Trao duyên là đoạn trích nổi tiếng bậc nhất của Truyện Kiều, ghi lại đêm Thúy Kiều nhờ em gái Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng trước khi theo Mã Giám Sinh. Văn bản được học ở Bài 6 sách Ngữ văn 11 Kết nối tri thức (tập hai), Bài 7 sách Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo (tập hai) và Bài 2 sách Ngữ văn 11 Cánh diều (tập một). Bài viết tổng hợp văn bản đoạn trích, thông tin tác giả Nguyễn Du, vị trí, hoàn cảnh, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy để các em ôn tập nhanh.
Nội dung văn bản Trao duyên
Sách Cánh diều in đoạn trích từ câu 723 đến câu 756 (34 câu). Sách Kết nối tri thức và sách Chân trời sáng tạo in dài hơn, từ câu 711 đến câu 758 (48 câu): thêm 12 câu mở đầu (Kiều thao thức, Thúy Vân hỏi han) và 2 câu kết (Kiều ngất đi). Văn bản dưới đây đối chiếu với bản Truyện Kiều trên Wikisource và văn bản in trong SGK; chỗ khác chữ giữa các bản, bài viết theo SGK.

12 câu mở đầu (có trong sách Kết nối tri thức và Chân trời sáng tạo, câu 711 – 722):
Nỗi riêng riêng những bàn hoàn,
Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn.
Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân,
Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:
– Cơ trời dâu bể đa đoan,
Một nhà để chị riêng oan một mình.
Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh?
Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?
Rằng: – Lòng đương thổn thức đầy,
Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.
Hở môi ra cũng thẹn thùng,
Để lòng thì phụ tấm lòng với ai.
Đoạn trích Trao duyên (câu 723 – 756):
Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Chiếc vành với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan.
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
2 câu kết (sách Kết nối tri thức và Chân trời sáng tạo, câu 757 – 758):
Cạn lời hồn ngất máu say,
Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Một số từ ngữ khó: bàn hoàn – trăn trở, không yên; cậy – nhờ với lòng tin tưởng, gửi gắm; keo loan – thứ keo làm từ huyết chim loan, tương truyền nối được dây cung đứt, chỉ việc nối lại tình duyên; tơ thừa – mối tình còn lại, cách nói nhún nhường của Kiều; quạt ước, chén thề – trao quạt làm tin, uống rượu thề nguyền; lời nước non – lời thề nguyền gắn bó; chiếc vành – cái vòng (xuyến), kỉ vật đính ước; tờ mây – tờ giấy có vẽ mây, ghi lời thề; so tơ – lên dây đàn; bồ liễu – cây bồ, cây liễu, chỉ thân phận người con gái yếu đuối; nghì trúc mai – tình nghĩa gắn bó như trúc với mai; dạ đài – nơi tối tăm, cõi chết; thác oan – chết oan; trâm gãy gương tan – tình duyên tan vỡ; tình quân – người yêu (tiếng người con gái gọi người yêu); Kim Lang – chàng Kim.
Thông tin tác giả Nguyễn Du
Nguyễn Du (1765 – 1820), tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; ông sinh ở Thăng Long trong một gia đình đại quý tộc có truyền thống khoa bảng và văn chương. Cha ông là Nguyễn Nghiễm, từng làm Tể tướng thời Lê – Trịnh. Mồ côi cha năm 10 tuổi, mồ côi mẹ năm 13 tuổi, Nguyễn Du sống nhờ người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản.
Tuổi trẻ của Nguyễn Du trùng với thời loạn lạc cuối thế kỉ XVIII: tập đoàn Lê – Trịnh sụp đổ, phong trào Tây Sơn nổi dậy, rồi nhà Nguyễn được lập năm 1802. Hơn mười năm gió bụi ở quê vợ (Thái Bình) và quê nội (Hà Tĩnh) giúp ông thấm thía nỗi khổ của con người. Năm 1802 ông ra làm quan cho nhà Nguyễn, năm 1813 được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc; năm 1820, khi chuẩn bị đi sứ lần hai thì ông mất ở Huế.
Sự nghiệp của Nguyễn Du gồm ba tập thơ chữ Hán (Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục) và hai tác phẩm chữ Nôm là Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều), Văn tế thập loại chúng sinh. Xuyên suốt sáng tác là cảm hứng nhân đạo: thương xót những kiếp người đau khổ, nhất là người phụ nữ tài hoa bạc mệnh, và trân trọng khát vọng sống, khát vọng tình yêu của con người. Nguyễn Du được tôn vinh là đại thi hào dân tộc; năm 2013, Đại hội đồng UNESCO thông qua nghị quyết đưa kỉ niệm 250 năm năm sinh của ông (1765 – 2015) vào danh sách các sự kiện kỉ niệm.
Muốn tìm hiểu kĩ hơn, em có thể đọc bài tác giả Nguyễn Du: cuộc đời và sự nghiệp hoặc bài soạn bài Tác gia Nguyễn Du (Kết nối tri thức).
Thông tin tác phẩm Trao duyên
Mỗi mục dưới đây ứng với một câu hỏi các em hay gặp khi ôn tập Trao duyên.
Truyện Kiều là tác phẩm như thế nào?
Truyện Kiều tên chữ Hán là Đoạn trường tân thanh (tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột), gồm 3.254 câu thơ lục bát. Nguyễn Du dựa vào cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) nhưng sáng tạo lại về nhân vật, cách kể và ngôn ngữ, biến câu chuyện thành kiệt tác của văn học Việt Nam. Tác phẩm kể về cuộc đời mười lăm năm lưu lạc của Thúy Kiều, thường được chia ba phần: Gặp gỡ và đính ước – Gia biến và lưu lạc – Đoàn tụ.
Vị trí đoạn trích Trao duyên (xuất xứ)
Đoạn trích nằm ở đầu phần “Gia biến và lưu lạc”, từ câu 723 đến câu 756 (sách Kết nối tri thức và Chân trời sáng tạo in rộng hơn, từ câu 711 đến 758). Đây là bước ngoặt của cuộc đời Kiều: khép lại những ngày êm đềm bên gia đình và mối tình đầu, mở ra mười lăm năm đoạn trường.
Hoàn cảnh diễn ra cuộc trao duyên
Trong lúc Kim Trọng về Liêu Dương chịu tang chú, gia đình Kiều bị thằng bán tơ vu oan, cha và em trai bị bắt, nhà cửa bị lục soát. Để cứu cha, Kiều quyết định bán mình cho Mã Giám Sinh. Đêm cuối cùng trước khi theo Mã Giám Sinh, Kiều thao thức vì lời thề với Kim Trọng còn dang dở; nàng nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho chàng Kim. Cuộc trao duyên diễn ra trong đêm khuya, bên ngọn đèn, giữa hai chị em.
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: truyện thơ Nôm (đoạn trích), viết bằng thể thơ lục bát.
- Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm kết hợp tự sự (và miêu tả tâm trạng).
- Ngôi kể: ngôi thứ ba; phần lớn đoạn trích là lời nhân vật Thúy Kiều, gồm đối thoại với Thúy Vân và độc thoại nội tâm.
- Nhân vật: Thúy Kiều (nhân vật chính), Thúy Vân; Kim Trọng là người được nhắc tới, vắng mặt.
Trao duyên có mấy phần? Bố cục đoạn trích
Với văn bản 34 câu (Cánh diều), đoạn trích chia 3 phần:
- Phần 1 (12 câu đầu, từ “Cậy em em có chịu lời” đến “Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”): Kiều nhờ cậy, thuyết phục Thúy Vân nhận lời trao duyên.
- Phần 2 (14 câu tiếp, từ “Chiếc vành với bức tờ mây” đến “Rảy xin chén nước cho người thác oan”): Kiều trao kỉ vật và dặn dò em.
- Phần 3 (8 câu cuối): Kiều trở về thực tại, đau đớn độc thoại, hướng về Kim Trọng.
Với văn bản 48 câu của sách Kết nối tri thức và Chân trời sáng tạo, có thể chia 4 phần: 12 câu đầu (Kiều thao thức, Thúy Vân hỏi han) – 12 câu tiếp (lời nhờ cậy, thuyết phục) – 14 câu tiếp (trao kỉ vật, dặn dò) – 10 câu cuối (Kiều đau đớn hướng về Kim Trọng rồi ngất đi).
Giá trị nội dung
- Thể hiện bi kịch tình yêu của Thúy Kiều: vì chữ hiếu phải từ bỏ chữ tình, trao duyên nhưng không thể trao tình.
- Diễn tả diễn biến tâm trạng phức tạp của Kiều: từ tỉnh táo, khôn khéo khi thuyết phục em đến đau đớn, giằng xé khi trao kỉ vật và tuyệt vọng ở cuối đoạn.
- Ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn Kiều: sắc sảo, thông minh, giàu đức hi sinh, sống trọn tình nghĩa với gia đình và người yêu.
- Thể hiện tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du: thấu hiểu, xót thương thân phận con người – nhất là người phụ nữ – trong xã hội phong kiến.
Giá trị nghệ thuật
- Nghệ thuật miêu tả nội tâm bậc thầy, đặc biệt là độc thoại nội tâm ở những câu cuối.
- Đan xen lời người kể chuyện, lời đối thoại, lời độc thoại; giọng điệu thay đổi linh hoạt theo tâm trạng.
- Ngôn ngữ kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố bác học (điển tích, từ Hán Việt: keo loan, bồ liễu, trúc mai, dạ đài) với yếu tố bình dân (thành ngữ: đứt gánh tương tư, thịt nát xương mòn, ngậm cười chín suối, phận bạc như vôi, nước chảy hoa trôi).
- Từ ngữ chọn lọc, chính xác (“cậy”, “chịu”, “lạy”, “thưa”, “mặc em”); thể lục bát uyển chuyển.
Ý nghĩa nhan đề Trao duyên
“Trao duyên” là trao lại mối duyên của mình cho người khác. Nhan đề (do người biên soạn đặt) nêu đúng sự việc chính nhưng cũng chứa nghịch lí đau đớn: duyên có thể nhờ người khác nối tiếp, còn tình thì không trao được. Chính nghịch lí ấy làm nên bi kịch của Thúy Kiều trong đêm trao duyên.
Sơ đồ tư duy Trao duyên
Sơ đồ gói gọn kiến thức về đoạn trích trong sáu nhánh: tác giả, xuất xứ, thể loại, bố cục, nội dung, nghệ thuật.

Tóm tắt đoạn trích Trao duyên
Hai mẫu tóm tắt ngắn giúp em nhớ nhanh diễn biến đoạn trích.
Mẫu 1 – Tóm tắt Trao duyên ngắn nhất
Sau khi bán mình chuộc cha, trong đêm trước ngày theo Mã Giám Sinh, Thúy Kiều nhờ Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng. Nàng kể lại mối tình dang dở, thuyết phục em bằng tình máu mủ, rồi trao kỉ vật đính ước. Càng trao, nỗi đau càng dâng lên; Kiều tưởng tượng mình đã chết, cuối cùng hướng về Kim Trọng mà nhận lỗi “phụ chàng”.
Mẫu 2 – Tóm tắt Trao duyên theo bố cục
Đêm khuya, Kiều ngồi thao thức, nước mắt đầm đìa; Thúy Vân tỉnh giấc, ân cần hỏi han. Kiều ngỏ lời “cậy em”, xin em ngồi lên cho chị lạy rồi mới thưa chuyện. Nàng kể mối tình với Kim Trọng từ lúc gặp gỡ đến khi quạt ước, chén thề, nay gặp sóng gió phải chọn chữ hiếu, nên nhờ em “thay lời nước non”: em còn trẻ, lại là tình máu mủ, được vậy thì dù chết chị cũng mãn nguyện. Kiều trao chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền, dặn em giữ làm “của chung” và mong mai sau, khi em đốt hương, gảy đàn, thấy gió hiu hiu thì biết hồn chị trở về. Nghĩ đến cảnh “trâm gãy gương tan”, Kiều quên cả Thúy Vân trước mặt, gọi tên Kim Trọng trong nước mắt và tự nhận mình đã phụ chàng.
Lời kết
Trao duyên là đoạn thơ tiêu biểu cho tài miêu tả nội tâm và tấm lòng thương người của Nguyễn Du. Nắm chắc vị trí, hoàn cảnh, bố cục cùng những từ ngữ then chốt (“cậy”, “chịu”, “của chung”, “phụ chàng”) sẽ giúp em soạn bài và làm bài phân tích đoạn trích dễ dàng hơn.
Để nhận ra dấu ấn cá nhân của người viết trong văn bản này, em có thể đọc giọng văn riêng của Nguyễn Du.
Bạn đọc yêu thích giọng văn này có thể tìm đọc tuyển tập thơ Nguyễn Du.
Xem thêm:
- Soạn bài Trao duyên (Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo)
- Soạn bài Độc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du)
- Soạn bài Thúy Kiều hầu rượu Hoạn Thư – Thúc Sinh
- Kiều ở lầu Ngưng Bích – tác giả, tác phẩm
- Mở bài Trao duyên hay nhất – 14 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao
- Kết bài Trao duyên hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, liên hệ, theo đề