Cộng đồng và cá thể là bài tiểu luận của nhà bác học An-be Anh-xtanh (Albert Einstein), trích từ cuốn Thế giới như tôi thấy. Văn bản được học ở Bài 9 (Lựa chọn và hành động) sách Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập hai, sau hai văn bản Bài ca ngất ngưởng và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Bài viết dưới đây giúp em nắm nhanh: nội dung văn bản, tiểu sử tác giả, xuất xứ, thể loại, luận đề – luận điểm, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật, ý nghĩa nhan đề và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Cộng đồng và cá thể
Văn bản trong SGK dùng bản dịch tiếng Việt của nhóm Đinh Bá Anh – Nguyễn Vũ Hảo – Trần Tiễn Cao Đảng (Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính, NXB Tri thức, 2005). Bản dịch còn thuộc diện bảo hộ, nên Văn VN chỉ lược thuật ý chính theo đúng trình tự lập luận, kèm vài câu trích ngắn. Phần trả lời câu hỏi SGK, em xem bài soạn bài Cộng đồng và cá thể.

Cá thể mang ơn cộng đồng. Mở đầu, Anh-xtanh mời người đọc tự nhìn lại đời sống của chính mình: gần như mọi việc ta làm, mọi điều ta mong muốn đều gắn với đời sống của những người quanh ta. Về bản chất loài, con người giống những sinh vật sống theo bầy. Bằng chứng rất gần gũi: “Chúng ta ăn thức ăn người khác trồng, mặc quần áo người khác may, sống trong nhà người khác xây.” Phần lớn hiểu biết và niềm tin của ta cũng do người khác truyền lại qua ngôn ngữ – thứ công cụ mà chính cộng đồng tạo ra. Vì thế, ý nghĩa tồn tại của mỗi người nằm ở chỗ họ là thành viên của cộng đồng lớn loài người, cộng đồng chi phối đời sống vật chất lẫn tinh thần của họ suốt từ lúc sinh ra cho tới khi mất đi.
Giá trị con người và vai trò của cá thể sáng tạo. Giá trị của một người được đo trước hết bằng mức độ mà tình cảm, suy nghĩ, hành động của người đó giúp ích cho người khác. Thoạt nghe, có vẻ chỉ phẩm chất xã hội mới là thước đo duy nhất. Nhưng tác giả lập tức lật lại: toàn bộ của cải vật chất, tinh thần, đạo đức mà ta thừa hưởng đều do những cá thể sáng tạo làm ra – người tìm ra lửa, người biết trồng trọt, người chế tạo đầu máy hơi nước. Ông khẳng định: “Chỉ cá thể đơn lẻ mới có thể tư duy và qua đó, tạo ra những giá trị mới cho xã hội”. Ngược lại, cá nhân cũng không thể lớn lên nếu thiếu “mảnh đất dinh dưỡng của cộng đồng”. Từ đó, tác giả đi tới quan niệm về một cộng đồng lành mạnh: vừa tôn trọng sự độc lập của từng người, vừa giữ được sự gắn kết bên trong. Ông dẫn chứng nền văn hóa Hy Lạp – châu Âu – châu Mỹ, nhất là thời Phục hưng ở Ý, đã khởi sắc nhờ giải phóng cá nhân.
Nhìn vào thời đại đang sống. Phần tiếp theo chuyển sang thực trạng đầu thế kỉ XX. Dân số ở các nước phát triển tăng nhanh, nhưng người có tố chất dẫn dắt lại ngày một hiếm; tổ chức dần thay cho thủ lĩnh trong kĩ thuật và cả khoa học. Sự thiếu vắng cá tính lộ rõ nhất trong hội họa, âm nhạc. Trong chính trị, tinh thần độc lập và ý thức phải trái của người dân sa sút, nền dân chủ nghị viện lung lay, các chế độ độc tài nảy sinh. Tác giả cảnh báo: chỉ cần báo chí kích động trong ít ngày, cả một đám đông có thể sẵn sàng cầm súng vì những mục đích chẳng hề cao quý.
Niềm tin vào tương lai. Dù vậy, Anh-xtanh không đứng về phía những người dự báo ngày tàn của văn minh; ông viết: “tôi tin vào một tương lai tốt đẹp hơn”. Theo ông, sự suy thoái bắt nguồn từ việc kinh tế, kĩ thuật phát triển làm cuộc đấu tranh sinh tồn gay gắt hơn và bóp nghẹt tự do cá nhân. Nhưng chính kĩ thuật cũng giúp con người lao động ít đi mà vẫn đủ đầy. Nếu xã hội biết phân công lao động theo kế hoạch, mỗi cá nhân được bảo đảm về vật chất và có thêm thời gian, sức lực để hoàn thiện nhân cách; nhờ vậy, cộng đồng sẽ khỏe mạnh trở lại. Những “bệnh tật” của thời đại, theo cách nhìn lạc quan của tác giả, chỉ như cơn cảm cúm của loài người trên đà lớn lên quá nhanh.
Thông tin tác giả An-be Anh-xtanh
An-be Anh-xtanh (Albert Einstein, 1879 – 1955) sinh tại thành phố Ulm (Đức), là nhà vật lí lí thuyết được xem là một trong những bộ óc vĩ đại nhất của nhân loại. Năm 1905 – thường được gọi là “năm kì diệu” của ông – Anh-xtanh công bố liên tiếp các công trình về hiệu ứng quang điện, chuyển động Brao, thuyết tương đối hẹp và hệ thức nổi tiếng E = mc². Năm 1915, ông hoàn thiện thuyết tương đối rộng, làm thay đổi cách loài người hiểu về không gian, thời gian và lực hấp dẫn.
Năm 1921, Anh-xtanh được trao giải Nô-ben Vật lí cho những cống hiến đối với vật lí lí thuyết, đặc biệt là việc phát hiện định luật hiệu ứng quang điện. Năm 1933, trước sự lên nắm quyền của chủ nghĩa phát xít ở Đức, ông sang Mỹ, làm việc ở Viện Nghiên cứu cao cấp Princeton đến cuối đời.
Không chỉ là nhà khoa học, Anh-xtanh còn là một trí thức giàu tinh thần nhân văn: ông lên tiếng chống chiến tranh, chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, bảo vệ tự do tư tưởng và nhiều lần cảnh báo hiểm họa vũ khí hạt nhân. Ngoài các công trình chuyên môn, ông để lại nhiều bài tiểu luận, diễn văn, thư từ bàn về đạo đức, tôn giáo, giáo dục, chính trị; nhiều bài được tập hợp trong Thế giới như tôi thấy (1934) và Những năm cuối đời (1950).
Thông tin tác phẩm Cộng đồng và cá thể
Xuất xứ văn bản Cộng đồng và cá thể
Văn bản được trích từ cuốn Thế giới như tôi thấy – tập hợp các bài viết, bài nói thể hiện quan niệm của Anh-xtanh về nhiều câu hỏi lớn của khoa học và cuộc sống. SGK dẫn theo bản dịch của Đinh Bá Anh, Nguyễn Vũ Hảo, Trần Tiễn Cao Đảng, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính (NXB Tri thức, Hà Nội, 2005, tr. 22 – 26). Đoạn trích có lược bớt một số chỗ (đánh dấu […]).
Bài tiểu luận ra đời trong khoảng đầu những năm 1930, khi châu Âu vừa trải qua Chiến tranh thế giới thứ nhất, rơi vào khủng hoảng kinh tế và chứng kiến chủ nghĩa độc tài trỗi dậy. Bối cảnh ấy giải thích vì sao tác giả nói nhiều tới sự suy giảm cá tính, sự kích động đám đông và nguy cơ chiến tranh.
Thể loại, phương thức biểu đạt
- Thể loại: văn bản nghị luận (tiểu luận) bàn về một vấn đề xã hội – triết học.
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận; có kết hợp biểu cảm (giọng tin tưởng, lạc quan ở phần cuối).
- Vị trí trong bài học: văn bản đọc kết nối chủ điểm “Lựa chọn và hành động”, giúp người học suy nghĩ về trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng.
Luận đề và hệ thống luận điểm
Luận đề: mối quan hệ hai chiều giữa cộng đồng và cá thể – cá thể không thể tồn tại ngoài cộng đồng, nhưng cộng đồng chỉ phát triển nhờ những cá thể độc lập, sáng tạo. Các luận điểm chính:
- Luận điểm 1: Mỗi cá thể phụ thuộc vào cộng đồng, mang ơn cộng đồng về đời sống vật chất, hiểu biết và ngôn ngữ.
- Luận điểm 2: Giá trị của một người được đánh giá qua mức độ người đó giúp ích cho người khác.
- Luận điểm 3: Mọi giá trị mà cộng đồng có đều do những cá thể sáng tạo làm nên; cộng đồng lành mạnh là cộng đồng tôn trọng sự độc lập của cá nhân đồng thời giữ được sự gắn kết.
- Luận điểm 4: Thời đại hiện nay thiếu vắng cá tính và thủ lĩnh, kéo theo sự sa sút của nghệ thuật, chính trị và nguy cơ độc tài.
- Luận điểm 5: Tác giả vẫn tin vào tương lai, vì kĩ thuật cùng sự phân công lao động theo kế hoạch sẽ tạo điều kiện cho cá nhân phát triển, giúp cộng đồng khỏe mạnh trở lại.
Bố cục – Cộng đồng và cá thể có mấy phần?
Có thể chia văn bản làm 3 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “giữa cá nhân với cộng đồng”): quan hệ hai chiều giữa cộng đồng và cá thể – cá thể mang ơn cộng đồng, còn cộng đồng phát triển nhờ cá thể sáng tạo.
- Phần 2 (tiếp theo đến “của những thế lực nào đó”): thực trạng của mối quan hệ ấy trong thời đại tác giả đang sống – sự mờ nhạt của cá tính trong kĩ thuật, khoa học, nghệ thuật, chính trị.
- Phần 3 (còn lại): niềm tin của tác giả vào tương lai và cơ sở của niềm tin ấy.
Giá trị nội dung
- Làm sáng tỏ mối quan hệ gắn bó, tương hỗ giữa cá nhân và cộng đồng: không ai sống được một mình, nhưng cũng không cộng đồng nào tiến lên được nếu thiếu những cá nhân dám nghĩ khác, làm khác.
- Cảnh báo những nguy cơ khi cá tính bị xóa mờ: nghệ thuật nghèo nàn, đám đông dễ bị thao túng, độc tài có đất sống – những vấn đề đến nay vẫn còn tính thời sự.
- Thể hiện tư duy tích cực, niềm tin vào khả năng tự điều chỉnh của nhân loại.
- Gợi cho người đọc ý thức trách nhiệm: sống có ích cho người khác, đồng thời giữ được tư duy độc lập của riêng mình.
Giá trị nghệ thuật
- Lập luận chặt chẽ, đi từ điều gần gũi (ăn, mặc, ở, ngôn ngữ) tới vấn đề khái quát (văn minh, chính trị, tương lai nhân loại).
- Cách lật đi lật lại vấn đề: nêu một nhận định có vẻ hợp lí rồi chỉ ra chỗ phiến diện, nhờ đó luận đề được nhìn từ hai phía.
- Dẫn chứng tiêu biểu, giàu sức thuyết phục: phát minh ra lửa, nghề trồng trọt, đầu máy hơi nước; thời Phục hưng; dân số châu Âu.
- Giọng văn khách quan, điềm tĩnh mà vẫn giàu cảm xúc; câu hỏi tu từ và câu cảm thán tạo nhịp đối thoại với người đọc; hình ảnh so sánh “cảm cúm” ở cuối bài nhẹ nhàng, lạc quan.
Ý nghĩa nhan đề Cộng đồng và cá thể
Nhan đề nêu thẳng hai đối tượng được bàn luận và đặt chúng cạnh nhau bằng quan hệ từ “và”. Cách đặt ấy cho thấy tác giả không đề cao một phía, mà xem cộng đồng và cá thể là hai mặt gắn bó, bổ sung cho nhau; câu hỏi cần trả lời là làm sao để hai mặt ấy cùng phát triển hài hòa.
Sơ đồ tư duy Cộng đồng và cá thể

Lời kết
Khi ôn Cộng đồng và cá thể, em cần nhớ: tác giả là nhà bác học An-be Anh-xtanh (1879 – 1955); văn bản trích từ Thế giới như tôi thấy; thể loại nghị luận (tiểu luận); bố cục 3 phần; luận đề là quan hệ hai chiều giữa cá nhân và cộng đồng; điểm sáng nghệ thuật là cách lập luận lật đi lật lại vấn đề và giọng điệu lạc quan. Đây cũng là gợi ý tốt cho phần viết đoạn văn kết nối đọc – viết của bài học.
Xem thêm:
- Soạn bài Cộng đồng và cá thể (Kết nối tri thức 11)
- Soạn bài Bài ca ngất ngưởng
- Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
- Tóm tắt Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc