ngôn về độc lập, vì nó nói rõ một nước có chủ quyền dựa vào đâu: nền văn hiến lâu đời, bờ cõi riêng, phong tục riêng và các triều đại của mình. Về văn chương, đây là bài biền ngẫu mẫu mực thời trung đại, lí lẽ chặt mà vẫn giàu hình ảnh; nhiều đoạn đọc lên nghe rõ nỗi căm giận hay niềm tự hào. Bài cáo có mặt trong sách Ngữ văn nhiều thế hệ và có tên trong danh sách tác phẩm mà sách lớp 11 gợi ý cho chính bài Viết này.

Thuộc lòng bài cáo là việc tốt, nhưng hiểu nó là một văn bản có thể loại, có hoàn cảnh, có kết cấu bốn phần sẽ giúp ta nhớ lâu hơn nhiều. Khi đã biết mình đang đọc phần nào, câu nào đang làm nhiệm vụ gì, những câu văn quen thuộc sẽ không còn là chuỗi chữ học vẹt nữa.

Mẫu 3

Mẫu 3: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, kèm bảng bố cục

1.022 từ

Nhan đề: Khi người cầm ngọn tầm vông bước vào văn chương
Bài viết cho trang “Văn học Nam Bộ” của tập san lớp 11 (giả định), có bảng bố cục để bạn đọc dễ theo dõi.

Manh áo vải che thân, ngọn tầm vông trong tay, con dao phay, mồi lửa bện từ rơm. Đó là toàn bộ “binh khí” của những người được tế trong bài văn này, và Nguyễn Đình Chiểu kể ra từng món rành rọt như kể đồ nghề nhà nông. Giới thiệu Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, có lẽ nên bắt đầu từ mấy món đồ ấy, vì chúng cho thấy ngay điều mới nhất của bài văn: người được đặt ở trung tâm là người nông dân.

Hoàn cảnh ra đời. Tháng 12 năm 1861, nghĩa quân ở vùng Cần Giuộc tập kích đồn quân Pháp; nhiều người ngã xuống. Bài văn tế được viết theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định Đỗ Quang để đọc trong lễ tế những nghĩa sĩ ấy. Văn bản được soạn bằng chữ Nôm. Lúc này Nguyễn Đình Chiểu đã mù và đang lánh giặc; ông không thể cầm vũ khí nhưng đứng hẳn về phía những người đã cầm.

Thể loại. Văn tế là loại văn đọc trong lễ tế người chết, vừa kể công đức người đã khuất vừa bày tỏ niềm thương tiếc của người ở lại. Bài này viết theo lối phú, câu biền ngẫu, hai vế đối nhau từng chữ, như câu mở đầu đặt “Súng giặc đất rền” đối với “Lòng dân trời tỏ”. Theo lệ của thể loại, bài chia bốn phần:

Phần Dấu hiệu mở đầu Nội dung
Lung khởi Tiếng than “Hỡi ơi!” Khái quát thời thế: giặc đến, lòng dân sáng tỏ; người nông dân cả đời vô danh nay để lại tiếng thơm chỉ sau một trận đánh.
Thích thực “Nhớ linh xưa” Kể lại cuộc đời và trận đánh: từ người làm ruộng quen việc cuốc cày đến người tự nguyện xông vào đồn giặc với vũ khí thô sơ.
Ai vãn Tiếng than “Ôi!” Nỗi đau của người còn sống: tiếc người chết sớm, thương mẹ già, vợ yếu, căm kẻ theo giặc.
Kết Lại một tiếng “Ôi!”, khép bằng câu “Hỡi ôi, thương thay!” Khẳng định người nằm xuống vẫn sống trong lòng dân, mời vong linh về hưởng lễ.

Người nông dân ở vị trí trung tâm. Đọc phần thích thực, ta gặp những con người trước đó chỉ “cui cút làm ăn”, chưa quen cung ngựa, chỉ quen cuốc, cày, bừa, cấy. Họ ghét giặc theo cách của nhà nông, như ghét cỏ dại trên ruộng. Không ai bắt, họ tự đứng ra làm quân chiêu mộ; không được tập rèn, họ mang tầm vông, dao phay, rơm con cúi mà vẫn đốt được nhà dạy đạo, chém được đầu quan hai giặc. Văn chương viết trước đó hiếm khi dành cho người nông dân một chỗ đứng như vậy: không phải đám đông phía sau người anh hùng, mà chính họ là người anh hùng được tế.

Phần ai vãn chuyển giọng. Những câu văn dài ra, chậm lại: mẹ già ngồi khóc bên ngọn đèn khuya trong lều, vợ yếu chạy tìm chồng khi bóng chiều đã xế. Đến phần kết, giọng văn lại cứng cáp: sống thì đánh giặc, chết rồi vẫn đánh giặc, hồn còn đi theo giúp nghĩa quân. Một văn bản viết cho nghi lễ mà đọc lên vẫn thấy rõ từng con người, từng cảnh nhà, đó là chỗ tài của Nguyễn Đình Chiểu.

Bài văn tế được chọn vào sách Ngữ văn THPT, và thường được nêu như một bài tiêu biểu của dòng văn tế Nôm. Nếu có dịp, bạn hãy thử đọc to cả bài, như cách nó được đọc trong buổi lễ năm xưa. Những câu dài ngắn đan xen, những tiếng than đặt đúng chỗ sẽ cho thấy văn tế trước hết là văn để nghe.

Thuyết minh về tác phẩm văn học hiện đại và văn học dân gian

Năm bài tiếp theo chọn những tác phẩm có lịch sử in ấn, lưu truyền đáng kể: một tập thơ viết trong tù, hai tiểu thuyết, một công trình phê bình kiêm tuyển thơ và một truyện thơ dân gian.

Mẫu 4

Mẫu 4: Nhật kí trong tù qua bảy câu hỏi

889 từ

Nhan đề: Hỏi nhanh – đáp gọn về Nhật kí trong tù
Chuyên mục hỏi – đáp của bản tin Văn học trường (giả định). Câu hỏi do các bạn lớp 10 gửi về, nhóm biên tập lớp 11 trả lời.

Hỏi: Nhật kí trong tù là nhật kí hay là thơ?
Đáp: Là thơ, nhưng viết theo tinh thần nhật kí. Hồ Chí Minh dùng thơ để ghi lại những gì xảy ra trong những ngày bị giam: chuyện ăn, chuyện ngủ, chuyện bị giải đi, những người tù cùng cảnh, cả những lúc ngắm trăng, nhìn núi. Tên chữ Hán của tập thơ là Ngục trung nhật kí.

Hỏi: Tập thơ được viết khi nào, ở đâu?
Đáp: Tháng 8 năm 1942, trên đường sang Trung Quốc tìm sự ủng hộ cho cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh bị bắt giữ ở Quảng Tây, dưới chính quyền Tưởng Giới Thạch. Suốt mười mấy tháng tiếp theo, Người bị chuyển hết nhà lao này đến nhà lao khác, chừng mười tám nhà lao thuộc mười ba huyện, đến ngày 10 tháng 9 năm 1943 mới được trả tự do. Tập thơ được viết trong quãng thời gian ấy, trên một cuốn sổ nhỏ.

Hỏi: Có bao nhiêu bài? Em thấy sách ghi 133, có chỗ lại ghi 134.
Đáp: Cả hai con số đều có lí do. Trong bút tích, tác giả đánh số từ bài mở đầu đến bài cuối cùng là 133. Một số bản in đánh số theo cách khác nên ra 134. Khi viết bài, cách an toàn là ghi 133 bài theo bút tích và nói thêm vì sao có con số kia. Phần lớn các bài là tứ tuyệt bảy chữ, viết bằng chữ Hán.

Hỏi: Vì sao người ta hay nói tập thơ có cả chất thép lẫn chất tình?
Đáp: “Thép” là ý chí của người chiến sĩ: bị xiềng, bị đói, bị giải đi trong mưa rét mà vẫn giữ được tinh thần ung dung, coi gian khổ là thử thách để rèn mình. “Tình” là tấm lòng với thiên nhiên và con người: một vầng trăng ngoài song sắt, một cảnh núi lúc chiều, những bạn tù khốn khổ, những người dân nghèo gặp trên đường bị giải đi. Hai chất ấy hiếm khi tách riêng từng bài; chúng thường hòa trong cùng một bài thơ. Bài Ngắm trăng thường được dẫn ra: trong tù không rượu, không hoa, người tù vẫn hướng ra cửa sổ ngắm trăng.

Hỏi: Nên đọc bản dịch hay bản chữ Hán?
Đáp: Tập thơ được dịch sang tiếng Việt từ năm 1960, rồi lần lượt có bản tiếng Nga, Anh, Pháp, Đức và nhiều ngôn ngữ khác. Bản dịch thơ giúp đọc trôi chảy, nhưng có bài chưa giữ được hết ý của nguyên tác. Khi học, hãy để bản phiên âm, lời dịch sát nghĩa và bản thơ dịch nằm cạnh nhau rồi so từng câu.

Hỏi: Tập thơ có vị trí thế nào?
Đáp: Nhật kí trong tù đã được công nhận là bảo vật quốc gia. Nhiều bài trong tập được đưa vào sách giáo khoa các cấp. Với người đọc, tập thơ cho thấy một Hồ Chí Minh nhà thơ, bên cạnh hình ảnh nhà chính trị quen thuộc.

Hỏi: Viết thơ trong tù để làm gì, khi chẳng ai đọc?
Đáp: Câu này nhóm biên tập xin để dành cho số sau. Bạn nào có câu trả lời, hãy gửi về hòm thư bản tin, kèm một bài thơ trong tập mà bạn cho là minh chứng rõ nhất.

Mẫu 5

Mẫu 5: Số đỏ, lời giới thiệu cho buổi ngoại khóa

1.023 từ

Lời giới thiệu mở đầu buổi ngoại khóa Đọc lại một tiểu thuyết trào phúng của khối 11 (giả định), do một học sinh trình bày trước khi các lớp diễn tiểu phẩm.

Kính thưa thầy cô, các bạn thân mến!

Trong lời ăn tiếng nói, “số đỏ” là gặp vận may. Vũ Trọng Phụng lấy đúng hai chữ ấy đặt tên cho một cuốn tiểu thuyết, và cái may trong cuốn sách khiến người đọc vừa bật cười vừa thấy lạnh gáy. Trước khi các lớp lên sân khấu, xin phép được giới thiệu đôi điều về tác phẩm, để chúng ta cười cho đúng chỗ.

Một cuốn sách ra đời dang dở. Số đỏ xuất hiện lần đầu trên tuần san Hà Nội báo, bắt đầu từ số 40, ra ngày 7 tháng 10 năm 1936. Truyện đăng được mười sáu kì, ứng với mười sáu chương, thì phải dừng vì năm 1937 tờ báo bị cấm. Phải đến năm 1938, nhà Lê Cường mới in trọn cuốn tiểu thuyết với đủ hai mươi chương. Đó cũng là bản sách duy nhất in khi tác giả còn sống; lần in thứ hai đến năm 1946, khi Vũ Trọng Phụng đã mất được bảy năm. Nói cách khác, tác phẩm cười nhiều nhất của ông lại có một số phận chẳng mấy may mắn.

Một cú leo thang không tưởng. Nhân vật chính là Xuân, mồ côi từ nhỏ, có mái tóc đỏ hoe nên bị gọi là Xuân Tóc Đỏ. Hắn làm đủ nghề lề đường: bán báo, rao thuốc lậu, nhặt bóng ở sân quần vợt, rồi bị đuổi vì một hành vi vô giáo dục. Chính lần bị bắt ấy lại mở cửa cho hắn: bà Phó Đoan, một me Tây hai đời chồng luôn tự nhận là quả phụ tiết hạnh, bảo lãnh hắn và giới thiệu vào hiệu may Âu Hóa của vợ chồng Văn Minh. Từ đây, nhờ thuộc lòng mấy bài quảng cáo thuốc, Xuân được gọi là “sinh viên trường thuốc”, “đốc tờ Xuân”. Hắn vô tình làm cụ cố tổ của nhà Văn Minh chết, khiến con cháu sớm được chia gia tài, nên được cả nhà biết ơn và hứa gả cô Tuyết. Cuối truyện, trong một trận quần vợt có tính ngoại giao với nhà vô địch Xiêm, Xuân thua, thế mà lại được tung hô là người “cứu quốc”.

Cười vào ai? Tiếng cười của Số đỏ không nhắm vào một gã vô học gặp may. Nó nhắm vào cái xã hội thượng lưu thành thị đã nâng gã lên: những phong trào Âu hóa, cải cách y phục, thể thao, giải phóng phụ nữ rầm rộ mà rỗng ruột, nơi người ta khoác chữ “văn minh”, “tiến bộ” lên những thói ăn chơi và hám danh. Có bạn hỏi: một kẻ như Xuân leo cao nhanh như thế có phi lí không? Phi lí thật, nhưng cái phi lí nằm ở đám đông tung hô hắn, và đó chính là đích của ngòi bút trào phúng. Nhà văn dùng phóng đại, đặt cạnh nhau những điều trái ngược, như một đám tang mà con cháu thì hớn hở. Riêng nhan đề đoạn trích quen thuộc Hạnh phúc của một tang gia đã gói cả thủ pháp ấy: hai chữ “hạnh phúc” và “tang gia” vốn không thể đứng cạnh nhau.

Số đỏ ở trường và ngoài trường. Học sinh biết tác phẩm chủ yếu qua những đoạn trích từng in trong sách Ngữ văn như Hạnh phúc của một tang gia hay Xuân Tóc Đỏ cứu quốc. Ngoài nước, cuốn sách đã có bản dịch tiếng Anh in năm 2002, giúp bạn đọc nước ngoài làm quen với một tiếng cười rất Hà Nội của những năm 1930.

Còn bây giờ, xin mời thầy cô và các bạn cùng xem lớp 11A3 (giả định) dựng lại cảnh đám tang cụ cố tổ. Trong lúc xem, mời mọi người thử đếm xem có bao nhiêu nhân vật thật sự buồn.

Mẫu 6

Mẫu 6: Phiếu giới thiệu Tắt đèn cho em lớp 8

714 từ

Phiếu giới thiệu sách: Tắt đèn (Ngô Tất Tố)
Phiếu do câu lạc bộ Đọc sách khối 11 (giả định) viết, kẹp trong cuốn sách ở tủ sách lớp 8.

– Thể loại: tiểu thuyết, 27 chương.
– Ra đời: đăng báo từng phần trước khi in thành sách năm 1939.
– Đoạn trích nhiều người biết: Tức nước vỡ bờ.

Em thân mến,

Nếu em mở cuốn này vì từng nghe kể cảnh chị Dậu quật ngã tên cai lệ, thì em nên biết trước: cảnh ấy chỉ nằm ở khúc giữa, và phần còn lại của cuốn sách không dễ đọc như thế. Hãy đọc chậm.

Toàn bộ câu chuyện xoay quanh một mùa sưu ở một làng quê. Nhà chị Dậu nghèo đến mức không có tiền nộp suất sưu cho anh Dậu, mà anh lại đang ốm; bọn tay sai trói anh ra đình. Chị Dậu xoay xở đủ đường, cuối cùng phải bán đứa con gái lớn là cái Tí cùng ổ chó mới đẻ cho nhà Nghị Quế, được hai đồng bạc. Tưởng thế là đủ, bọn lí dịch lại bắt nộp nốt suất sưu của người em chồng đã chết. Em sẽ thấy cái nghèo trong sách được đếm bằng từng đồng, từng hào, và chính những con số nhỏ ấy làm người đọc nghẹn.

Nhân vật em sẽ nhớ lâu nhất có lẽ vẫn là chị Dậu. Chị không phải kiểu người sinh ra để đánh nhau: chị đảm đang, nhẫn nhịn, nói năng mềm mỏng, van nài đến lời cuối cùng. Chỉ khi chồng sắp bị lôi đi lần nữa, chị mới vùng lên. Vì thế cái tên của đoạn trích, mượn từ câu thành ngữ nước dâng quá thì bờ phải vỡ, đặt vào đây rất đúng: sức chịu đựng nào cũng có giới hạn. Đọc cả cuốn, em sẽ gặp thêm những người nghèo khác trong làng, có người ác, có người tốt, và thấy rõ hơn vì sao chị lại đơn độc đến thế.

Sau cảnh “tức nước vỡ bờ”, chị Dậu còn phải đi qua nhiều chuyện tệ hơn ở huyện, ở tỉnh, và cuốn sách khép lại trong bóng tối. Ngô Tất Tố không tìm cho nhân vật một lối ra dễ dàng; ông để người đọc tự hỏi vì sao một người đàn bà đảm đang, thương chồng con như thế lại bị dồn đến đường cùng. Cái nhìn ấy là chỗ cuốn sách mạnh nhất về mặt hiện thực: nó cho thấy sưu thuế thời ấy đè lên một gia đình nông dân cụ thể ra sao, nặng đến mức nào.

Một gợi ý nhỏ: khi đọc, em hãy ghi ra lề vở mỗi lần chị Dậu có thêm hay mất đi một khoản tiền. Đọc xong, nhìn lại cột số ấy, em sẽ hiểu nhan đề Tắt đèn hơn bất cứ lời giải thích nào.

Mẫu 7

Mẫu 7: Thi nhân Việt Nam, tờ giới thiệu ở thư viện

757 từ

Sách tháng này: Thi nhân Việt Nam
Tờ giới thiệu dán cạnh kệ sách Văn học của thư viện trường (giả định), do nhóm cộng tác viên thư viện lớp 11 viết.

Kệ thứ hai, ngăn bên trái, có một cuốn sách mà nhiều bạn đã đọc một phần trong giờ Ngữ văn nhưng ít ai mượn cả cuốn về nhà: Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân. Nếu bạn từng học bài Một thời đại trong thi ca, thì đó chính là trang mở đầu của cuốn sách này.

Cuốn sách là gì? Vừa là một tuyển tập thơ, vừa là một công trình phê bình về phong trào Thơ mới. Sách ghi nhận các nhà thơ và bài thơ trong khoảng 1932–1941, được viết năm 1941 và in lần đầu năm 1942 tại nhà in Nguyễn Đức Phiên. Đó cũng là tên khai sinh của Hoài Chân, em ruột Hoài Thanh và là người cùng làm sách.

Bên trong có gì?

  • Đầu sách: tiểu luận Một thời đại trong thi ca, bàn về nguồn gốc của Thơ mới và cuộc tranh luận giữa thơ mới với thơ cũ.
  • Phần chính: 169 bài thơ của 46 tác giả, gồm 45 nhà thơ mới và Tản Đà, nhà thơ đứng giữa hai thời. Với từng người, sách viết một đoạn bình riêng, kèm theo các bài được tuyển.
  • Cuối sách: bài Nhỏ to…, nơi người soạn trò chuyện với bạn đọc về chuyện chọn lựa, và thẳng thắn nói mình ghi cảm tưởng chứ không xếp ngôi thứ các nhà thơ.

Vì sao nên đọc? Đây là một trong những tuyển tập đầu tiên của Thơ mới, ra đời ngay khi phong trào đang ở độ chín, nên là tư liệu quý cho ai muốn tìm hiểu giai đoạn ấy. Lời bình trong sách không khô khan kiểu giáo trình mà giàu cảm xúc, nhiều câu đọc như văn xuôi trữ tình; nhiều nhận xét về từng nhà thơ đến nay vẫn được trích lại. Bạn cũng nên biết phạm vi của sách: nó chỉ tuyển Thơ mới, không bao quát mọi dòng thơ của thời đó, và lối bình theo ấn tượng cá nhân là do tác giả chủ động chọn.

Nếu chỉ có một buổi chiều? Hãy đọc tiểu luận đầu sách, rồi lật đến bốn cái tên mà bạn đã quen từ giờ Văn hoặc từ các tuyển thơ: Hàn Mặc Tử, Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu. Đọc đoạn bình trước, bài thơ sau, rồi thử làm ngược lại: đọc thơ trước, tự ghi cảm nhận của mình, xong mới mở đoạn bình ra so. Cách thứ hai thú vị hơn nhiều.

Lời dặn khi mượn: sách thuộc tủ sách tham khảo nên chỉ được mượn đọc tại chỗ hoặc mượn về trong một tuần (quy định giả định). Xin đừng gạch chân vào sách; nếu thích câu nào, hãy chép vào sổ tay của mình.

Mẫu 8

Mẫu 8: Tiễn dặn người yêu, kèm sơ đồ ba chặng

764 từ

Nhan đề: Xống chụ xon xao, một chuyện tình kể bằng thơ
Bài cho góc Văn học các dân tộc của tập san lớp (giả định), có sơ đồ ba chặng của cốt truyện.

Xống chụ xon xao là tên tiếng Thái của truyện thơ mà người Kinh quen gọi là Tiễn dặn người yêu. Học sinh lớp 11 phần lớn chỉ quen với tác phẩm nhờ đoạn Lời tiễn dặn in trong sách Ngữ văn. Ít ai để ý rằng đoạn ấy chỉ là một khúc của cả một truyện thơ dài 1.846 câu.

Truyện thơ là gì? Đó là truyện kể dài bằng thơ, kết hợp tự sự với trữ tình. Ở nhiều dân tộc thiểu số, loại truyện này thường kể về những đôi lứa thương nhau nhưng bị hôn nhân gả bán chia lìa, và về khát vọng được tự do yêu thương. Xống chụ xon xao là tác phẩm dân gian, không rõ tác giả, được người Thái truyền miệng, thêm bớt từ đời này sang đời khác.

Sơ đồ cốt truyện (trong tập san, phần này vẽ thành ba ô nối nhau bằng mũi tên):

Chặng Sự việc
1. Tình yêu tan vỡ Hai người quấn quýt từ thuở bé, lớn lên thì thành đôi. Nhưng chàng trai nghèo, nên cha mẹ cô gái đem gả con cho một nhà giàu.
2. Lời tiễn dặn Chàng trai đưa cô gái về nhà chồng, dặn dò, hẹn thề chờ đợi. Về làm dâu, cô bị chồng đánh đập, bị nhà chồng hắt hủi; chàng trai chứng kiến và càng đau đớn.
3. Hạnh phúc Sau nhiều năm lận đận, hai người gặp lại và được sống bên nhau.

Đoạn tiễn dặn được trình bày chủ yếu qua lời của chàng trai, nên đọc lên không giống lời kể của người ngoài cuộc mà như tiếng nói từ trong lòng chàng trai. Lời thơ lặp đi lặp lại nhiều cấu trúc câu, hình ảnh so sánh lấy từ núi rừng, cây cỏ quen thuộc của người Thái. Nhờ những điệp khúc ấy, một lời hẹn được nói đi nói lại mà không nhàm, giống cách người ta hát chứ không giống cách người ta viết.

Không chỉ để đọc. Văn học dân gian Thái sống trong tiếng hát: những điệu khắp giao duyên, lời ru, câu tục ngữ đi cùng sinh hoạt hằng ngày. Truyện thơ này cũng vậy. Tháng 10 năm 2025, trong dịp kỉ niệm 130 năm thành lập tỉnh, ở quảng trường Sơn La có một chương trình nghệ thuật mang chính tên Xống chụ xon xao: nghệ sĩ trình diễn truyện thơ trên nền hát khắp, tiếng đàn môi hòa với âm nhạc đương đại, giữa những mái nhà sàn phủ vải và tranh.

Thử hình dung buổi tối ấy: một câu chuyện tình đã đi qua bao thế hệ được hát lên giữa phố, và những người đứng nghe có lẽ không cần đến sơ đồ ba chặng nào để hiểu.

Thuyết minh về tác phẩm văn học nước ngoài

Hai bài cuối giới thiệu hai bộ sách đồ sộ của văn học thế giới. Với tác phẩm dịch, cần ghi rõ tên dịch giả hoặc nói rõ mình đọc bản nào, và hạn chế trích bản dịch còn trong thời hạn bảo hộ.

Mẫu 9

Mẫu 9: Những người khốn khổ, tấm bản đồ cho người mới đọc

1.186 từ

Nhan đề: Đừng sợ độ dày – giới thiệu Những người khốn khổ cho người mới bắt đầu
Bài đăng trong chuyên mục “Sách kinh điển” của một diễn đàn đọc sách học sinh (giả định); người viết là thành viên lớp 11.

Bộ Những người khốn khổ tôi mượn ở thư viện dày đến mức đặt lên bàn học là chiếm gần hết chỗ để vở. Mấy đứa bạn nhìn thấy đều lắc đầu. Bài này không định khen cuốn sách thêm một lần nữa; nó chỉ muốn đưa cho người sắp đọc một tấm bản đồ: sách ra đời thế nào, chia làm mấy phần, ai là ai, và chỗ nào có thể đi nhanh.

1. Một cuốn sách viết từ nơi lưu vong

Tiểu thuyết của nhà văn Pháp Huy-gô (Victor Hugo) ra mắt năm 1862. Bản đầu tiên được in ở Bỉ, khi nhà văn đang sống lưu vong trên đảo Guernsey. Các phần của bộ sách lần lượt được phát hành trong vòng vài tháng của năm ấy. Câu chuyện bắt đầu từ năm 1815 và kết thúc sau cuộc khởi nghĩa tháng 6 năm 1832 ở Pa-ri, nên đọc nó cũng là đi qua gần hai mươi năm lịch sử nước Pháp.

2. Năm phần, năm cánh cửa

Phần Tên phần Đi qua những gì
I Phăng-tin Giăng Van-giăng ra tù, nhờ lòng tốt của giám mục Mi-ri-en mà đổi đời thành ông Ma-đơ-len chủ xưởng; số phận cô thợ Phăng-tin.
II Cô-dét Mở đầu bằng trận Oa-téc-lô; Giăng Van-giăng chuộc bé Cô-dét từ tay vợ chồng chủ quán, trốn lên Pa-ri, nương náu trong một tu viện.
III Ma-ri-uýt Ma-ri-uýt bước vào câu chuyện và gặp Cô-dét; nhà Tê-nác-đi-ê tìm cách gài bẫy Giăng Van-giăng.
IV Tình ca phố Plu-mê và anh hùng ca phố Xanh Đơ-ni Tình yêu nảy nở giữa đôi trẻ; nhóm sinh viên dựng chiến lũy tháng 6 năm 1832.
V Giăng Van-giăng Chiến lũy thất thủ; Giăng Van-giăng vác chàng trai bị thương lách qua hệ thống cống dưới lòng Pa-ri; số phận thanh tra Gia-ve; đám cưới của đôi trẻ và những ngày cuối đời của Giăng Van-giăng.

3. Ai là ai

Giăng Van-giăng là người nông dân nghèo phải ở tù tổng cộng mười chín năm: án ban đầu vì lấy trộm một ổ bánh mì cho gia đình đang đói, rồi bị kéo dài thêm sau những lần tìm cách trốn. Ra tù với tấm giấy thông hành màu vàng, anh bị mọi nơi xua đuổi, cho đến khi gặp giám mục Mi-ri-en. Anh lấy trộm đồ bạc của ông, bị bắt lại, thế mà vị giám mục nói với cảnh sát rằng đó là quà ông tặng. Từ khoảnh khắc ấy, cả phần đời còn lại của Giăng Van-giăng là một hành trình làm người tốt. Đối lập với anh là thanh tra Gia-ve, người tin vào luật lệ tuyệt đối và truy đuổi anh suốt nhiều năm. Quanh hai người là cô thợ Phăng-tin phải bán tóc, bán răng nuôi con; bé Cô-dét bị vợ chồng chủ quán trọ Tê-nác-đi-ê hành hạ; chàng Ma-ri-uýt; cậu bé đường phố Ga-vơ-rốt chết ở chiến lũy.

Tôi đặc biệt chú ý cặp Giăng Van-giăng – Gia-ve. Một người phạm luật mà sống có lương tâm, một người giữ luật mà không biết đến lòng thương. Khi Gia-ve được chính kẻ mình săn đuổi tha mạng, hắn không chịu nổi sự đảo lộn ấy và tự kết liễu đời mình trên sông Xen. Đến đây, câu chuyện thôi là truyện phiêu lưu và trở thành một câu hỏi lớn về công lí.

4. Chỗ có thể đi nhanh

Huy-gô hay dừng mạch truyện để viết những đoạn dài về chuyện khác: trận Oa-téc-lô, hệ thống cống ngầm Pa-ri, đời sống trong tu viện, tiếng lóng của dân đường phố. Lần đọc đầu, bạn có thể lướt qua mà không mất mạch câu chuyện. Nhưng tôi khuyên đừng bỏ hẳn. Đọc lần thứ hai, tôi nhận ra những đoạn ấy chính là cái nền: muốn hiểu vì sao Giăng Van-giăng chọn đường cống để thoát, phải biết đường cống Pa-ri là gì; muốn hiểu những người trên chiến lũy, phải biết nước Pháp vừa đi qua những gì.

5. Mẹo đọc

Mỗi tuần đọc một phần, đặt bảng nhân vật bên cạnh, mỗi khi một người đổi tên (Giăng Van-giăng có mấy cái tên khác nhau) thì ghi lại. Năm tuần sau, bạn sẽ thấy độ dày của cuốn sách không còn đáng sợ, vì mình đã đi qua nó từng chặng.

Mẫu 10

Mẫu 10: Tam quốc diễn nghĩa trong một trang bản tin

701 từ

Một cuốn sách – một trang: Tam quốc diễn nghĩa
Mục giới thiệu sách của bản tin câu lạc bộ Sử học trường (giả định).

Muốn biết thời Tam Quốc thật sự diễn ra thế nào, ai thắng ai thua, người ta đọc sử. Muốn biết người phương Đông nhớ về thời ấy thế nào, người ta đọc Tam quốc diễn nghĩa. Mục sách kì này dành cho cuốn tiểu thuyết mà nhiều thành viên câu lạc bộ thú nhận là cửa ngõ đưa họ đến với môn Sử.

Tác giả và thể loại. Tiểu thuyết do La Quán Trung viết vào thế kỉ XIV, kể giai đoạn hỗn loạn từ cuối thời Đông Hán đến thời ba nước Ngụy, Thục, Ngô tranh hùng. Đây là tiểu thuyết chương hồi: truyện chia thành từng hồi, mỗi hồi có tiêu đề là một cặp câu đối. Bản người ta hay đọc có 120 hồi; đó là bản do cha con Mao Luân, Mao Tôn Cương chỉnh lí vào đời Thanh.

Sử hay tiểu thuyết? Một sử gia đời Thanh từng nhận xét: truyện có bảy phần là sự thực, ba phần là hư cấu. Các nhân vật, các trận lớn như Xích Bích có trong sử; nhưng nhiều lời thoại, nhiều mưu kế, nhiều chi tiết là do người kể thêm vào. Cảnh Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi kết nghĩa anh em ở vườn đào là một ví dụ: rất nhiều người thuộc lòng, nhưng muốn biết nó có thật hay không thì phải mở sách sử ra đối chiếu.

Đọc một hồi như thế nào? Ở bản 120 hồi, mỗi hồi thường đan hai mạch chuyện song song, và tiêu đề hai vế báo trước hai mạch ấy. Vì thế, trước khi đọc, nên dừng lại ở cặp câu tiêu đề một chút: nó là tấm biển chỉ đường cho cả hồi. Người mới đọc hay bị rối vì số nhân vật rất lớn; một tờ giấy ghi tên người theo ba phe Ngụy, Thục, Ngô sẽ đỡ rất nhiều.

Ở Việt Nam. Phan Kế Bính dịch bộ tiểu thuyết, bản dịch in năm 1909. Về sau, bản dịch này được Bùi Kỷ hiệu đính và in lại nhiều lần, được nhiều lớp bạn đọc tìm đọc.

Lời nhắn cho các bạn mê sử: đọc xong mỗi hồi, hãy chọn một sự kiện và tìm nó trong sách sử. Chỗ nào hai bên khớp nhau, chỗ nào tiểu thuyết đã “thêm muối”, ghi lại cả hai. Cuối học kì, câu lạc bộ sẽ góp các ghi chép ấy thành một bảng đối chiếu chung, treo ở phòng sinh hoạt để các khóa sau dùng tiếp. Bạn nào chưa có sách có thể mượn bộ của câu lạc bộ, nhớ ghi tên vào sổ.

Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao

Lỗi Sửa thế nào
Viết thành bài phân tích, nghị luận: cả bài bình từng câu thơ, từng chi tiết, gần như không có thông tin về tác phẩm. Thuyết minh trả lời câu hỏi tác phẩm là gì, gồm những gì; phân tích trả lời “hay ở đâu”. Giữ phần đánh giá ở mức một hai đoạn, phần còn lại dành cho thông tin: bối cảnh ra đời, thể loại, kết cấu, nội dung, sự tiếp nhận.
Chép tiểu sử tác giả dài nửa bài. Chỉ giữ những nét giúp hiểu tác phẩm (Nguyễn Đình Chiểu mù, đang lánh giặc khi viết văn tế; Huy-gô viết khi lưu vong).
Nêu năm, số câu, số chương theo trí nhớ, nhầm lẫn giữa các nguồn. Kiểm ít nhất hai nguồn; khi các nguồn khác nhau (133 hay 134 bài, ngày 14 hay 16 tháng 12) thì nói rõ có sự khác biệt hoặc ghi mốc rộng hơn.
Tóm tắt quá dài, kể lại cả truyện. Tóm theo chặng (ba chặng của Truyện Kiều, ba chặng của truyện thơ Thái) hoặc lập bảng bố cục, mỗi ô một hai câu.
Dàn bài nào cũng tác giả – hoàn cảnh – nội dung – nghệ thuật – giá trị. Có thể bắt đầu từ thể loại (chữ “cáo”), từ một tục lệ (bói Kiều), từ lịch sử in ấn (Số đỏ), từ cấu trúc cuốn sách (Thi nhân Việt Nam), miễn đủ các thông tin sách yêu cầu.
Trích dẫn sai nguyên văn hoặc trích quá dài từ bản dịch còn bảo hộ. Trích ngắn, đúng chữ, ghi người dịch; không chắc nguyên văn thì diễn ý.
Yếu tố lồng ghép lấn át thông tin: kể trải nghiệm đọc dài hơn phần giới thiệu tác phẩm. Một đoạn tự sự, miêu tả hay biểu cảm đặt ở mở bài hoặc kết bài là đủ; trong thân bài, lồng từng câu ngắn gắn với thông tin.
Quên phương tiện hỗ trợ. Bảng bố cục, sơ đồ nhân vật, ảnh bìa sách rất hợp với kiểu bài này; trong bài thi có thể kẻ bảng nhỏ hoặc ghi chú vị trí đặt hình.

Gợi ý bài nói: Giới thiệu về một tác phẩm văn học

Tiết Nói và nghe đi cùng bài học (trang 26–27) đòi hỏi người nói cho biết vì sao mình chọn tác phẩm, đưa những hiểu biết chính về người viết, thể loại, cái hay của nội dung và hình thức, đi sâu vào một vài điểm đặc sắc theo cách nhìn riêng, và nói rõ mình đánh giá tác phẩm ra sao. Có thể dùng chính bài viết làm đề tài nói. Khi chuyển bài viết thành bài nói:

  • Bắt đầu bằng lí do cá nhân: vì sao bạn chọn tác phẩm này (một lần đọc, một cảnh xem kịch, một người kể cho bạn nghe).
  • Rút các con số và tên riêng thành một trang trình chiếu hoặc một tờ giấy khổ lớn: năm ra đời, số chương, sơ đồ nhân vật. Người nghe khó nhớ số liệu nếu chỉ nghe.
  • Chọn một hai khía cạnh để nói kĩ, phần còn lại lướt nhanh; bài nói không cần đủ mọi ý như bài viết.
  • Phần đánh giá nói bằng ngôi thứ nhất, có lí do; sẵn sàng trả lời câu hỏi phản biện của bạn.

Có thể mở lời như sau: Có ai trong lớp mình từng thấy người ta mở Truyện Kiều không phải để đọc mà để xin quẻ đầu năm chưa? Hôm nay mình muốn giới thiệu tác phẩm ấy từ một phía ít được nói đến: những cách người Việt đã sống cùng 3.254 câu thơ của Nguyễn Du.

Chọn mẫu nào để luyện viết?

Nếu bạn cần một bài gắn với Bài 6 về Nguyễn Du, hãy đọc kĩ mẫu 1 rồi so với bài tham khảo trong sách để thấy hai cách giới thiệu cùng một tác phẩm. Muốn luyện bài thi 90 phút, xem mẫu 2. Mẫu 3, mẫu 8 và mẫu 9 cho thấy cách dùng bảng bố cục, sơ đồ cốt truyện trong bài thuyết minh. Mẫu 4, mẫu 6, mẫu 7, mẫu 10 ngắn, mỗi bài một hình thức (hỏi – đáp, phiếu sách, tờ thư viện, mục bản tin), hợp để luyện trong một tiết. Mẫu 5 viết bằng văn nói, có thể dùng ngay cho phần Nói và nghe.

Xem thêm:

Vietnammm
VJOL
s666
s666
cakhiatv
xoilac
gavangtv
trực tiếp bóng đá
xoilac tv
xoilac tv
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
xem bóng đá trực tiếp
socolive
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
thapcamtv
90phut
luongsontv
Socolive
Cakhiatv
Tiếu lâm tv
90phut
Thapcamtv
Luongsontv
sunwin
hitclub
go88
go88
kèo nhà cái
game bài
sunwin20
lô đề uy tín
https://hitclub3.jp.net/
https://kqbd.deal/
7m
789club
789club
b52
bomwin
https://trangcacuocbongda.bio/
iwin
vaobet
hitclub
https://tylekeonhacai.top/
https://sunwinn.za.com/
https://go881.jp.net/
7m
789club
game bài đổi thưởng
Rikvip
Socolive TV
Socolive TV
kèo nhà cái
hitclub
sunwin
789club
Kèo nhà cái
b52 club
b52 club
sunwin
kèo nhà cái
kèo bóng đá hôm nay
cá cược bóng đá
cakhiatv
socolive
xoilac
Kèo nhà cái
b52 club
ok9
https://fly88h.com/
789bet
tỷ lệ bóng đá hôm nay
tỷ lệ bóng đá hôm nay
Twin68
ww88
hitclub
tỷ lệ kèo
tylekeonhacai
V9bet
tỷ lệ kèo
nổ hũ
sunwin
188bet
Hit club
hitclub
Game bài 789club
BongdaNET
keonhacai5
Sunwin
hitclub
98win
RR88
123Bet
kèo nhà cái 5
NOHU
https://lucky88.us/
kubet
Sunwin
https://da888.app/
five88
da88
vin88
Five88
MAY88
FABET
sunwin
sunwin
sin88
Sumclub
Sao789
tỷ lệ kèo nhà cái
V88
ww88
ww88
Gamvip
Winclub
Xeng88
Vip69
Vic88
Kwin
Sumvip
Hit Club
https://cm88.so/
https://keonhacai.gb.net/
kèo nhà cái
Iwin68
dn88
https://ae8888.gr.com/
cakhiatv
xôi lạc tv
socolive
JBO
CakhiaTV
Socolive
b52club
kèo nhà cái 55
HITCLUB
lô đề online
https://mm88.blog/
8 DAY
kèo nhà cái
88xx
go99
sc88
23win
go8
go8
go99
33win
tỷ lệ kèo
kèo nhà cái
Go88
nowgoal
tỷ lệ kèo bóng đá anh
soi kèo nhà cái
Tài xỉu online
https://keonhacai6.io/
Luck8
B29
go8
https://sunwinor.com/
Rikvip
B52club
Kèo Nhà Cái
Go88
Socolive
Sutbongtv
Socolive
hitclub
bet168
game bài đổi thưởng
w 88
tỷ lệ kèo nhà cái
sun win
kết quả bóng đá
VN88
hello88
sunwin
f168
uu88
nổ hũ
Kèo Nhà Cái
Tài Xỉu
rikvip
xocdia88
xóc đĩa online
88vin
bay789
kwin
sunwin
https://sunwin35.io/
mu88
sunwin
B52
qq887p com
qq88 social
kèo nhà cái
kèo nhà cái
https://sunwins.eu.com
hitclub
Game bài đổi thưởng
v9bet
kubet
go88
b52 club
https://98win.kiwi/
au88
B52club
kèo nhà cái 5
https://sunwinkt.com/
AE888
Sunwin
go88
kqbd
Go88
kèo nhà cái
hit club
https://keonhacaim88.info/
trực tiếp bóng đá
Sunwin
sunwin
ok9
789Club
Sumclub
sonclub
alo789
bet88
123b
cm88
go 88
https://sunwinvy.com/
xoilactv
http://taixiuonline.markets/
nohu90 com
23win
game bai doi thuong
hitclub
sunwin
tài xỉu 789club
Bong88
Tỷ lệ kèo
Sunwin
hitclub
789club
trực tiếp bóng đá socolive
cm88
https://sunwin.vision/
hitclub
du88
du88
9bet
9bet
sunwin
lucky88
uk88
kèo nhà cái 5
Sunwin
https://ae888.co.com/
mu88
sunwin
sunwin
trang cá cược bóng đá
sunwin
GO99
789WIN
Lucky88
AO88
789Club
Nhà cái Xocdia88
8xbet
fb88
https://shbet800.com/
https://789bethv.com/
sunwin
sunwin
HITCLUB
https://keonhacai.forsale/
bay789
mu88
mu88
mu88
keo nha cai 5
đánh đề online
qq8876 net
https://metruyen.biz/
789 Club
HITCLUB
tỷ lệ kèo
luck8
tg88
789bet
789club
qh88
kubet
S8
Sunwin
Go88
Hay88
Hay88
Hay88
Hay88
https://go88n.co/
AO88
8xbet
b52club
kèo nhà cái
game bài đổi thưởng
https://ae888li.com/
79KING
https://npunks.io/
sun win
sun win
bắn cá đổi thưởng
Luckywin
RIK VIP
UY88
sun win
https://keonhacaingoaihanganh.com/
au88
SUNWIN
xóc đĩa online
mê truyện
Xóc đĩa
tài xỉu
đánh đề online
kèo nhà cái
nhà cái uy tín
https://dstruct.io
sunwin
nha cai uy tin
789 club
99ok
VN88
90phut
trực tiếp bóng đá
Tai xiu
789club
nowgoal
J88
sunwin
go88
https://789betlove.com/
rikvip
hitclub
lô đề online
https://tylekeonhacai.co.com/
789club
Exness
kubet