Thuyết minh là trình bày, giải thích cho người khác hiểu rõ về một sự vật, hiện tượng, một quy trình hay một vấn đề. Trong môn Ngữ văn, văn thuyết minh là kiểu văn bản cung cấp tri thức khách quan, chính xác về đặc điểm, cấu tạo, nguyên nhân, cách làm của đối tượng, bằng các phương pháp như định nghĩa, liệt kê, nêu số liệu, so sánh. Ngoài trường học, chữ này còn dùng cho việc đọc lời dịch phim.
| Nghĩa | Nói, viết cho rõ để người khác hiểu một đối tượng |
| Gốc từ | Hán Việt 說明: thuyết (nói, giảng) + minh (sáng, rõ) |
| Thuộc | Một phương thức biểu đạt; trong sách mới gắn với nhóm văn bản thông tin |
| Dấu hiệu nhận biết | Thông tin chính xác, giọng trung tính, hay có số liệu, định nghĩa, hình minh họa |

Văn thuyết minh là gì: từ chữ Hán đến tờ hướng dẫn sử dụng?
Chữ thuyết (說) là nói, giảng giải, như trong diễn thuyết, thuyết phục. Chữ minh (明) là sáng, rõ, như trong minh bạch, thông minh. Từ điển Hán Việt giải thuyết minh là dùng lời nói hoặc chữ viết giải thích cho rõ ràng, và cũng chỉ chính bản giải thích ấy. Từ điển tiếng Việt ghi nghĩa gần như vậy: nói hoặc chú thích để người ta hiểu rõ hơn về sự vật, sự việc, hình ảnh được đưa ra.
Văn bản thuyết minh vì thế có mặt khắp nơi. Tờ hướng dẫn trong hộp nồi cơm điện, bảng giới thiệu ở cổng một di tích, mục từ trong bách khoa thư, đoạn chú thích dưới bức ảnh trong sách Sinh học: tất cả đều là thuyết minh. Trong SGK, bài đọc về vịnh Hạ Long ở Ngữ văn 9 Cánh diều là một mẫu tốt: vị trí, số đảo, giá trị địa chất và các mốc được công nhận di sản được xếp lớp rõ ràng, có thể đối chiếu với phần soạn bài Vịnh Hạ Long. Mục đích của các văn bản này giống nhau. Người đọc xong phải biết thêm và hiểu đúng về đối tượng, chứ không cần phải xúc động hay bị thuyết phục.
Sách Ngữ văn theo chương trình 2018 xếp kiểu văn bản này vào nhóm văn bản thông tin; phần Viết vẫn giữ chữ “thuyết minh” trong tên đề: thuyết minh thuật lại một sự kiện (lớp 6), thuyết minh về quy tắc, luật lệ của một trò chơi (lớp 7), giải thích một hiện tượng tự nhiên (lớp 8), giới thiệu danh lam thắng cảnh (lớp 9). Quan hệ giữa hai tên gọi được nói kĩ trong bài văn bản thông tin trong sách Ngữ văn mới.
Bốn đặc điểm giúp nhận ra một văn bản thuyết minh
- Tri thức khách quan, chính xác. Thông tin phải kiểm chứng được. Viết “cầu Long Biên dài khoảng 2,3 km” khác hẳn “cầu Long Biên dài ơi là dài”.
- Giọng trung tính. Người viết hạn chế bày tỏ cảm xúc riêng, không tán dương quá lời, không hư cấu.
- Trình bày theo một trình tự rõ. Có thể theo thời gian (các bước làm bánh chưng), theo không gian (từ cổng vào chính điện), theo logic (nguyên nhân rồi kết quả), hoặc từ khái quát đến cụ thể.
- Hay đi kèm phương tiện phi ngôn ngữ. Bảng biểu, sơ đồ, hình ảnh, số liệu giúp người đọc nắm nhanh hơn. Sách mới đặc biệt chú ý điểm này.
Thuyết minh vẫn có thể hấp dẫn. Người viết được phép dùng một câu so sánh, một lời kể ngắn hay một câu hỏi gợi mở để người đọc không thấy khô. Điều kiện là các yếu tố ấy phải phục vụ thông tin, không làm sai lệch nó. Lớp 11 có hẳn một kiểu bài về chuyện này, xem thuyết minh lồng ghép miêu tả, tự sự, biểu cảm.
Sáu phương pháp thuyết minh và cách nhận ra từng cái
| Phương pháp | Làm gì | Dấu hiệu | Ví dụ tự đặt |
|---|---|---|---|
| Nêu định nghĩa, giải thích | Cho biết đối tượng là gì, thuộc loại nào | Câu dạng “A là B” | Áo dài là trang phục truyền thống của phụ nữ Việt, gồm thân áo dài tới gần mắt cá và quần ống rộng. |
| Liệt kê | Kể lần lượt các bộ phận, đặc điểm, công dụng | Dấu phẩy, gạch đầu dòng, “gồm”, “bao gồm” | Một chiếc xe đạp gồm khung, bánh, xích, bàn đạp, ghi đông và yên. |
| Nêu ví dụ | Đưa trường hợp cụ thể để minh họa | “ví dụ”, “chẳng hạn”, “như” | Nhiều loài chim di cư theo mùa, chẳng hạn chim én. |
| Dùng số liệu | Đưa con số chính xác để cụ thể hóa | Con số, đơn vị đo, mốc năm | Một ngày có 24 giờ; Trái Đất quay một vòng quanh trục mất khoảng chừng ấy thời gian. |
| So sánh | Đặt đối tượng cạnh cái quen thuộc để dễ hình dung | “như”, “gấp”, “bằng”, “hơn” | Sao Mộc to gấp nhiều lần Trái Đất. |
| Phân loại, phân tích | Chia đối tượng thành từng nhóm, từng mặt để nói lần lượt | “có hai loại”, “về hình dáng… về công dụng…” | Bánh Tết miền Bắc chủ yếu là bánh chưng vuông, miền Nam là bánh tét tròn dài. |
Một bài văn thường dùng nhiều phương pháp xen nhau. Đoạn mở đầu hay có định nghĩa, phần thân dùng phân loại để chia mục rồi trong mỗi mục lại liệt kê, đưa số liệu. So sánh trong thuyết minh khác so sánh tu từ ở chỗ: nó nhằm cho người đọc ước lượng đúng, không nhằm gợi cảm xúc. Câu “Sao Mộc lớn gấp nhiều lần Trái Đất” là thông tin; câu “Ông trăng tròn như cái mâm bạc” là văn chương.
Bố cục ba phần và một đoạn thuyết minh để luyện mắt
- Mở bài: giới thiệu đối tượng, có thể bằng một câu định nghĩa hoặc một câu hỏi gần gũi.
- Thân bài: trình bày đặc điểm theo trình tự đã chọn: nguồn gốc, cấu tạo, phân loại, công dụng, cách dùng hoặc bảo quản.
- Kết bài: nêu ý nghĩa của đối tượng hoặc lời lưu ý cho người đọc.
Đoạn tự viết sau giới thiệu chiếc nón lá:
Nón lá là loại nón đội đầu đan bằng lá cọ hoặc lá buông, có hình chóp. Một chiếc nón gồm khung vành tre uốn tròn, các lớp lá xếp chồng và sợi chỉ khâu cố định. Nón thường có mười sáu vành nan nhỏ dần về phía đỉnh. Ngoài che nắng che mưa, người Việt còn dùng nón để quạt, để múc nước hay đựng vài món đồ nhẹ khi đi chợ.
Câu đầu dùng định nghĩa. Câu thứ hai liệt kê bộ phận. Câu thứ ba đưa số liệu (con số mười sáu vành là thông tin phổ biến về nón làng Chuông, mỗi vùng có thể khác). Câu cuối lại liệt kê công dụng. Không có câu nào khen “đẹp tuyệt vời”, vì đó là cảm nhận chứ không phải tri thức.
Muốn xem bài hoàn chỉnh theo từng lớp, có các bài mẫu giới thiệu luật chơi của một trò chơi ở lớp 7, bài viết giải thích vì sao có cầu vồng, sấm sét ở lớp 8 và bài giới thiệu một di tích lịch sử ở lớp 9.
Thuyết minh, miêu tả hay tự sự?
| Tiêu chí | Thuyết minh | Miêu tả | Tự sự |
|---|---|---|---|
| Mục đích | Giúp người đọc hiểu đúng về đối tượng | Giúp người đọc “thấy” đối tượng | Kể lại sự việc, câu chuyện |
| Nội dung | Tri thức có thật, kiểm chứng được | Cảm nhận riêng, có thể tưởng tượng | Chuỗi sự việc, nhân vật |
| Ngôn ngữ | Chính xác, trung tính, dùng số liệu | Giàu hình ảnh, so sánh, nhân hóa | Có trình tự trước sau, có lời kể |
| Ví dụ về cây phượng | Phượng vĩ là cây thân gỗ, ra hoa vào khoảng tháng 5–6 | Hoa phượng đỏ rực như ngọn lửa trên sân trường | Mùa hè năm ấy, chúng tôi nhặt cánh phượng ép vào sổ |
Ba kiểu này hay trộn vào nhau trong một bài, nhưng mỗi bài có một kiểu chính. Hỏi “đọc xong mình biết thêm gì?” là cách nhanh để nhận ra bài thuyết minh.
“Thuyết minh phim” thì sao?
Trên ti vi và các nền tảng xem phim, thuyết minh là cách chuyển lời thoại phim nước ngoài sang tiếng Việt bằng giọng đọc, thường một người đọc cho mọi nhân vật, đè lên tiếng gốc được vặn nhỏ. Từ điển tiếng Việt cũng ghi ví dụ kiểu “phim nước ngoài được thuyết minh bằng tiếng Việt”. Cách này khác lồng tiếng (mỗi nhân vật một diễn viên lồng, thay hẳn tiếng gốc) và khác phụ đề (chữ chạy cuối màn hình). Trong kĩ thuật, xây dựng còn có “bản thuyết minh” đi kèm bản vẽ, dự án: phần chữ giải thích các thông số. Mọi nghĩa đều xoay quanh một ý: nói cho rõ.
Bài tập nhận diện văn thuyết minh
Câu 1: Đoạn “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm” là thuyết minh hay không?
Đáp án: Không phải văn bản thuyết minh. Đây là một câu tục ngữ, kinh nghiệm dân gian đúc kết thành lời có vần; nó không trình bày tri thức theo lối giải thích, không có số liệu hay định nghĩa.
Câu 2: Câu “Hồ Gươm còn có tên là hồ Hoàn Kiếm, nằm ở trung tâm Hà Nội” dùng phương pháp thuyết minh nào?
Đáp án: Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích (giới thiệu tên gọi và vị trí của đối tượng theo dạng “A là/còn gọi là B”).
Câu 3: Muốn thuyết minh về các loại đàn dân tộc, nên dùng phương pháp chính nào để chia bài?
Đáp án: Phân loại: chia thành đàn dây (đàn bầu, đàn tranh, đàn nguyệt…), nhạc cụ hơi (sáo trúc, kèn…), nhạc cụ gõ (trống, phách, mõ…), rồi trong mỗi nhóm liệt kê và giải thích.
Câu 4: Câu nào là thuyết minh: (a) “Mèo là loài vật nuôi thuộc họ Mèo, có khả năng nhìn trong bóng tối tốt”; (b) “Con mèo nhà em lười biếng nhưng đáng yêu vô cùng”?
Đáp án: Câu (a). Câu (b) là nhận xét mang cảm xúc riêng, thuộc biểu cảm hoặc miêu tả.
Mấy câu hỏi quanh chữ thuyết minh
Phương pháp thuyết minh là gì?
Là cách người viết dùng để trình bày tri thức về đối tượng cho rõ: nêu định nghĩa, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân loại, phân tích. Một bài thường kết hợp nhiều phương pháp.
Văn thuyết minh có được bày tỏ cảm xúc không?
Có thể, nhưng rất tiết chế, thường ở phần kết bài. Phần lớn bài phải là thông tin khách quan; nếu cảm xúc lấn át, bài sẽ trượt sang biểu cảm.
Thuyết minh phim là gì?
Là hình thức đọc lời dịch tiếng Việt đè lên tiếng gốc của phim nước ngoài, thường do một hoặc vài người đọc. Nó khác lồng tiếng (thay hẳn giọng nhân vật) và phụ đề (hiện chữ trên màn hình).
Thuyết minh và văn bản thông tin có phải là một?
Gần như vậy. Sách mới dùng tên văn bản thông tin cho nhóm rộng hơn (gồm cả bản tin, văn bản hướng dẫn, thông tin về sự kiện), còn văn bản thuyết minh là một kiểu quen thuộc nằm trong nhóm đó.