Tác phẩm Vũ Trọng Phụng ra đời chỉ trong khoảng chín năm cầm bút, nhưng số lượng và sức nặng của chúng khiến người đọc kinh ngạc: tiểu thuyết trào phúng Số đỏ, Giông tố, những thiên phóng sự như Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô. Nhiều nhân vật và câu nói của ông đã đi vào lời ăn tiếng nói hằng ngày. Hãy cùng Văn VN điểm qua các tác phẩm tiêu biểu và những đoạn trích đang học trong chương trình Ngữ văn 12.
Đôi nét về nhà văn Vũ Trọng Phụng
Vũ Trọng Phụng là nhà văn, nhà báo nổi tiếng đầu thế kỷ XX, cây bút hiện thực trào phúng bậc nhất của văn học Việt Nam trước năm 1945. Nhờ những thiên phóng sự sắc sảo, ông được mệnh danh là “ông vua phóng sự của đất Bắc”.

- Họ tên: Vũ Trọng Phụng.
- Bút danh: Thiên Hư (ký dưới phóng sự đầu tay Cạm bẫy người), Ngọa Triều (khi phụ trách một mục báo trên Hà Nội báo).
- Năm sinh – năm mất: 20/10/1912 – 13/10/1939.
- Quê quán: làng Hảo, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên; lớn lên, sống và mất tại Hà Nội.
- Thể loại: tiểu thuyết, phóng sự, truyện ngắn, kịch, dịch thuật và nhiều bài báo chính luận.
- Danh hiệu: “ông vua phóng sự của đất Bắc”.
Cha ông làm thợ điện, mất khi ông mới bảy tháng tuổi; mẹ ở vậy tần tảo nuôi con ăn học. Học hết tiểu học ở trường Hàng Vôi, khoảng 16 tuổi ông phải thôi học đi làm, từng làm ở nhà hàng Gôđa, nhà in IDEO rồi chuyển hẳn sang làm báo, viết văn chuyên nghiệp. Năm 1930, truyện ngắn đầu tay Chống nạng lên đường đăng trên Ngọ báo; năm 1931 vở kịch Không một tiếng vang bắt đầu gây chú ý.
Cả đời Vũ Trọng Phụng sống trong nghèo khó, phải nuôi bà nội và mẹ già. Ông mắc bệnh lao phổi và mất ngày 13/10/1939, khi chưa tròn 27 tuổi, để lại người con gái chưa đầy một tuổi. Vũ Bằng kể lại những ngày cuối đời, ông từng nói: “Nếu mỗi ngày tôi có một miếng bít tết để ăn thì đâu có phải chết non như thế này”.
Lối viết “tả chân” khiến ông từng bị chính quyền thực dân gọi ra tòa vì tội “tổn thương phong hóa”, và từ năm 1936 đến khi ông mất đã nổ ra cuộc tranh luận “dâm hay không dâm” quanh tác phẩm của ông. Sau này, sách của ông từng bị cấm lưu hành ở miền Bắc từ năm 1954 và trên cả nước sau năm 1975, đến cuối những năm 1980 mới được in lại.
Xem tiểu sử tác giả Vũ Trọng Phụng – cuộc đời, sự nghiệp, phong cách và nhận định.
Vũ Trọng Phụng có những tác phẩm nào?
Trong khoảng thời gian 1930–1939, Vũ Trọng Phụng để lại hơn 30 truyện ngắn, 9 tiểu thuyết, 9 tập phóng sự, 7 vở kịch, một bản dịch kịch từ tiếng Pháp cùng hàng trăm bài báo. Các tác phẩm chính gồm:
Tiểu thuyết
- Dứt tình (1934).
- Giông tố (1936) – khi đăng báo có tên Thị Mịch.
- Vỡ đê (1936).
- Số đỏ (1936).
- Làm đĩ (1936).
- Lấy nhau vì tình (1937).
- Quý phái (1937, đăng dang dở).
- Trúng số độc đắc (1938).
- Người tù được tha (di cảo).
Phóng sự
- Cạm bẫy người (1933).
- Kỹ nghệ lấy Tây (1934).
- Hải Phòng 1934 (1934), Vẽ nhọ bôi hề (1934).
- Đời cạo giấy (1935).
- Dân biểu và dân biểu (1936).
- Cơm thầy cơm cô (1936).
- Lục xì (1937).
- Một huyện ăn Tết (1938).
Kịch
- Không một tiếng vang (1931), Tài tử (1934), Chín đầu một lúc (1934), Cái chết bí mật của người trúng số độc đắc (1937), Hội nghị đùa nhả (1938), Phân bua (1939), Tết cụ Cố (di cảo).
Dịch thuật
- Giết mẹ (1936), dịch vở Lucrèce Borgia của Victor Hugo.

Truyện ngắn của ông cũng khá nhiều, từ Chống nạng lên đường (1930), Bà lão lòa (1931) đến Một đồng bạc, Đời là một cuộc chiến đấu (1939).
Những tác phẩm tiêu biểu của Vũ Trọng Phụng
Năm 1936 được xem là năm “bùng nổ” của Vũ Trọng Phụng khi bốn tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê, Làm đĩ lần lượt xuất hiện trên báo. Dưới đây là những tác phẩm và đoạn trích nên đọc trước.
1/ Số đỏ (1936)
Số đỏ đăng trên Hà Nội báo từ số 40 ngày 7/10/1936 và được in thành sách lần đầu năm 1938, gồm 20 chương. Đây được xem là tác phẩm lớn nhất của Vũ Trọng Phụng.

Nhân vật chính là Xuân Tóc Đỏ, một kẻ mồ côi làm đủ nghề hạ lưu: trèo me, trèo sấu, thổi kèn quảng cáo thuốc, nhặt banh ở sân quần vợt. Nhờ bà Phó Đoan và vợ chồng Văn Minh, Xuân lọt vào giới “thượng lưu” Hà Nội đang chạy theo phong trào Âu hóa, được gọi là “đốc tờ Xuân”, rồi nhờ một loạt may mắn và thủ đoạn mà trở thành “vĩ nhân”, được nhận huân chương và làm rể cụ cố Hồng.
Bằng ngòi bút trào phúng, tác phẩm đả kích những phong trào “Âu hóa”, “thể thao”, “giải phóng nữ quyền” rởm của xã hội tư sản thành thị đương thời. Nhiều nhân vật như cụ cố Hồng với câu cửa miệng “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”, ông Typn, cậu Phước… đã trở thành điển hình.
2/ Hạnh phúc của một tang gia (chương XV Số đỏ)
Chương truyện kể về đám tang cụ cố tổ – người mà con cháu đều mong chết để được chia gia tài. Cái chết của cụ làm cả nhà vui mừng theo những cách riêng: người sung sướng vì chúc thư sắp được thực hiện, người háo hức được khoe những bộ y phục tân thời, người có dịp khoe máy ảnh; còn đám ma thì được tổ chức rình rang như một đám rước.
Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm.
Câu mở đầu ấy tóm gọn nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng: dùng cái nghịch lý “tang gia” mà lại “hạnh phúc” để lột trần sự giả dối, bất hiếu của một gia đình tự xưng văn minh. Đoạn trích từng học ở Ngữ văn 11 (chương trình cũ) và nay có trong Ngữ văn 12 Cánh diều.
3/ Xuân Tóc Đỏ cứu quốc (chương XX Số đỏ)
Nhan đề đoạn trích lấy từ một phần tên chương XX, chương cuối của tiểu thuyết. Được đưa vào thi đấu quần vợt với quán quân Xiêm nhân dịp vua Xiêm sang Bắc Kỳ, Xuân được lệnh phải thua để giữ tình giao hảo. Bị đám đông phản đối, hắn hùng hồn diễn thuyết rằng thua là để “cứu quốc”, và từ kẻ vô học bỗng thành “vĩ nhân”.
Có thể thấy, sự thăng tiến chóng mặt của Xuân là đòn châm biếm sâu cay nhất của Số đỏ: một xã hội nhố nhăng đến mức tôn vinh chính kẻ lưu manh.
4/ Hai quan niệm về gia đình và xã hội (trích Số đỏ)
Đoạn trích được chọn vào Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo. Qua lời lẽ và hành động của các nhân vật trong Số đỏ, văn bản cho thấy độ vênh giữa những khẩu hiệu “cải cách”, “văn minh” với lối sống thực của tầng lớp tiểu tư sản thành thị. Tiếng cười bật ra từ chính những mâu thuẫn trong suy nghĩ và việc làm của họ.
5/ Giông tố (1936)
Giông tố (khi đăng trên Hà Nội báo năm 1936 có tên Thị Mịch) được nhà xuất bản Văn Thanh in thành sách đầu năm 1937. Cốt truyện bắt đầu từ việc cô Mịch bị Nghị Hách cưỡng hiếp và vụ kiện của gia đình cô, rồi mở rộng sang những xung đột trong gia đình Nghị Hách, từ nông thôn ra đến thành thị.
Tiểu thuyết đặt quan hệ tiền bạc, quyền lực và tính dục vào trung tâm, phơi bày bộ mặt của một nhà tư sản kiêm nghị viên có thể mua chuộc cả pháp luật. Ngay từ thời đăng báo, Giông tố đã gây chú ý trong đời sống văn chương; Dương Quảng Hàm sau đó đưa tác phẩm vào Việt Nam văn học sử yếu.
6/ Cơm thầy cơm cô (1936) và Cái giá trị làm người
Cơm thầy cơm cô là thiên phóng sự đăng trên Hà Nội báo năm 1936, viết về những người nông dân nghèo rời quê lên Hà Nội làm “con sen”, “thằng nhỏ” trong các gia đình thành thị. Tác phẩm vạch trần sự bóc lột của các lò môi giới và cảnh sống tủi nhục của người ở đợ.
Chương III mang tên “Cái giá trị làm người” được chọn làm văn bản đọc mở rộng trong Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, giúp học sinh thấy rõ đặc trưng thể loại phóng sự: người viết trực tiếp thâm nhập đời sống để ghi chép sự thật.
7/ Kỹ nghệ lấy Tây (1934)
Phóng sự đăng trên báo Nhật Tân năm 1934, sau khi tác giả thâm nhập xóm Thị Cầu (Bắc Ninh) – nơi nhiều phụ nữ kiếm sống bằng cách làm “me Tây” cho lính lê dương. Hôn nhân ở đây trở thành một thứ “kỹ nghệ” mua bán, và ngòi bút Vũ Trọng Phụng vừa châm biếm vừa xót xa cho những số phận lai căng, bơ vơ.
Cùng với Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây khiến Vũ Đình Chí và Vũ Bằng xếp ông vào hàng vài ba nhà văn mở đầu cho nghề phóng sự ở nước ta.
Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng trong sách giáo khoa Ngữ văn
Theo chương trình Ngữ văn 2018, cả bốn văn bản của Vũ Trọng Phụng đều nằm ở lớp 12:
| Văn bản | Bộ sách | Bài học |
|---|---|---|
| Xuân Tóc Đỏ cứu quốc (trích Số đỏ) | Kết nối tri thức (tập 1) | Bài 1: Khả năng lớn lao của tiểu thuyết |
| Cái giá trị làm người (trích Cơm thầy cơm cô) | Chân trời sáng tạo (tập 1) | Bài 4: Sự thật và trang viết (đọc mở rộng) |
| Hai quan niệm về gia đình và xã hội (trích Số đỏ) | Chân trời sáng tạo (tập 2) | Bài 7: Trong ánh đèn thành thị |
| Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ) | Cánh diều (tập 2) | Bài 7: Tiểu thuyết hiện đại |
Tài liệu có sẵn trên Văn VN: Xuân Tóc Đỏ cứu quốc – tác phẩm và tác giả (Văn 12 sách mới). Xem thêm thứ tự các bài học trong phân phối chương trình Ngữ văn 12.
Phong cách sáng tác của Vũ Trọng Phụng
- Bậc thầy trào phúng: xây dựng tình huống nghịch lý, nhân vật biếm họa, tiếng cười vừa hài hước vừa cay đắng.
- Cây bút phóng sự tiên phong: trực tiếp thâm nhập đời sống, ghi chép tỉ mỉ những mảng tối của xã hội thành thị.
- Hiện thực “tả chân”: không né tránh những vấn đề nhạy cảm như tính dục, tệ nạn, tha hóa đạo đức.
- Ngôn ngữ sống động: đậm chất đời thường của Hà Nội thời Pháp thuộc, nhiều câu thoại trở thành thành ngữ mới.
Vì sức khái quát xã hội rộng lớn ấy, có người đã so sánh Vũ Trọng Phụng với Balzac của văn học Pháp.
Lời kết
Tác phẩm Vũ Trọng Phụng là tấm gương chiếu rọi xã hội thành thị Việt Nam những năm 1930 với tất cả sự nhố nhăng, giả dối của nó. Dù cuộc đời ngắn ngủi, ông vẫn để lại Số đỏ, Giông tố cùng những thiên phóng sự mà đến nay người đọc vẫn bật cười và giật mình.
Xem thêm: thơ trào phúng Tú Xương, thơ Tú Mỡ, những tác phẩm của Lỗ Tấn.
Xem thêm: tác phẩm Nguyên Hồng, tác phẩm Nam Cao, tác phẩm Ngô Tất Tố.