Người ta biết từng câu thơ của hai thiên sử thi mang tên ông, đếm được chúng dài bao nhiêu dòng, nhưng lại không biết chắc ông sinh ở đâu, sống năm nào, thậm chí có thật hay không. Hô-me-rơ (Homer, tiếng Hy Lạp: Homēros) là nhà thơ Hy Lạp cổ đại, theo truyền thống là tác giả hai sử thi I-li-át và Ô-đi-xê, được cho là ra đời vào khoảng thế kỷ VIII trước Công nguyên. Đây là những tác phẩm cổ nhất còn giữ được trọn vẹn của văn học phương Tây. Ở Việt Nam, học sinh lớp 10 đọc hai đoạn trích của ông.
Hô-me-rơ có thật không? (vấn đề Hô-me-rơ)

| Tên gọi | Homēros (Hy Lạp), Homer (Anh), Hô-me-rơ (phiên âm trong SGK) |
| Năm sinh – năm mất | Không rõ; các nhà nghiên cứu thường đặt ông vào khoảng thế kỷ VIII TCN, một số người lùi xuống thế kỷ VII TCN |
| Quê quán | Không rõ; truyền thuyết nhắc nhiều nhất đến thành Xmiếc-na (Smyrna) và đảo Khi-ốt (Chios) ở vùng I-ô-ni, Tiểu Á |
| Thể loại | Sử thi, viết bằng thể thơ sáu nhịp (hexameter) |
| Tác phẩm tiêu biểu | I-li-át, Ô-đi-xê; thời cổ đại còn gán cho ông các bài Thánh ca và một số sử thi ngắn, nay giới nghiên cứu cho là không phải của ông |
| Ngôn ngữ | Tiếng Hy Lạp cổ, chủ yếu là phương ngữ I-ô-ni cổ |
| Trong SGK hiện hành | Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác (Ngữ văn 10 Kết nối tri thức); Gặp Ka-ríp và Xi-la (Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo) |
Không có văn bản nào cùng thời ghi lại cuộc đời Hô-me-rơ. Chữ viết chỉ phổ biến trở lại ở Hy Lạp vào khoảng năm 700 TCN, còn những “tiểu sử” về ông đều do người đời sau soạn, nhiều trăm năm sau, lẫn đầy huyền thoại. Từ đó sinh ra cái mà giới nghiên cứu gọi là “vấn đề Hô-me-rơ”, gồm ba câu hỏi chính:
- Hô-me-rơ là ai, có phải một con người cụ thể hay không?
- I-li-át và Ô-đi-xê do một người hay nhiều người sáng tác?
- Hai thiên sử thi được soạn khi nào, ở đâu, trong hoàn cảnh nào, và được ghi thành văn bản ra sao?
Đến nay, câu hỏi thứ nhất vẫn chưa có lời đáp dứt khoát. Có học giả, như Martin West, cho rằng “Hô-me-rơ” không phải tên một nhà thơ có thật mà là một cái tên được dựng lên về sau. Số khác vẫn tin có một thi sĩ thiên tài đã đúc kết truyền thống hát kể thành hai tác phẩm hoàn chỉnh.
Những truyền thuyết về người hát rong mù
Người Hy Lạp cổ đã kể rất nhiều chuyện về Hô-me-rơ. Nhiều thành phố tranh nhau nhận là quê ông; được nhắc nhiều nhất là Xmiếc-na và đảo Khi-ốt, còn nơi ông mất theo truyền thuyết là đảo Iốt (Ios). Trên đảo Khi-ốt từng có một phường hát tự xưng là Homeridae, nghĩa là “con cháu Hô-me-rơ”, chuyên ngâm đọc thơ của ông.
Hình ảnh quen thuộc nhất là một ông già mù đi hát rong. Hình ảnh này có gốc từ một bài thánh ca dâng thần A-pô-lông, trong đó người hát tự nhận là “người mù sống ở Khi-ốt”. Người xưa còn đọc tên Homēros theo nghĩa phương ngữ là “người mù”, dù trong tiếng Hy Lạp thông dụng từ này nghĩa là “con tin”. Có người cho rằng Hô-me-rơ tự họa chân dung mình qua nhân vật Đê-mô-đô-cốt, nhà thơ mù hát chuyện thành Tơ-roa trong Ô-đi-xê.
Những chuyện ấy không chứng minh được gì về một con người lịch sử. Nhưng chúng cho thấy người Hy Lạp hình dung về thi ca như thế nào: một nghề của trí nhớ và giọng hát, truyền từ người này sang người khác.
Từ Wolf đến Milman Parry: hai thế kỷ tranh luận
Cuộc tranh luận hiện đại bắt đầu năm 1795, khi học giả Đức Friedrich August Wolf công bố cuốn Prolegomena ad Homerum. Theo Wolf, thời Hô-me-rơ người Hy Lạp chưa biết chữ, nên hai thiên sử thi dài như vậy không thể được sáng tác nguyên khối; chúng là những khúc hát rời được ghép lại rất lâu sau. Thật ra, ngay từ thời cổ đại đã có những người, được gọi là “phái tách rời” (chorizontes), cho rằng hai thiên sử thi là của hai tác giả khác nhau; Wolf đẩy sự hoài nghi ấy đi xa hơn nhiều.
Bước ngoặt đến vào đầu thế kỷ XX với công trình của Milman Parry, người Mỹ, và học trò là Albert Lord. Họ chỉ ra rằng sử thi Hô-me-rơ đầy những cụm từ cố định lặp đi lặp lại (“A-sin chân nhanh”, “bình minh ngón tay hồng”…), giống hệt lối sáng tác của những người hát sử thi truyền miệng mà họ ghi âm được ở vùng Ban-căng. Những “công thức” ấy giúp người hát ứng tác ngay khi trình diễn. Cuốn The Singer of Tales (1960) của Lord gần như thay đổi cách đọc Hô-me-rơ.
Ngày nay, phần đông học giả đồng ý rằng dù có hay không một Hô-me-rơ, hai thiên sử thi dựa trên một truyền thống hát kể lâu đời của nhiều thế hệ thi sĩ. Thậm chí có cả những giả thuyết lạ: nhà văn Anh Samuel Butler từng cho rằng Ô-đi-xê do một thiếu nữ người Xi-xin viết.
I-li-át: năm mươi mốt ngày của năm thứ mười
I-li-át lấy tên từ I-li-ông, tên khác của thành Tơ-roa. Sử thi gồm 15.693 câu thơ, chia làm 24 khúc ca, nhưng không kể toàn bộ cuộc chiến mười năm. Nó chỉ kể khoảng 51 ngày trong năm cuối, xoay quanh cơn giận của dũng tướng A-sin (Achilles). Câu mở đầu, dịch nghĩa, là lời cầu xin nữ thần hãy hát lên cơn giận của A-sin.
Những đoạn được nhớ nhiều nhất là danh sách các chiến thuyền Hy Lạp, cái chết của Pa-tơ-rốc-lơ, tấm khiên của A-sin, trận đấu giữa A-sin và Héc-to, và cảnh vua già Pri-am đến xin lại xác con. Đoạn Héc-to từ biệt vợ là Ăng-đrô-mác và đứa con nhỏ, nằm ở khúc ca thứ VI, là đoạn học sinh lớp 10 bộ Kết nối tri thức được học.

Ô-đi-xê: mười năm trên đường về I-tác
Ô-đi-xê ngắn hơn, khoảng 12.100 câu thơ, cũng chia làm 24 khúc ca. Nếu I-li-át là sử thi của chiến tranh thì Ô-đi-xê là sử thi của cuộc trở về. Sau khi thành Tơ-roa thất thủ, Uy-lít-xơ (Ô-đi-xê, Odysseus) mất thêm mười năm lênh đênh mới về được quê nhà I-tác, vì bị thần biển Pô-dê-đông trừng phạt.
Trên đường về, chàng chọc mù gã khổng lồ một mắt Pô-li-phêm, nghe tiếng hát của các nàng tiên cá Xi-ren, vượt qua quãng biển giữa hai quái vật Ka-ríp và Xi-la. Về đến nhà, chàng cùng con trai trừng trị bọn cầu hôn đang vây quanh người vợ chung thủy Pê-nê-lốp. Đoạn Gặp Ka-ríp và Xi-la trong sách Chân trời sáng tạo được trích từ những cuộc phiêu lưu này.
Nhà nghiên cứu thường cho rằng Ô-đi-xê ra đời sau I-li-át vài chục năm. Đây cũng là một lý do khiến câu hỏi “một hay hai tác giả” chưa bao giờ khép lại.
Từ lời hát đến trang in
Các nguồn cổ đại đều kể rằng bạo chúa Pi-xi-xtơ-rát (Peisistratus) ở A-ten là người đầu tiên cho chép thơ Hô-me-rơ thành văn bản và sắp xếp theo thứ tự như ngày nay, vào khoảng thế kỷ VI TCN. Bản văn mà chúng ta đọc hiện nay được truyền lại qua tay các học giả thành A-lếch-xan-đri ở Ai Cập (Zenodotus, Aristarchus…), những người đã hiệu đính và chú giải hai thiên sử thi.
Năm 1488, ở Florence (Ý), Demetrius Chalcondyles cho in bản Hô-me-rơ đầu tiên bằng chữ in. Từ đó, sử thi Hô-me-rơ trở thành nền móng của giáo dục cổ điển châu Âu: cảnh trong thơ ông đi vào điêu khắc, tranh vẽ trên gốm, bi kịch và hài kịch Hy Lạp, rồi văn chương La Mã và nhiều nền văn học sau này.
Hô-me-rơ trong sách giáo khoa Ngữ văn 10
| Đoạn trích | Trích từ | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác | I-li-át, khúc ca VI | Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 4 (Sức sống của sử thi) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Gặp Ka-ríp và Xi-la | Ô-đi-xê | Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 2 (Sống cùng kí ức của cộng đồng) | Soạn bài |
Hai đoạn trích cho thấy hai gương mặt người anh hùng Hy Lạp: Héc-to chọn bổn phận với thành bang dù biết trước số phận mình, còn Uy-lít-xơ vượt hiểm nguy bằng mưu trí và sự tỉnh táo. Muốn ôn nhanh, có thể đọc bài tóm tắt Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác hoặc bài phân tích đoạn trích. Ai thích đọc sâu hơn về sử thi này có bài Vị thế con người trong sử thi Iliad.
Các bản dịch tiếng Việt in trong sách giáo khoa còn thời hạn bảo hộ, nên bài viết này không trích lại; học sinh nên đọc toàn văn đoạn trích trong sách của mình.
Xem thêm: