Người ta nhớ Thế Lữ qua con hổ “gặm một khối căm hờn trong cũi sắt”, nhưng thơ chỉ chiếm chừng năm năm trong đời ông. Thế Lữ (1907 – 1989), tên khai sinh Nguyễn Thứ Lễ, là nhà thơ mở đường của phong trào Thơ mới với bài Nhớ rừng, cây bút truyện trinh thám, kinh dị đầu tiên của văn học Việt Nam, rồi dành hơn bốn mươi năm còn lại cho sân khấu kịch nói, làm Chủ tịch đầu tiên của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam.
Sinh ở Thái Hà ấp, lớn lên ở xứ Lạng

| Tên khai sinh | Nguyễn Thứ Lễ (Wikipedia ghi tên đầu là Nguyễn Đình Lễ, sau mới đổi) |
| Bút danh | Thế Lữ, nói lái từ “Thứ Lễ”; khi viết báo có ký Lê Ta |
| Năm sinh – năm mất | 1907 – 3/6/1989 (ngày sinh có nguồn ghi 6/10, có nguồn ghi 10/6) |
| Quê quán | Làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh cũ, nay thuộc Hà Nội; sinh ở ấp Thái Hà, Hà Nội |
| Thể loại | Thơ, truyện trinh thám – kinh dị, kịch nói; diễn viên, đạo diễn |
| Tác phẩm tiêu biểu | Mấy vần thơ (1935), Vàng và máu (1934), Lê Phong phóng viên (1937), kịch Cụ đạo sư ông (1946), Đề Thám (1948) |
| Giải thưởng | Nghệ sĩ Nhân dân (đợt I, 1984); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (truy tặng, 2000) |
| Trong SGK | Nhớ rừng (Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo; Ngữ văn 8 sách cũ), Gói thuốc lá (Ngữ văn 9 Cánh diều, tự đánh giá) |
Ông lấy làm lạ khi người nhà bảo ông sinh ở Thái Hà ấp: ông vẫn tưởng mình sinh ở Lạng Sơn. Chi tiết ấy Hoài Thanh ghi lại trong Thi nhân Việt Nam, và nó có lý do. Cha ông làm trưởng ga trên tuyến đường sắt; mẹ theo đạo Công giáo nên không được nhà nội nhận. Mới vài tháng tuổi, cậu bé đã bị đưa lên Lạng Sơn ở với bà nội và cha, xa mẹ đến năm mười, mười một tuổi mới về Hải Phòng. Núi rừng xứ Lạng và những chuyện ma quái nghe từ nhỏ, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Minh Thái (VnExpress dẫn Tuổi Trẻ, 2007), về sau thành chất liệu cho truyện đường rừng của ông.
Năm 1929 ông thi đỗ dự thính Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ở Hà Nội nhưng chỉ học khoảng một năm rồi bỏ để viết văn. Bảo tàng Văn học Việt Nam và Wikipedia cùng ghi mốc này.
Năm năm làm thơ và tiếng gầm trong cũi sắt
Đầu thập niên 1930, ông gắn bó với nhóm Phong hóa – Ngày nay của Nhất Linh. Năm ông vào Tự Lực văn đoàn các nguồn ghi khác nhau: Bảo tàng Văn học ghi 1932, Wikipedia và Hội Nghệ sĩ Sân khấu ghi 1934, năm văn đoàn chính thức thành lập. Khi ấy cuộc tranh luận thơ mới – thơ cũ đang nóng. Phan Khôi đã mở màn bằng bài Tình già (1932), nhưng phải đến những bài của Thế Lữ, thơ mới mới có tác phẩm đủ sức thuyết phục người đọc.
Nhớ rừng ra đời khoảng năm 1934, in trong tập Mấy vần thơ (1935). Con hổ trong vườn bách thú nhớ đại ngàn, khinh đám người xem tầm thường; người đọc thời ấy nghe ra nỗi ngột ngạt của cả một lớp thanh niên trí thức:
Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua,
Đến năm 1941 ông in thêm Mấy vần thơ, tập mới. Bảy bài của ông được Hoài Thanh – Hoài Chân chọn vào Thi nhân Việt Nam, trong đó có Nhớ rừng, Tiếng sáo Thiên Thai, Cây đàn muôn điệu. Rồi ông thôi làm thơ. Vương Trí Nhàn gọi đó là chuyện “dừng lại đúng lúc”: ông nhiệt tình giới thiệu Xuân Diệu trên báo của văn đoàn những năm 1936 – 1937 và nhường sân thơ cho lớp sau. Đặc điểm thơ ông được bàn kỹ ở bài phong cách sáng tác của Thế Lữ.
Lê Phong, Mai Hương và những truyện đường rừng
Song song với thơ, ông viết văn xuôi, và ở mảng này ông là người đi trước. Bảo tàng Văn học xếp ông cùng Phạm Cao Củng vào hàng mở đầu truyện trinh thám Việt Nam. Nhân vật phóng viên Lê Phong của ông phá án bằng suy luận, có cô Mai Hương làm bạn đồng hành, một lối truyện rất mới với người đọc báo những năm 1930.
| Truyện | Năm | Loại |
|---|---|---|
| Vàng và máu | 1934 | Truyện đường rừng, kinh dị |
| Bên đường Thiên Lôi | 1936 | Truyện ngắn ly kỳ |
| Lê Phong phóng viên | 1937 | Trinh thám |
| Mai Hương và Lê Phong | 1937 | Trinh thám |
| Đòn hẹn | 1937 (Bảo tàng Văn học ghi 1939) | Trinh thám |
| Gói thuốc lá | 1940 | Trinh thám |
| Trại Bồ Tùng Linh | 1941 | Truyện kỳ ảo |
Truyện Gói thuốc lá nay được chọn làm văn bản tự đánh giá trong bài học về truyện trinh thám của sách Ngữ văn 9 Cánh diều, một sự trở lại khá bất ngờ sau gần chín mươi năm.
Từ ban kịch Tinh Hoa đến Đề Thám: nửa đời trên sân khấu
Từ năm 1937, ông chuyển hẳn sang kịch nói, vừa viết, vừa dựng, vừa đóng. Ông lập ban kịch Tinh Hoa, sau đó là ban kịch Thế Lữ (1942) và đoàn kịch Anh Vũ (cuối 1943); tên ba ban kịch này khớp trong Wikipedia, VnExpress và báo Pháp luật Việt Nam. Vở Dương Quý Phi (1942) thuộc chặng này. Tháng Tám năm 1945, đoàn Anh Vũ đang lưu diễn ở Thanh Hóa thì Cách mạng nổ ra.
Kháng chiến chống Pháp, ông lên Việt Bắc, vào Ban Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam, phụ trách các đoàn kịch phục vụ bộ đội. Hai vở viết trong những năm ấy, Cụ đạo sư ông (1946) và Đề Thám (1948), về sau là cụm tác phẩm được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh theo quyết định ngày 1/9/2000 (TTXVN và Wikipedia; Bảo tàng Văn học ghi năm 2001). Sau năm 1954, ông phụ trách Đoàn Kịch nói Trung ương, tiền thân Nhà hát Kịch Việt Nam. Năm 1957, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam ra đời, ông là Chủ tịch đầu tiên. Ông cũng là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam cùng năm đó.
Giới sân khấu gọi ông là “anh cả” của nghề, như báo Pháp luật Việt Nam ghi lại. Năm 1984 ông được phong Nghệ sĩ Nhân dân đợt đầu tiên.
Hoài Thanh viết gì về Thế Lữ, và chuyện “mệnh danh”
Chương viết về Thế Lữ trong Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh ghi “Tháng 1 – 1941”) là đoạn văn được dẫn nhiều nhất về ông. Hoài Thanh nhắc lại thời “thơ mới vừa ra đời”, khi người ta còn cãi nhau, và cho rằng Thế Lữ thắng không phải bằng lý lẽ:
Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bước những bước vững vàng, mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ.
Trong cùng chương, Hoài Thanh ví ông như một vì sao bỗng hiện, sáng khắp trời thơ, và nhận rằng không thể không ghi công ông đã dựng nên nền thơ mới ở nước ta. Câu này các bản chép có vài chữ khác nhau (“vầng sao” hay “vừng sao”) nên chúng tôi chỉ thuật lại ý.
Nhiều trang giới thiệu viết Thế Lữ “được mệnh danh là Người khai sáng phong trào Thơ mới”, nhưng chưa tìm thấy ai đặt ra danh xưng đó; cũng không đúng nếu gọi ông là người khởi xướng, vì vai trò ấy thường được ghi cho Phan Khôi. Điều có thể nói chắc là ông làm cho thơ mới thắng thế bằng tác phẩm, như chính ý của Hoài Thanh ở trên. Ngoài ra Wikipedia còn kể Khái Hưng từng khen ông là “Lamartine của Việt Nam”, nhưng chi tiết này chưa có nguồn thứ hai.
Nhớ rừng và Gói thuốc lá trong sách giáo khoa
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Nhớ rừng | Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 10 (Tiếng vọng những ngày qua) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Tóm tắt · Phân tích |
| Nhớ rừng | Ngữ văn 8 (chương trình 2006), tập 2 – Bài 18 | Mở bài · Kết bài |
| Gói thuốc lá | Ngữ văn 9 Cánh diều, tập 2 – Bài 6 (Truyện truyền kì và truyện trinh thám), tự đánh giá | — |
Học sinh học Nhớ rừng nên đọc thêm các bài khác trong tuyển tập thơ Thế Lữ như Tiếng sáo Thiên Thai, Cây đàn muôn điệu để thấy cái “tôi” mơ mộng, ưa cái đẹp của ông, khác với tiếng gầm của con hổ.
Gia đình nghệ sĩ và những năm cuối đời
Vợ hai của ông là nghệ sĩ Song Kim (Phạm Thị Nghĩa), diễn viên trong nhóm kịch của ông, cưới cuối năm 1938; hai vợ chồng cùng được phong Nghệ sĩ Nhân dân đợt đầu. Con trai trưởng của ông với người vợ đầu là đạo diễn, Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Đình Nghi (1928 – 2001), người được cha truyền nghề sân khấu; trang này có bài về cha con Thế Lữ – Nguyễn Đình Nghi.
Ông nghỉ hưu năm 1977, những năm cuối sống ở Thành phố Hồ Chí Minh và mất tại đó ngày 3/6/1989. Mười một năm sau, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, lần này cho sân khấu chứ không phải cho thơ, như một cách ghi nhận cả nửa đời ông đã chọn.
Xem thêm: