Dương phụ hành (Bài hành về người thiếu phụ phương Tây) của Cao Bá Quát là văn bản đọc thứ hai của Bài 4 Tự sự trong truyện thơ dân gian và trong thơ trữ tình, SGK Ngữ văn 11 Kết nối tri thức tập một. Chỉ với tám câu thơ chữ Hán, nhà thơ ghi lại cảnh một đôi vợ chồng phương Tây âu yếm dưới trăng và bộc lộ nỗi niềm của người khách xa quê. Dưới đây là nguyên tác, dịch nghĩa cùng những kiến thức trọng tâm: tác giả, hoàn cảnh sáng tác, thể thơ, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Dương phụ hành
Bài thơ viết bằng chữ Hán, gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ. Nguyên tác thuộc phạm vi công cộng nên được giới thiệu trọn vẹn; phần dịch nghĩa dưới đây do Văn VN dịch sát từng câu để em dễ đối chiếu.

Nguyên tác chữ Hán và phiên âm
洋婦行
西洋少婦衣如雪,
獨憑郎肩坐清月。
卻望南船燈火明,
把袂喃喃向郎說。
一碗醍醐手懶持,
夜寒無那海風吹。
翻身更倩郎扶起,
豈識南人有別離。
Dương phụ hành
Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên tọa thanh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hỏa minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.
Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.
Dịch nghĩa
Người thiếu phụ phương Tây mặc áo trắng như tuyết,
Ngồi tựa vai chồng dưới ánh trăng trong.
Ngoảnh nhìn thuyền người Nam thấy đèn đuốc sáng rực,
Níu vạt áo, thì thầm trò chuyện với chồng.
Một chén sữa, tay uể oải chẳng buồn cầm,
Đêm lạnh, gió biển thổi sao mà chịu nổi.
Trở mình, lại nhờ chồng đỡ dậy,
Nào biết có người Nam đang mang nỗi biệt li.
Bản dịch thơ trong sách giáo khoa
Sách giáo khoa dùng bản dịch thơ thất ngôn của Lê Tư Thục (có tài liệu ghi là Lê Tư Thực), in trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX (NXB Văn học, 1978). Bản dịch mở đầu bằng hai câu:
Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
và khép lại bằng câu “Biết đâu nỗi khách biệt li này”. Em đọc trọn bản dịch trong SGK Ngữ văn 11 Kết nối tri thức tập một hoặc trong bài soạn bài Dương phụ hành.
Chú thích một số từ ngữ
- Hành: một thể thơ cổ phong, khá tự do về số câu, vần, luật; thường kể lại sự việc, cảnh ngộ mới lạ kèm cảm xúc của người viết. Dương phụ hành nghĩa là bài hành về người phụ nữ phương Tây.
- Tây dương: phương Tây, chỉ người châu Âu; thiếu phụ: người phụ nữ trẻ đã có chồng.
- Lang: chàng, chồng (chữ này lặp lại ở câu 2, câu 4 và câu 7).
- Nâm nâm: từ tượng thanh, tiếng nói thì thầm, rì rầm.
- Đề hồ: váng sữa, sữa (ở đây là chén sữa).
- Vô ná: không biết làm sao, không chịu nổi.
- Phiên thân: trở mình, xoay người; sảnh (còn đọc là thiến): nhờ, cậy.
- Khởi thức: há biết, nào biết; Nam nhân: người phương Nam, người Việt.
Thông tin tác giả Cao Bá Quát
Cao Bá Quát (1808 – 1855; nhiều tài liệu, trong đó có sách giáo khoa, ghi năm sinh 1809), tự Chu Thần, hiệu Cúc Đường, Mẫn Hiên, quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Hà Nội). Ông nổi tiếng thông minh, văn hay chữ tốt từ nhỏ; năm 1831 đỗ cử nhân nhưng thi Hội nhiều lần không đỗ.
Năm 1841, ông được bổ làm quan ở bộ Lễ, rồi làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Vì dùng muội đèn chữa mấy bài thi hay nhưng phạm trường quy, ông bị kết tội, giam cầm và tra tấn gần ba năm. Cuối năm 1843, ông được tha tội chết nhưng phải đi “dương trình hiệu lực” (phục dịch ở nước ngoài để chuộc tội), theo phái đoàn của Đào Trí Phú sang vùng Giang Lưu Ba (Indonesia); giữa năm 1844 mới về nước. Sau đó ông làm ở Viện Hàn lâm, rồi bị đẩy đi làm giáo thụ ở phủ Quốc Oai. Năm 1854, ông tham gia lãnh đạo khởi nghĩa Mỹ Lương chống triều Nguyễn và hi sinh năm 1855; tác phẩm của ông bị triều đình thu đốt, cấm lưu hành.
Cao Bá Quát là nhà thơ tài năng, bản lĩnh, được người đời tôn là “Thánh Quát” (cùng với Nguyễn Văn Siêu: “Thần Siêu, Thánh Quát”). Thơ văn ông thể hiện thái độ phê phán chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng khai sáng, khao khát đổi mới. Bên cạnh đó là những vần thơ thắm thiết về vợ con, bạn bè, quê hương. Hiện còn hơn 1.300 bài thơ và 21 bài văn xuôi, phần lớn bằng chữ Hán; chữ Nôm có một số bài hát nói, thơ Đường luật và bài phú Tài tử đa cùng. Tác phẩm tiêu biểu: Sa hành đoản ca (Bài ca ngắn đi trên bãi cát), Dương phụ hành, Tài tử đa cùng phú… Xem thêm tuyển tập thơ Cao Bá Quát.
Thông tin tác phẩm Dương phụ hành
Hoàn cảnh sáng tác Dương phụ hành
Bài thơ ra đời trong chuyến Cao Bá Quát đi “dương trình hiệu lực” (khoảng cuối năm 1843 đến giữa năm 1844; nhiều tài liệu ghi gọn là năm 1844), khi ông theo phái đoàn Đào Trí Phú vượt biển sang vùng Hạ Châu, Indonesia. Đây là lần đầu nhà thơ tiếp xúc với người châu Âu và nền văn minh phương Tây; nhiều điều mới lạ được ông ghi lại trong thơ, trong đó có hình ảnh người thiếu phụ Tây dương âu yếm bên chồng trên con tàu giữa biển đêm. Lúc ấy, ông đang mang thân phận kẻ đi chuộc tội, xa vợ con, quê nhà.
Dương phụ hành thuộc thể thơ gì?
Dương phụ hành viết theo thể hành – một thể của thơ cổ phong, ít bị ràng buộc bởi niêm luật như thơ Đường luật. Bài gồm 8 câu thất ngôn nhưng đổi vần giữa bài: bốn câu đầu vần trắc (tuyết – nguyệt – thuyết), bốn câu sau vần bằng (trì – xuy – li).
Phương thức biểu đạt
Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp với tự sự và miêu tả: nhà thơ kể lại, tả lại cảnh đôi vợ chồng phương Tây rồi bộc lộ cảm xúc ở câu kết.
Dương phụ hành có mấy phần?
Bài thơ có thể chia làm 2 phần:
- Phần 1 (7 câu đầu): hình ảnh người thiếu phụ phương Tây âu yếm, nũng nịu bên chồng trong đêm trăng trên biển.
- Phần 2 (câu cuối): tâm trạng của nhà thơ – nỗi niềm của người khách đang chịu cảnh biệt li.
Nhân vật trữ tình và điểm nhìn
Nhân vật trữ tình là “người Nam” – chính nhà thơ, một nhà Nho phương Đông đang ở trên thuyền, đứng ngoài quan sát cảnh vợ chồng người phương Tây. Điểm nhìn từ ngoài vào khiến bảy câu đầu có vẻ khách quan, chỉ kể và tả; đến câu cuối, điểm nhìn chuyển vào bên trong, lộ ra tâm sự của chính người quan sát.
Giá trị nội dung Dương phụ hành
- Khắc họa chân dung người thiếu phụ phương Tây trẻ trung, tự nhiên, được yêu chiều, đang tận hưởng hạnh phúc lứa đôi – một hình ảnh rất mới lạ với người phương Đông đương thời.
- Thể hiện cái nhìn cởi mở, tò mò mà trân trọng của nhà thơ trước một nền văn hóa khác, không kì thị, không phán xét theo lễ giáo Nho gia.
- Bộc lộ nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà, nhớ vợ con và cảm thức biệt li của người khách xa xứ, đồng thời ngầm thể hiện khát vọng hạnh phúc đời thường, tư tưởng nhân văn của Cao Bá Quát.
Giá trị nghệ thuật Dương phụ hành
- Thể hành tự do, phù hợp với việc ghi lại một cảnh ngộ mới lạ.
- Kết hợp tự sự, miêu tả với trữ tình; lối viết “ý tại ngôn ngoại” – bảy câu kể cảnh, một câu nói tình.
- Chi tiết chọn lọc, giàu sức gợi: màu áo trắng như tuyết, ánh trăng, đèn thuyền, chén sữa, gió biển, cử chỉ trở mình nhờ chồng đỡ dậy.
- Nghệ thuật tương phản: hạnh phúc sum họp của đôi vợ chồng phương Tây đối lập với nỗi biệt li của “Nam nhân”; điệp chữ “lang” và chữ “Nam” làm nổi bật hai thế giới ấy.
Ý nghĩa nhan đề Dương phụ hành
“Dương phụ” là người phụ nữ phương Tây, “hành” là thể thơ. Nhan đề cho thấy đối tượng trung tâm của bài thơ là hình ảnh người thiếu phụ Tây dương – điều mới lạ đập vào mắt nhà thơ. Tuy vậy, cái đích sâu xa của bài lại là câu cuối: từ cảnh người mà nghĩ đến cảnh mình.
Sơ đồ tư duy Dương phụ hành

Lời kết
Dương phụ hành là bài thơ ngắn mà hàm súc. Qua cảnh sum họp ấm áp của đôi vợ chồng phương Tây, Cao Bá Quát vừa bày tỏ cái nhìn mới mẻ, phóng khoáng về con người và văn hóa phương Tây, vừa gửi vào câu thơ cuối nỗi niềm cô đơn, nhớ nhà của một kẻ sĩ tài hoa mà lận đận.
Xem thêm:
- Soạn bài Dương phụ hành – Ngữ văn 11 Kết nối tri thức
- Tác giả Cao Bá Quát: cuộc đời và sự nghiệp
- Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)
- Soạn bài Thuyền và biển – văn bản đọc tiếp theo trong Bài 4