Viết văn bản thuyết minh có lồng ghép các yếu tố miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận là kiểu bài Viết lớp 11 đòi hỏi hai việc cùng lúc: đưa thông tin chính xác về một đối tượng và làm cho thông tin ấy sống động nhờ những yếu tố đi kèm. Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo dạy kiểu bài này trong Bài 1 (Thông điệp từ thiên nhiên) và cho viết lại ở Bài 9 (Những chân trời kí ức) với đối tượng là một tác phẩm, một nhân vật hay sự kiện văn hóa; Ngữ văn 11 Cánh diều gọi là bài thuyết minh tổng hợp, trong Bài 4, bài học về văn bản thông tin. Dưới đây là những yêu cầu cần nắm, một dàn ý dùng chung và 10 bài mẫu về sông Hương, trà sen, đom đóm, sếu đầu đỏ, rừng ngập mặn, đàn bầu, nón lá, giấy dó, cà phê phin và nghề làm muối. Mỗi dữ kiện thật trong bài đều đã được so với hai nguồn trở lên; nhân vật, trường lớp, buổi hòa nhạc trong một số mẫu là giả định.

Yêu cầu của kiểu bài thuyết minh có lồng ghép các yếu tố
Thuyết minh vẫn là phương thức chính. Miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận chỉ được mời vào khi chúng giúp người đọc hiểu đối tượng rõ hơn hoặc nhớ lâu hơn. Một bài viết mà phần kể chuyện lấn hết phần thông tin thì đã thành bài văn tự sự, không còn là thuyết minh.
| Tiêu chí | Bài viết đạt khi |
|---|---|
| Đối tượng | Nêu rõ ngay từ nhan đề hoặc đoạn mở: một sự vật, một loài, một nơi chốn, một quy trình làm ra sản phẩm. |
| Thông tin | Đúng, cụ thể, có thể kiểm chứng: cấu tạo, đặc điểm, các bước, số liệu có nguồn. Điều chưa chắc thì nói định tính. |
| Trình tự | Chọn một trật tự và giữ nó: thời gian (các công đoạn), không gian (từ nguồn ra biển), từ khái quát đến cụ thể, từ hiện tượng đến nguyên nhân. |
| Yếu tố lồng ghép | Có ít nhất một yếu tố được dùng có chủ ý: miêu tả để hình dung, tự sự để dẫn dắt, biểu cảm để tạo sự gần gũi, nghị luận để đánh giá hoặc đề xuất. |
| Phương tiện hỗ trợ | Có thể dùng đề mục, sa-pô, ảnh, sơ đồ, bảng; nếu viết bài thi thì mô tả bằng lời vị trí đặt hình. |
| Kết thúc | Chốt lại đối tượng ấy có ích, có đẹp, có đáng quý ở chỗ nào, hoặc nói điều người đọc nên làm, nên biết khi gặp nó. |
Hai bộ sách nhấn vào những điểm hơi khác nhau:
| Bộ sách | Vị trí | Điểm nhấn |
|---|---|---|
| Chân trời sáng tạo | Tập một, Bài 1 Thông điệp từ thiên nhiên; nhắc lại ở tập hai, Bài 9 Những chân trời kí ức | Bài 1: chọn một quy trình (cách làm ra một sản phẩm, cách tiến hành một việc) hoặc một đối tượng mình quan tâm để thuyết minh; bài đọc tham khảo trình bày cách làm chiếc nón lá, có hình ảnh minh họa và bảng kiểm. Bài 9: thuyết minh về một đối tượng theo lựa chọn (tác phẩm văn học, phim, bài hát, bức tranh, nhân vật hay sự kiện văn hóa), ngữ liệu là bài giới thiệu một bộ phim. |
| Cánh diều | Tập một, Bài 4 Văn bản thông tin | Gọi là bài thuyết minh tổng hợp; các văn bản đọc trong bài học đều thuộc loại này. Sách lưu ý cách triển khai thông tin và cách phối hợp các yếu tố cùng kênh chữ, kênh hình. Bài tập thực hành của sách xoay quanh những phẩm chất nổi bật của người Việt. Phần Nói và nghe đi kèm là tiết nghe bài thuyết minh tổng hợp. |
Dàn ý văn bản thuyết minh có lồng ghép các yếu tố
1. Mở bài
– Nhan đề gợi được đối tượng (có thể thêm một dòng sa-pô nếu viết theo kiểu bài báo).
– Giới thiệu đối tượng và lí do nó đáng được tìm hiểu; có thể mở bằng một cảnh, một câu nói, một con số, một tình huống.
2. Thân bài
– Thông tin khái quát: đối tượng là gì, ở đâu, có từ bao giờ, thuộc loại nào.
– Đặc điểm cụ thể hoặc các bước của quy trình, chia thành từng ý (nên có đề mục nhỏ).
– Ở một hai chỗ đắt giá nhất, lồng yếu tố khác:
+ miêu tả một chi tiết, một thao tác cho người đọc thấy tận mắt;
+ kể một sự việc ngắn (một buổi đi thực tế, một người làm nghề);
+ bày tỏ cảm xúc gắn với chi tiết cụ thể;
+ nêu nhận xét, đánh giá, tranh luận với một cách hiểu sai hoặc đề xuất giải pháp.
– Phương tiện hỗ trợ: ảnh, sơ đồ, bảng (ghi chú vị trí).
3. Kết bài
– Chốt lại chỗ đứng của đối tượng trong đời sống con người.
– Lời khuyên, lời mời hoặc điều cần làm để giữ gìn, sử dụng đối tượng cho đúng.
Mẹo nhỏ khi lập dàn ý: viết ra giấy hai cột. Cột trái là thông tin (phải có nguồn), cột phải là yếu tố sẽ lồng vào ở đúng dòng thông tin ấy. Nếu cột phải dài hơn cột trái, bài đang trượt sang kể chuyện.
Thuyết minh về dòng sông, loài vật và vùng đất ngập nước
Năm bài đầu hợp với chủ đề thiên nhiên của Bài 1 Chân trời sáng tạo: đối tượng là một dòng sông, một loài hoa gắn với nghề, một hiện tượng sinh học, một loài chim quý và một khu rừng.
Mẫu 1: Sông Hương, đi từ nguồn ra biển
Nhan đề: Đọc sông Hương trên tấm bản đồ, rồi đứng trên cầu Trường Tiền
Bài viết cho số chuyên đề về thiên nhiên của câu lạc bộ Văn lớp 11 (giả định), đi kèm một sơ đồ tự vẽ lưu vực sông.
Trên bản đồ Việt Nam, sông Hương không có gì để khoe. Đặt cạnh sông Hồng hay sông Tiền, nó ngắn đến mức muốn thấy trọn dòng phải phóng to góc bản đồ miền Trung. Vậy mà hiếm con sông nào được viết, được hát, được vẽ nhiều như thế. Bài viết này đi theo dòng nước từ nguồn ra biển, để thử trả lời một câu hỏi nhỏ: một con sông ngắn đã làm gì để thành gương mặt của cả một vùng đất?
1. Hai dòng nước sinh ra trên Trường Sơn
Sông Hương có hai nguồn chính và cả hai đều bắt đầu từ dãy Trường Sơn. Nhánh Tả Trạch xuống từ sườn đông Trường Sơn, phải vượt chừng năm mươi lăm thác lớn. Nhánh Hữu Trạch ít thác lớn hơn, chỉ mười bốn thác, nhưng thác nào cũng hiểm, nhiều chỗ dốc đứng đến mức người đi rừng phải bò qua từng bậc đá. Ở chặng này, sông chưa biết thế nào là dịu dàng. Nước trắng xóa đổ qua ghềnh, gầm lên trong rừng già, cuốn theo lá mục và đá vụn. Ai chỉ quen sông Hương trên những tấm bưu ảnh chắc khó tin rằng dòng sông lặng lẽ kia có một tuổi trẻ ồn ào như vậy.
Hai nhánh gặp nhau ở ngã ba Tuần, phía trên thành phố. Từ chỗ hợp lưu ấy, dòng nước mới thật sự mang tên Hương. Vì sao lại là Hương, mỗi người Huế tôi gặp kể một kiểu, người nói do cây cỏ ven nguồn, người nói do một tích xưa. Bài viết không chọn cách giải thích nào; chỉ xin ghi lại rằng một con sông được người ta bận tâm đặt tên, giải nghĩa nhiều đến thế thường là con sông đã gắn bó với họ rất lâu.
2. Chậm lại khi gặp thành phố
Qua ngã ba Tuần, địa hình thấp dần, lòng sông mở rộng, độ dốc rất nhỏ nên dòng chảy chậm hẳn lại. Sông lượn qua những quả đồi có lăng tẩm các vua Nguyễn, qua những ngôi chùa cổ, rồi trôi dọc mặt trước kinh thành. Giữa dòng nổi lên những cồn bãi như cồn Dã Viên, cồn Hến, cây cối xanh rì, đất bồi trồng được rau màu. Buổi sáng sớm, mặt sông phẳng và mờ như một tấm kính phả hơi sương; những con thuyền nằm im bên bến, chỉ có tiếng mái chèo của người đi chợ sớm khua nước rất khẽ. Đứng trên bờ, tôi có cảm giác dòng sông không chảy, mà đang dừng lại để nghe tiếng phố thức dậy.
Trong tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường đọc sự chậm rãi ấy như nỗi lưu luyến của dòng sông với thành phố. Một nhà địa lí sẽ giải thích khác: sông chậm vì đồng bằng thấp, mặt nước không cao hơn mực biển bao nhiêu. Theo tôi, hai cách nhìn không loại trừ nhau. Độ dốc là nguyên nhân; còn cảm giác lưu luyến là cách con người đặt tình cảm của mình vào nguyên nhân ấy. Bài thuyết minh hay là bài giữ được cả hai: biết vì sao sông chậm, và hiểu vì sao người ta yêu sự chậm ấy.
3. Cây cầu sáu nhịp
Biểu tượng dễ nhận nhất trên sông là cầu Trường Tiền. Cầu dài hơn bốn trăm mét, gồm sáu nhịp dầm thép hình vành lược, khởi công năm 1899 và khánh thành cuối năm 1900, dưới thời vua Thành Thái. Chỉ mấy năm sau ngày khánh thành, cầu đã bị trận bão lụt năm Giáp Thìn 1904 làm gãy, rồi lại được sửa, được dựng lên. Bởi vậy, nhìn sáu vòng thép cong đều đặn soi xuống nước, người Huế không chỉ thấy một công trình giao thông mà thấy cả sức bền của thành phố trước nước lũ.
(Vị trí đặt ảnh: cầu Trường Tiền chụp từ bờ nam, kèm sơ đồ hai nhánh Tả Trạch, Hữu Trạch nhập lại ở ngã ba Tuần.)
4. Ra biển
Rời thành phố, sông Hương xuôi qua vùng đầm phá Tam Giang rồi ra biển ở cửa Thuận An. Mùa mưa bão, con sông hiền lành lại hóa dữ: nước từ thượng nguồn dồn về nhanh, tràn vào phố, ngập những con đường quen. Cũng chính những mùa nước ấy để lại phù sa cho các vườn cây ven sông. Sông Hương vì thế không phải một bức tranh treo tường; nó vừa nuôi, vừa thử thách người sống bên nó.
Tối hôm rời Huế, tôi đứng trên cầu Trường Tiền khi đèn vừa bật. Hàng đèn chạy theo sáu nhịp cầu hắt xuống mặt nước thành những vệt sáng run run. Dòng sông vẫn chảy chậm như buổi sáng, và tôi hiểu vì sao nó ngắn mà không hề nhỏ.
Ở bài này, miêu tả (ghềnh thác thượng nguồn, mặt sông buổi sớm) giúp người chưa đến Huế hình dung đường đi của dòng nước; đoạn đặt cách nhìn của nhà văn cạnh cách giải thích của nhà địa lí là yếu tố nghị luận, làm thông tin có chiều sâu mà không phải bịa thêm gì.
Mẫu 2: Sen Bách diệp và trà sen Tây Hồ
Nhan đề: Một nghìn bông sen cho một cân trà
Bài viết cho tập san lớp, chủ đề Thông điệp từ thiên nhiên; bà Huyên là nhân vật giả định.
Bốn giờ sáng, mặt Hồ Tây còn đen thẫm. Bà Huyên, một người ướp trà ở ven hồ, đã cùng mấy người làm thuê chèo thuyền nan vào đầm. Tôi ngồi ở mũi thuyền, cầm hộ chiếc đèn pin, và lần đầu hiểu rằng với người làm trà, sen phải hái trước khi mặt trời lên. Nắng chạm vào là hương bay mất.
Giống sen được chọn là sen Bách diệp của Hồ Tây. Đúng như tên gọi, bông sen này có rất nhiều lớp cánh, khi nở to gần bằng hai bàn tay úp lại, hương thơm đậm mà sạch. Thứ người làm trà cần nhất lại không phải cánh hoa mà là phần đầu nhị màu trắng ngà nằm giữa bông, gọi là gạo sen. Đó chính là túi hương của bông sen. Thuyền về đến bờ, cả nhóm ngồi quanh những chiếc mẹt, tách từng bông, nhặt lấy gạo sen, sàng sẩy cho sạch nhụy vàng và cánh vụn. Ngón tay bà Huyên đi rất nhanh, nhưng bà dặn đi dặn lại một điều: gạo sen tách xong phải cho vào trà ngay, để lâu là hỏng.
Trà nền thường là chè Thái Nguyên. Để có một cân trà sen theo lối ướp khô, người ta cần khoảng một cân gạo sen, nghĩa là phải tách hơn một nghìn bông. Cách ướp cổ truyền là xếp một lớp trà, một lớp gạo sen, đậy kín cho trà hút hương, sau đó sấy khô, bỏ gạo cũ, lại ướp lượt mới. Mỗi lượt phải đợi vài ngày, nên một mẻ trà ngon có khi kéo dài cả mấy tuần. Cách thứ hai đơn giản hơn nhưng cầu kì theo kiểu khác: chiều tối, người ta cho một nhúm trà vào lòng bông sen còn trên cây, buộc túm cánh lại, để trà qua đêm hút hương rồi sáng sớm mới lấy ra.
Đọc bài Trăng sáng trên đầm sen, tôi từng nghĩ đầm sen là một cảnh để ngắm: lá xòe dưới trăng, hương thoảng trong gió đêm. Buổi sáng ở Hồ Tây cho tôi thấy thêm một gương mặt khác. Với người ướp trà, đầm sen là một xưởng làm việc lúc trời chưa sáng, nơi vẻ đẹp phải được thu hoạch đúng giờ, bằng đôi tay khéo và sự kiên nhẫn. Những giọt sương lăn trên lá sen không đọng lại mà trôi tuột đi; còn hương sen thì người Hà Nội đã tìm được cách giữ lại trong từng cánh trà.
Trước khi về, bà Huyên rót cho tôi một chén trà ướp từ mùa trước. Nước xanh vàng, hương lên nhẹ chứ không gắt. Tôi đã định hỏi sao trà sen đắt thế, nhưng nhìn đống cánh sen chất cao bên mẹt, tôi thôi không hỏi nữa.
Yếu tố tự sự (theo chân người ướp trà từ lúc hái đến lúc pha) làm thành sợi dây dẫn người đọc qua các bước của quy trình; chi tiết so sánh với trang văn của Chu Tự Thanh nối bài viết với một văn bản đọc của Bài 1.
Mẫu 3: Vì sao ánh sáng đom đóm không làm nó bỏng?
Bài cho bản tin câu lạc bộ Sinh học, chuyên mục Hỏi một hiện tượng nhỏ; chú Đượm là nhân vật giả định.
– Tắt đèn đi con, sáng quá tụi nó không chịu ra đâu.
Chú Đượm nói vậy khi chiếc xuồng vừa rẽ vào con rạch nhỏ. Tôi tắt đèn pin. Mắt quen dần với bóng tối thì hàng bần ven rạch bắt đầu lấp lánh, hàng trăm đốm sáng xanh vàng nhấp nháy như có ai đang đánh tín hiệu. Đêm ấy tôi về với một câu hỏi: con vật bé như vậy lấy đâu ra ánh sáng, mà sao không bị nóng?
Đom đóm là côn trùng cánh cứng. Cơ quan phát sáng của nó nằm ở mấy đốt cuối bụng. Bên trong có một chất gọi là luciferin. Khi oxy được đưa tới qua hệ thống ống khí, luciferin bị oxy hóa nhờ một enzyme có tên luciferase, phản ứng cần thêm năng lượng từ ATP, và năng lượng giải phóng ra dưới dạng ánh sáng. Điều đặc biệt là gần như toàn bộ năng lượng ấy thành ánh sáng, rất ít hao thành nhiệt. Người ta gọi đó là ánh sáng lạnh. Một bóng đèn sợi đốt sáng bao nhiêu thì nóng bấy nhiêu; còn con đom đóm có thể sáng cả đêm mà bụng vẫn mát.
Đom đóm sáng không phải để làm đẹp đêm hè. Con trưởng thành nhấp nháy để tìm bạn tình, mỗi loài có kiểu nhịp riêng, giống một thứ mật mã. Ấu trùng cũng phát sáng, nhưng chủ yếu để báo cho kẻ săn mồi biết cơ thể nó có vị khó chịu. Đêm trên xuồng, có lúc tôi thấy cả một tán bần vụt sáng rồi vụt tối gần như cùng nhịp, như có người bật tắt một chiếc công tắc khổng lồ. Chú Đượm bảo đêm nào trời không trăng, không gió, tụi nó sáng đẹp nhất.
Chính vì giao tiếp bằng ánh sáng nên đom đóm rất sợ ánh sáng của con người. Các nhà khoa học xếp mất nơi sống, thuốc trừ sâu và ánh sáng nhân tạo vào nhóm mối đe dọa lớn nhất với loài này; ở Đông Á, ánh sáng nhân tạo còn bị coi là nguy cơ hàng đầu. Đèn đường, đèn biển hiệu làm tín hiệu của chúng chìm mất, con đực không tìm được con cái. Câu nói của chú Đượm hóa ra là một bài học sinh thái.
Câu lạc bộ đề nghị: lần cắm trại tới, cả lớp thử tắt hết đèn trong mười lăm phút và ngồi yên. Nếu không thấy một đốm sáng nào, đó cũng là một câu trả lời.
Đoạn mở bằng lời thoại và cảnh đêm trên xuồng là tự sự kết hợp miêu tả, kéo người đọc vào câu hỏi khoa học; phần cuối chuyển sang nghị luận, biến kiến thức về phát quang sinh học thành một đề nghị hành động.
Mẫu 4: Sếu đầu đỏ ở Tràm Chim, giữ bãi năng trước, đón sếu sau
Nhan đề: Muốn sếu về, hãy giữ lấy bãi năng
Sa-pô: Tràm Chim là khu Ramsar thứ 2.000 của thế giới, nơi từng có những mùa sếu đầu đỏ về kiếm ăn đông đúc. Vì sao sếu ngày càng vắng, và đưa sếu từ nơi khác về có đủ không? (Bài dự thi viết về đất ngập nước của học sinh lớp 11, giả định.)
Tấm ảnh treo ở góc phòng sinh học trường tôi chụp hai con sếu đứng giữa đồng cỏ ngập nước, cổ dài, đầu đỏ trụi lông như vừa bị nắng thiêu. Dưới ảnh không ghi năm. Hỏi ra mới biết, những cảnh như thế ở Tràm Chim giờ đã hiếm.
Tràm Chim là nơi nào?
Vườn quốc gia Tràm Chim nằm trong vùng Đồng Tháp Mười, thuộc tỉnh Đồng Tháp. Đây là vùng đất ngập nước theo mùa: mùa lũ, nước sông Mê Kông theo kênh rạch tràn vào đồng; mùa khô, nước rút, lộ ra những bãi cỏ, đầm lầy và rừng tràm. Năm 1986, sếu đầu đỏ được tái phát hiện ở đây, và vùng đất này được lập thành khu bảo tồn chủ yếu để giữ loài chim ấy. Năm 1998, Tràm Chim trở thành vườn quốc gia. Ngày 22 tháng 5 năm 2012, nơi đây được ghi vào danh sách Ramsar, tức những vùng đất ngập nước mà cả thế giới cam kết bảo vệ: khu Ramsar thứ tư của Việt Nam và thứ 2.000 của thế giới.
Vì sao sếu cần bãi năng?
Sếu đầu đỏ không ăn cá như cò. Thức ăn chính của nó nằm dưới đất: củ của loài cỏ năng kim mọc trên những bãi trũng. Khi nước rút, sếu dùng mỏ đào bùn tìm củ. Bãi năng kim vì thế là bàn ăn của sếu. Bàn ăn ấy chỉ tồn tại khi nước lên xuống theo đúng nhịp mùa.
Những năm qua, số sếu về Tràm Chim giảm rất mạnh, có năm chỉ vài con ghé lại vài ngày rồi bay đi. Nguyên nhân không đơn giản. Để phòng cháy rừng tràm trong mùa khô, mực nước trong vườn từng được giữ cao hơn trước; nước đứng lâu làm thay đổi thảm cỏ. Cây ngoại lai lấn vào bãi năng. Đồng ruộng quanh vườn cũng thay đổi. Sếu không mất chỗ đậu; nó mất chỗ ăn.
Đưa sếu về: tốn kém cho vài con chim?
Tháng 4 năm 2025, Đồng Tháp đón sáu con sếu đầu đỏ từ Thái Lan về Tràm Chim; đến năm 2026, thêm một đợt sáu con nữa, nâng tổng số lên mười hai. Có người cho rằng bỏ nhiều công sức cho mươi con chim là phí. Tôi nghĩ ý kiến ấy nhìn sai đối tượng. Chương trình không chỉ chi cho chuồng nuôi; song song với nó, vườn đã phục hồi hàng chục héc-ta năng kim và lúa ma, kiểm soát cây ngoại lai, cải tạo ao hồ. Những việc đó có lợi cho cả đàn cá, đàn chim nước và người dân sống nhờ đồng. Con sếu chỉ là cái cớ dễ thấy nhất để giữ một vùng đất.
Nhưng cũng phải nói thẳng: sếu nuôi trong chuồng chưa phải là sếu trở về. Nếu ngoài kia bãi năng vẫn teo đi, những con sếu thả ra sẽ không có gì để ăn, và chương trình sẽ thành một vườn thú tốn kém. Thứ tự đúng là giữ bãi năng trước, đón sếu sau.
Tấm ảnh trong phòng sinh học, tôi mong một ngày nào đó sẽ được thay bằng một tấm mới, có ghi rõ năm chụp.
Yếu tố nghị luận ở đây có phản đề rõ ràng (tốn kém cho vài con chim) và một kết luận về thứ tự ưu tiên; nhờ thông tin đứng trước, lời bàn không bị cảm tính.
Mẫu 5: Một ngày ở rừng ngập mặn Cần Giờ
Nhan đề: Rừng Sác, những điều nên biết trước khi xuống thuyền
Bài cho trang du lịch học đường, chuẩn bị chuyến đi thực tế của khối 11 (giả định); anh Thiềng là người lái thuyền giả định.
Mang mũ rộng vành, nước uống, một đôi giày bám đường và nếu được thì xem trước lịch nước lớn nước ròng. Rừng ngập mặn thay đổi gương mặt theo thủy triều: nước lên, thuyền len được vào các lạch nhỏ; nước xuống, cả một thế giới bùn và rễ cây hiện ra.
Cần Giờ là gì? Khu rừng ngập mặn Cần Giờ, người miền Nam quen gọi là Rừng Sác, nằm ở cửa ngõ đông nam Thành phố Hồ Chí Minh, nơi các sông Đồng Nai, Sài Gòn và Vàm Cỏ đổ ra biển. Ngày 21 tháng 1 năm 2000, UNESCO công nhận đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới, cũng là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam.
Một khu rừng được trồng lại. Điều nhiều người không biết: trong chiến tranh, chất độc hóa học đã hủy diệt gần như toàn bộ rừng nơi đây. Rừng hôm nay là kết quả của hàng chục năm nhiều thế hệ người trồng rừng gieo lại, chăm sóc, canh giữ. Khi biết điều ấy, nhìn những hàng cây xanh thẫm hai bên bờ, ta sẽ thấy chúng không giống một khu rừng tự nhiên bình thường, mà giống một bản cam kết được viết bằng cây.
Trên thuyền. Anh Thiềng tắt máy cho thuyền trôi chậm vào một lạch hẹp. Cây chiếm ưu thế ở đây là đước đôi. Rễ đước mọc từ thân, cong xuống bùn như những chiếc chân chống, giữ cho cây đứng vững khi thủy triều kéo qua kéo lại. Xen với đước có bần, mắm. Trên mặt bùn, những con còng giơ càng rồi lủi vào lỗ. Anh Thiềng bảo cả lớp nhìn lên tán cây: một con khỉ đuôi dài đang ngồi vắt vẻo, mắt dõi theo túi đồ của chúng tôi. Khỉ ở đây sống hoang dã thành đàn, rất nhanh tay.
Chặng cuối, thuyền ghé Đầm Dơi, nơi những con dơi treo mình thành chùm trên mấy cây đước. Đứng dưới mùi lá mục và tiếng nước rỉ trong bùn, tôi chợt thấm câu nói quen thuộc rằng rừng ngập mặn chính là lá phổi của thành phố: nó lọc, nó giữ, nó che chắn mà không ai trả tiền cho nó.
Lời nhắn khi về: giữ chặt túi đồ khi đi qua khu có khỉ, đừng cho chúng ăn, và mang theo toàn bộ rác của mình về bờ. Khu rừng này đã phải mọc lại một lần; đừng để nó phải mọc lại lần nữa.
Đây là thuyết minh dưới dạng cẩm nang: miêu tả chuyến thuyền (rễ đước, còng, khỉ) làm thông tin dễ nhớ, còn những lời dặn đầu và cuối bài cho thấy người viết luôn nghĩ đến người đọc sẽ dùng bài viết vào việc gì.
Thuyết minh về nhạc cụ, đồ vật và nghề truyền thống
Năm bài sau thử nhiều hình thức trình bày: tờ chương trình, phóng sự nhỏ, bài bàn chuyện giữ nghề, bài cho chuyên mục sống chậm và bài tìm hiểu có đề mục.
Mẫu 6: Đàn bầu, giới thiệu trong tờ chương trình hòa nhạc
Tờ chương trình buổi hòa nhạc dân tộc của nhà văn hóa thanh niên (giả định). Tiết mục số 3: độc tấu đàn bầu, nghệ sĩ Vân Anh (giả định).
Trước khi nghe, xin bạn hãy nhìn cây đàn
Trên sân khấu chỉ có một hộp gỗ dài, một sợi dây và một chiếc cần cong. Đó là đàn bầu, còn gọi là độc huyền cầm, nghĩa là đàn một dây. Ngày xưa thân đàn là một ống tre hoặc bương; nay phần lớn là hộp gỗ, mặt hơi cong. Ở đầu nhỏ của thân đàn cắm một chiếc cần gọi là vòi đàn, xuyên qua một bầu cộng hưởng. Bầu xưa làm bằng nửa quả bầu khô, cây đàn mang tên từ đó; nay bầu thường được tiện bằng gỗ. Dây đàn nối từ vòi tới đầu kia của thân. Người chơi cầm một que gảy nhỏ ở tay phải, tay trái nắm vòi đàn.
Một dây mà đủ mọi cao độ
Đàn bầu không có phím. Trong các cây đàn một dây trên thế giới, nó được đánh giá là độc đáo vì phát ra âm bồi, thứ âm thanh trong, ngân và hơi xa như vọng lại. Khi tay trái uốn vòi đàn, dây căng lên hoặc chùng xuống, cao độ thay đổi theo. Nhờ vậy tiếng đàn có thể trượt từ nốt này sang nốt kia, rung, luyến, láy như giọng người hát. Nhiều nghệ sĩ dùng đàn bầu mô phỏng được cả các thanh điệu của tiếng Việt.
Xưa kia đàn bầu theo chân người hát xẩm, đệm cho những lời ca kể chuyện đời. Khi có thiết bị tăng âm, cây đàn lên được sân khấu lớn, hòa tấu cùng dàn nhạc. Tối nay bạn sẽ nghe nó một mình.
Bản nhạc tối nay
Nghệ sĩ Vân Anh sẽ mở đầu bằng một làn điệu dân ca quen thuộc, để bạn nghe rõ tiếng đàn luyến theo lời ca như thế nào, rồi chuyển sang một bản nhạc viết riêng cho đàn bầu. Ở đoạn chậm, hãy để ý những nốt ngân dài: tay trái của nghệ sĩ khẽ đẩy vòi đàn, âm thanh trượt lên một chút rồi trở về, nghe như tiếng thở dài. Ở đoạn nhanh, que gảy đi liên tiếp mà tiếng đàn vẫn tròn, không vỡ. Một sợi dây làm được chừng ấy việc là nhờ đôi tay đã luyện tập rất nhiều năm.
Một lời đề nghị nhỏ
Tiếng đàn bầu mộc rất khẽ. Xin hãy tắt chuông điện thoại và đừng mở gói bánh trong lúc nghệ sĩ chơi. Có những nốt chỉ đến được tai người nghe khi cả khán phòng cùng nín thở.
Yếu tố biểu cảm được giữ ở mức vừa phải, đúng với một tờ chương trình: vài hình ảnh gợi âm thanh và một lời đề nghị đầy thiện cảm, còn thông tin về cấu tạo và âm bồi vẫn là phần chính.
Mẫu 7: Nón lá làng Chuông qua đôi tay người khâu nón
Nhan đề: Mười sáu vòng tre và một phiên chợ chỉ bán nón
Phóng sự nhỏ cho tập san trường; bà Thoảng là nhân vật giả định.
Phiên chợ nón làng Chuông họp từ lúc trời còn nhá nhem. Làng nằm bên sông Đáy, phía nam Hà Nội, và chợ của làng có một nét lạ: mỗi tháng chỉ họp sáu phiên vào các ngày mồng 4, 10, 14, 20, 24 và 30 âm lịch, bày bán đúng một mặt hàng là nón. Những chồng nón trắng xếp cao như những ngọn tháp nhỏ, người mua đi giữa các chồng nón như đi giữa một cánh đồng lá.
Tan chợ, tôi theo bà Thoảng về nhà. Bà làm nón từ hồi con gái. Sân nhà bà phơi đầy lá nón, mới đầu xanh, phơi mấy hôm thì ngả màu trắng bạc. Bà bảo trước khi phơi phải vò lá với cát cho mềm, nắng lên thì đem ra, sương xuống thì lá dịu lại. Muốn lá phẳng mà không giòn, không rách, người làng lót lá dưới một nắm giẻ rồi miết nhanh bằng một lưỡi cày. Bà làm thử cho tôi xem. Lưỡi cày lướt qua một cái, chiếc lá nhăn nheo bỗng thẳng thớm như tờ giấy mới.
Khung nón của làng Chuông có mười sáu vòng tre, xếp tầng từ nhỏ ở chóp đến lớn ở vành. Người ta bảo chính mười sáu vòng ấy làm nón vừa chắc vừa mềm. Lá được xếp dàn đều lên khung, rồi đến một lớp mo tre mỏng, rồi lại một lớp lá nữa. Sau đó mới đến việc khó nhất: khâu. Bà Thoảng khâu từ vòng trong ra vòng ngoài, mũi kim đi thẳng hàng, chỉ đều tăm tắp. Kim xuyên qua lá nghe sột một tiếng khô, bà kéo sợi chỉ căng vừa tay, không quá chặt để lá khỏi rách.
– Khâu nón không vội được, cháu ạ. Vội là lá toạc, cả buổi làm lại từ đầu – bà nói mà mắt không rời đường kim.
Nón khâu xong được hơ bằng hơi diêm sinh cho trắng và khỏi mốc, rồi mới đem ra phơi lần cuối. Từ một tàu lá đến chiếc nón bày ở chợ phiên là chuỗi việc nhỏ nối nhau, việc nào cũng cần một đôi tay biết chờ.
Bài đọc tham khảo trong sách Chân trời sáng tạo giới thiệu từng công đoạn làm nón lá, có nhắc tới nón bài thơ của Huế. Nón làng Chuông là một họ hàng phía Bắc của chiếc nón ấy: cũng lá, cũng tre, nhưng mang nhịp riêng của một làng ven sông Đáy. Tôi về nhà với một chiếc nón bà Thoảng tặng. Mỗi lần đội, tôi lại nhớ cái tiếng sột khô của mũi kim xuyên qua lá.
Câu chuyện về bà Thoảng là phần tự sự giúp các công đoạn hiện ra theo đúng trình tự; lời thoại ngắn của người làm nghề được viết bằng gạch đầu dòng, đặt vào đúng công đoạn khó nhất để nhấn mạnh độ tỉ mỉ.
Mẫu 8: Giấy dó, có nên giữ một nghề chậm?
Nhan đề: Giấy dó không cần được thương hại, nó cần được dùng
Bài viết cho chuyên mục Giữ nghề của tập san văn học trường (giả định).
Soi một tờ giấy dó lên bóng đèn, bạn sẽ thấy nó không trắng phẳng như giấy in. Bên trong là những xơ sợi đan vào nhau theo đủ mọi chiều, giống một tấm mạng nhện nhiều lớp. Chính cái mạng sợi ấy làm nên mọi đặc tính của giấy dó, và cũng giải thích vì sao để làm ra nó, người thợ phải mất nhiều ngày như thế.
Từ vỏ cây đến tờ giấy
Nguyên liệu là vỏ cây dó. Vỏ được ngâm và nấu với nước vôi cho đến khi mềm nhừ, sau đó bóc bỏ lớp vỏ đen bên ngoài. Phần còn lại đem giã bằng cối và chày, như giã gạo, cho đến khi thành bột nhuyễn. Bột dó được đãi thật kĩ để rửa sạch vôi rồi hòa vào một bể nước, gọi là bể xeo. Người thợ cầm một chiếc liềm xeo, tức khung có mành tre đan mịn, nhúng xuống bể rồi chao đi chao lại. Lớp bột mỏng đọng lại trên mành chính là tờ giấy. Những tờ giấy ướt được xếp chồng, ép cho ráo nước, rồi đem phơi hoặc sấy, cuối cùng bóc ra từng tờ.
Vì xơ sợi kết thành mạng nên giấy dó xốp, nhẹ, hút mực tốt. Quá trình làm giấy không dùng axit, chỉ dùng vôi và đã đãi gần hết, nên giấy rất bền. Nhiều sắc phong ở đình đền, nhiều sách Hán Nôm in trên giấy dó vẫn còn đến ngày hôm nay, sau hàng trăm năm trong khí hậu nóng ẩm.
Hà Nội xưa từng có cả một vùng làng giấy ven Hồ Tây. Làng Yên Thái, người ta quen gọi là kẻ Bưởi, nổi tiếng với giấy dó tốt; tiếng chày giã dó từng là thứ âm thanh quen thuộc của cả vùng ven hồ. Làng Nghĩa Đô thì chuyên làm giấy sắc. Phần lớn những tiếng chày ấy giờ đã im.
Một nghề chậm có đáng giữ?
Có ý kiến cho rằng giấy dó đã hết thời: giấy công nghiệp rẻ hơn, trắng hơn, đều hơn, in máy được, thì giữ một nghề vừa chậm vừa vất vả để làm gì. Tôi đồng ý một nửa. Để in sách giáo khoa hay in đề kiểm tra, giấy dó quả không thể cạnh tranh. Nhưng câu hỏi đặt sai chỗ. Giấy dó không cần thay giấy in; nó cần một chỗ đứng mà giấy in không làm được.
Chỗ đứng ấy có thật. Muốn phục chế một sắc phong cũ, người ta cần đúng thứ giấy cùng loại. Người viết thư pháp, người vẽ tranh thủy mặc, người làm tranh in khắc gỗ đều cần một mặt giấy biết hút mực mà không nhòe. Một tấm thiệp, một bìa sổ, một tờ giấy gói quà làm từ giấy dó mang theo câu chuyện của nó, thứ mà giấy công nghiệp không có. Nghề chỉ sống được khi có người mua sản phẩm vì nó tốt, chứ không vì thương.
Vì vậy, tôi không đề nghị những lời kêu gọi chung chung. Tôi đề nghị cụ thể hơn: câu lạc bộ thư pháp của trường đặt mua giấy dó từ một làng nghề cho buổi viết chữ đầu xuân; lớp mĩ thuật thử một tiết in tranh trên giấy dó; mỗi lớp giữ một tờ giấy dó trong góc trưng bày, kèm sơ đồ các bước làm giấy. Nếu năm trăm học sinh từng một lần cầm tờ giấy ấy lên soi đèn, nghề sẽ có thêm năm trăm người hiểu nó.
Phần quy trình là thuyết minh thuần túy, viết theo đúng thứ tự công đoạn; phần sau lồng nghị luận có phản đề và đề xuất cụ thể, giúp bài vượt khỏi kiểu kết hô hào giữ gìn bản sắc.
Mẫu 9: Cà phê phin, chiếc đồng hồ nhỏ trên bàn
Bài cho chuyên mục Sống chậm trên bản tin của đoàn trường (giả định).
Tiếng đầu tiên của con ngõ nhà tôi mỗi sáng là tiếng nắp nhôm lách cách ở quán cà phê cóc đầu ngõ. Bà chủ quán xếp một hàng phin trên khay, rót nước sôi, đậy nắp, rồi để mặc chúng nhỏ giọt. Tôi đã nhìn cảnh ấy nhiều năm trước khi tò mò muốn biết một chiếc phin hoạt động ra sao.
Phin cà phê thường làm bằng nhôm hoặc inox, gồm bốn phần. Thân phin là chiếc cốc nhỏ có đáy đục nhiều lỗ. Nắp nén là tấm kim loại mỏng cũng đục lỗ, đặt lên trên lớp bột để giữ bột không nổi lên. Đĩa phin có vành rộng, đỡ thân phin trên miệng ly. Nắp đậy để giữ nhiệt và che bụi.
Cách pha nghe đơn giản mà mỗi bước đều có lí do. Trước hết tráng phin bằng nước sôi cho phin nóng sẵn. Cho bột cà phê vào chừng nửa thân phin, đặt nắp nén lên, ấn vừa tay. Nén chặt quá, nước không chảy; nén lỏng quá, nước tuôn ào xuống mà chưa kịp lấy vị. Rót một ít nước sôi cho bột ngấm và nở, đợi một lát rồi mới rót gần đầy, đậy nắp. Nước thấm qua lớp bột, qua đáy phin, rơi xuống ly thành từng giọt. Nếu là cà phê sữa, lớp sữa đặc đã nằm sẵn dưới đáy ly, giọt cà phê đen rơi xuống loang dần thành màu nâu.
Cây cà phê theo người Pháp vào Việt Nam từ thế kỉ XIX, và thói quen uống cà phê phin cũng hình thành từ thời ấy. Nhưng cái làm chiếc phin thành của riêng người Việt có lẽ là thứ thời gian nó bắt người ta chờ. Không thể bấm nút cho nhanh hơn. Trong mấy phút ấy, người đàn ông bàn bên đọc hết một trang báo, hai bà cụ kể xong chuyện chợ, còn tôi nhìn những giọt nâu rơi đều như kim giây một chiếc đồng hồ nhỏ.
Một ly phin ngon không cần bột đắt tiền. Nó cần nước thật sôi, tay nén vừa phải và người pha chịu đứng yên vài phút. Nếu giọt đầu tiên rơi xuống quá sớm, lần sau hãy nén chặt hơn một chút; nếu đợi mãi không thấy giọt nào, hãy nới tay. Pha vài lần, bạn sẽ tự tìm được nhịp của chiếc phin nhà mình, cũng như bà chủ quán đầu ngõ đã tìm được nhịp của hàng phin trên khay.
Sáng chủ nhật này, thử tự tay pha một phin. Đừng nhìn điện thoại trong lúc chờ.
Biểu cảm trong bài gắn với chi tiết có thật của buổi sáng phố (tiếng nắp nhôm, giọt cà phê như kim giây), nên phần cảm xúc không tách rời phần hướng dẫn cách pha.
Mẫu 10: Nghề làm muối Sa Huỳnh và một ngày cào muối
Nhan đề: Hạt muối Sa Huỳnh, từ nước biển đến đầu lưỡi
Bài tìm hiểu văn hóa địa phương có đề mục; ông Rạng là diêm dân giả định, dữ kiện về đồng muối lấy từ báo chí.
1. Một đồng muối được công nhận là di sản
Ở dải ven biển phía nam Quảng Ngãi, đồng muối Sa Huỳnh trải ra khoảng hơn một trăm héc-ta, chia thành vô số ô vuông như bàn cờ. Hơn năm trăm hộ diêm dân sống nhờ đồng muối này, mỗi năm làm ra khoảng sáu, bảy nghìn tấn muối. Nghề làm muối ở đây có lịch sử hàng trăm năm, được truyền qua nhiều thế hệ, và cuối năm 2024 đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Điều đáng chú ý là người Sa Huỳnh vẫn làm muối theo lối thủ công truyền thống: dùng nắng và gió làm nước biển bay hơi, cho muối kết tinh ngay trên nền đất.
2. Mùa muối là mùa nắng
Muối cần nắng gắt. Vì vậy mùa muối ở Sa Huỳnh thường bắt đầu từ tháng Giêng âm lịch và kéo dài tới khoảng tháng Bảy, khi mùa mưa chưa tới. Trời càng nắng, nước bốc hơi càng nhanh, hạt muối càng chóng thành hình. Một trận mưa bất chợt có thể xóa sạch công của nhiều ngày.
3. Một ngày theo chân ông Rạng
Bốn giờ sáng, ông Rạng đã ra đồng. Ông có hơn ba mươi năm làm muối, da cháy sạm đến mức tôi không đoán nổi tuổi. Việc đầu tiên trong ngày là kiểm tra nền ruộng. Ông giải thích: ô ruộng muối phải được nện cho thật chặt, phơi cho thật rắn, để nước biển không ngấm xuống đất. Nền càng chặt, càng nhẵn, muối càng sạch.
Nước biển được dẫn vào những ô phơi đầu tiên. Dưới nắng và gió, nước bay hơi dần, mỗi ngày mặn hơn. Khi nước đã đủ độ mặn, người ta tháo sang những ô kết tinh đã lèn nhẵn từ trước. Đến trưa, mặt nước trong ô bắt đầu lấm tấm những hạt trắng như ai rắc gạo. Ông Rạng gọi đó là lúc muối rớt hạt.
– Giờ này mà chậm tay là muối dính đáy, lẫn đất, bán không ai mua – ông nói, rồi kéo cái cào gỗ qua mặt ô.
Những hạt muối được cào dồn lại thành từng đống nhọn như mái chóp, nước còn rỉ ra lóng lánh. Rồi ông và vợ gánh từng gánh lên bờ. Nắng giữa trưa hắt từ dưới mặt ruộng lên, nóng rát cả cằm. Tôi chỉ gánh được hai chuyến đã phải vào bóng mát, còn ông Rạng vẫn đi đều, vai lệch về một bên như đã quen với sức nặng ấy từ lâu lắm.
(Vị trí đặt ảnh: đồng muối nhìn từ trên cao với những ô vuông; ảnh cận cảnh đống muối hình chóp.)
4. Những điều người mua muối ít biết
Ông Rạng bảo muối kết tinh trên nền đất hạt to, hơi đục, không trắng mịn như muối tinh đóng gói. Có khách quen nhìn màu trắng nên chê, nhưng theo ông, hạt muối phơi nắng như thế mới giữ được cái vị đậm của nước biển.
Một ô ruộng muối cũng không thể làm quanh năm. Hết mùa nắng, ruộng nghỉ, diêm dân chuyển sang việc khác chờ mùa, rồi đầu năm sau lại nện nền, sửa bờ, dẫn nước như một vòng tròn khép kín. Vì vậy mỗi mùa muối được ăn hay mất đều quyết định cả một năm của gia đình.
5. Giữ nghề muối bằng cách nào?
Nghề muối khó giữ người trẻ. Thu nhập phụ thuộc vào thời tiết và giá cả, công việc lại nặng nhọc giữa nắng. Danh hiệu di sản tự nó không làm cho bát cơm nhà diêm dân đầy hơn. Vì thế hướng đi Sa Huỳnh đang thử nghiệm đáng được chú ý: bảo tồn đồng muối truyền thống gắn với du lịch cộng đồng, cho du khách xuống ruộng cào muối, nghe diêm dân kể chuyện nghề, mua muối tận tay người làm. Theo tôi, cách này chỉ bền nếu người làm muối là người hưởng lợi chính, chứ không phải chỉ đứng làm cảnh cho khách chụp ảnh. Một đồng muối đẹp trong ảnh mà trống người làm thì không còn là di sản sống.
Cuối buổi, ông Rạng nhón một hạt muối đặt lên đầu lưỡi tôi. Mặn chát, rồi hậu ngọt. Ông cười bảo muối Sa Huỳnh là vậy. Tôi nghĩ vị hậu ngọt ấy có một phần là mồ hôi của ông.
Bài kết hợp ba lớp: thông tin có số liệu và nguồn (đề mục 1, 2), tự sự một ngày làm muối để trình bày quy trình (đề mục 3, 4) và nghị luận về cách giữ nghề (đề mục 5); đề mục giúp người đọc không lạc giữa các lớp ấy.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi | Sửa thế nào |
|---|---|
| Kể chuyện quá dài, đến giữa bài người đọc vẫn chưa biết đối tượng có đặc điểm gì. | Mỗi đoạn tự sự phải mang theo ít nhất một thông tin (một bước, một đặc điểm). Đoạn nào chỉ có cảm xúc thì rút gọn. |
| Số liệu, năm tháng nhớ mang máng hoặc lấy từ một trang không rõ nguồn. | Tra lại ở hai nơi đáng tin, độc lập với nhau; chưa chắc thì đổi sang cách nói định tính (rất nhiều, giảm mạnh, hàng trăm năm). |
| Biểu cảm chung chung, câu nào cũng tự hào, yêu mến. | Gắn cảm xúc với một chi tiết cụ thể: tiếng kim xuyên qua lá, giọt cà phê rơi, hạt muối trên đầu lưỡi. |
| Nghị luận chỉ là một câu kêu gọi giữ gìn ở cuối bài. | Nêu một ý kiến trái chiều rồi trả lời nó; đề xuất việc làm cụ thể, khả thi. |
| Thông tin nhảy cóc, công đoạn sau viết trước công đoạn trước. | Chọn một trình tự từ lúc lập dàn ý (thời gian, không gian, nguyên nhân – kết quả) và giữ đến hết bài. |
| Viết địa danh theo đơn vị hành chính cũ như thể vẫn còn. | Từ giữa năm 2025 nhiều tỉnh đã sáp nhập, cấp huyện không còn; chỉ ghi tên hiện hành khi chắc chắn, còn lại dùng cách gọi vùng (vùng Đồng Tháp Mười, ven sông Đáy). |
| Bỏ quên phương tiện hỗ trợ. | Trong bài thi có thể ghi một dòng mô tả vị trí đặt ảnh, sơ đồ; bài làm ở nhà thì chèn hình thật, có chú thích. |
Gợi ý bài nói: Nghe bài thuyết minh tổng hợp
Trong sách Cánh diều, bài Viết này đi liền với một tiết Nói và nghe: học sinh nghe bạn trình bày một bài thuyết minh tổng hợp, nắm được điều bạn muốn nói cùng thái độ của bạn, rồi góp ý và hỏi lại. Khi đóng vai người trình bày:
- Mở bằng một hình ảnh hoặc âm thanh (cho nghe mười giây tiếng đàn bầu, chiếu ảnh đồng muối) rồi mới giới thiệu đối tượng.
- Nói rõ từng phần đang trình bày (cấu tạo, quy trình, giá trị) để người nghe ghi chép kịp.
- Chuyển đoạn kể chuyện thành lời kể ngắn, giữ nhịp chậm; số liệu nhắc kèm nguồn.
- Kết bằng một câu hỏi mở để người nghe phản hồi.
Khi đóng vai người nghe, hãy ghi lại ba thứ: thông tin chính, chỗ người nói lồng yếu tố khác, và một điểm cần hỏi thêm (một con số chưa có nguồn, một bước chưa rõ).
Một cách mở lời tham khảo: Các bạn có biết một cân trà sen cần bao nhiêu bông sen không? Hơn một nghìn bông. Hôm nay mình sẽ kể cho các bạn nghe một buổi sáng tách gạo sen ở Hồ Tây, và qua đó giới thiệu một nghề ướp trà của người Hà Nội.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Nếu bạn học Bài 1 Chân trời sáng tạo với chủ đề thiên nhiên, hãy đọc kĩ mẫu 1 (sông Hương, gắn với Ai đã đặt tên cho dòng sông?), mẫu 2 (trà sen, gắn với Trăng sáng trên đầm sen), rồi mẫu 3 và mẫu 4 để thấy cách lồng nghị luận vào một chủ đề khoa học. Đề yêu cầu thuyết minh một quy trình thì xem mẫu 7, mẫu 8, mẫu 10. Học sinh Cánh diều muốn luyện bài thuyết minh tổng hợp có đề mục, sa-pô, phương tiện hỗ trợ như một bài báo có thể bắt đầu từ mẫu 4 và mẫu 10. Mẫu 6 và mẫu 9 ngắn, hợp để luyện viết trong một tiết.
Xem thêm:
- Ai đã đặt tên cho dòng sông: sơ đồ tư duy, bố cục, nội dung chính và Soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông
- Soạn bài Cõi lá, Soạn bài Chiều xuân, Soạn bài Trăng sáng trên đầm sen (Chân trời sáng tạo 11, Bài 1)
- Soạn bài Phải coi luật pháp như khí trời để thở và Soạn bài Tạ Quang Bửu – người thầy thông thái (Cánh diều 11, Bài 4)
- Soạn bài Nhớ con sông quê hương và Ngôi nhà tranh của cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự (Chân trời sáng tạo 11, Bài 9, nơi kiểu bài này được viết lại với đối tượng là tác phẩm, sự kiện văn hóa)
- Thuyết minh giải thích một hiện tượng tự nhiên (lớp 8) và Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử (lớp 9)
- Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội (lớp 11)
- Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội (lớp 11)