Du khách vẫn tìm đến chiếc cối xay gió cũ gần làng Phông-vi-ây (Fontvieille) vì tin nhà văn từng sống ở đó. Nhà văn ấy là An-phông-xơ Đô-đê, và thật ra ông chưa bao giờ ở trong chiếc cối xay này. An-phông-xơ Đô-đê (Alphonse Daudet, 1840 – 1897) là nhà văn Pháp, tác giả tập truyện Những lá thư từ cối xay gió, Truyện ngày thứ Hai, tiểu thuyết Chú bé Pơ-ti Sô-dơ và bộ truyện về chàng Tác-ta-ranh. Truyện ngắn Buổi học cuối cùng của ông có trong sách Ngữ văn 7 và Ngữ văn 10. Cần phân biệt với bài thơ Buổi học cuối cùng của Nguyễn Thị Mai trong sách Tiếng Việt 4 Cánh diều, viết về buổi chia tay cô giáo về hưu.
Cậu bé xứ Nim và những tháng làm giám thị ở A-lét

| Tên đầy đủ | Louis Marie Alphonse Daudet (An-phông-xơ Đô-đê) |
| Năm sinh – năm mất | 13/5/1840 – 16/12/1897 |
| Quê quán | Nim (Nîmes), miền Nam nước Pháp; mất tại Pa-ri, an táng ở nghĩa trang Pe-la-se |
| Thể loại | Truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, thơ, hồi ký |
| Tác phẩm tiêu biểu | Những lá thư từ cối xay gió (1869), Chú bé Pơ-ti Sô-dơ (1868), Những cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Tác-ta-ranh xứ Ta-ra-xcông (1872), Truyện ngày thứ Hai (1873), Phrô-mông em và Ri-xle anh (1874), Xa-phô (1884) |
| Giải thưởng | Giải Jouy của Viện Hàn lâm Pháp (1875); Bắc Đẩu Bội tinh hạng sĩ quan |
| Trong SGK hiện hành | Buổi học cuối cùng (Ngữ văn 7 Cánh diều; Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo) |
Ông sinh ngày 13/5/1840 ở thành phố Nim, trong một gia đình làm nghề dệt và buôn tơ lụa. Người cha, Văng-xăng Đô-đê, là một nhà buôn gặp hết thất bại này đến thất bại khác. Năm 1849 xưởng dệt đóng cửa, cả nhà chuyển lên Ly-ông; năm 1855 gia đình phá sản hẳn, cậu con trai mười lăm tuổi phải bỏ dở việc thi tú tài.
Năm 1856, ông nhận chân giám thị ở một trường trung học tại thị trấn A-lét. Công việc trông coi đám học trò ngỗ nghịch nặng nề đến mức, theo lời ông kể về sau, nhiều tháng sau khi đã rời A-lét ông vẫn giật mình tỉnh giấc vì tưởng mình còn đứng giữa lũ trẻ. Mười hai năm sau, quãng đời ấy thành cuốn tiểu thuyết đầu tay Chú bé Pơ-ti Sô-dơ (Le Petit Chose, 1868), chính ông gọi là “một kiểu tự truyện”, pha trộn chuyện thật với chuyện bịa.
Lên Pa-ri năm 1857: thi sĩ nghèo thành thư ký của công tước Moóc-ni
Tháng 11/1857, chàng trai mười bảy tuổi bỏ nghề giám thị, lên Pa-ri ở cùng người anh Éc-nét đang chật vật kiếm sống bằng nghề báo. Năm sau, tập thơ Những người đang yêu (1858) được đón nhận khá tốt. Ông viết cho nhiều tờ báo, trong đó có Le Figaro, và bắt đầu được giới văn chương để ý.
Năm 1860, ông được nhận làm một trong những thư ký của công tước Moóc-ni, em cùng mẹ khác cha của hoàng đế Na-pô-lê-ông III và là chủ tịch Hội đồng Lập pháp. Công việc nhàn, cho ông nhiều thời gian viết truyện và tạp bút. Cũng trong những năm này, những dấu hiệu đầu tiên của căn bệnh giang mai xuất hiện; thầy thuốc khuyên ông đi tìm khí hậu ấm hơn, và ông lần lượt đến An-giê-ri, đảo Coóc-xơ, xứ Prô-văng-xơ. Năm 1865 công tước đột ngột qua đời, ông chuyển hẳn sang sống bằng ngòi bút.
Cối xay gió ông chưa từng ở
Sau những chuyến về Prô-văng-xơ, ông cùng bạn văn Pôn A-ren viết những bài đầu tiên của Những lá thư từ cối xay gió. Tờ L’Événement đăng chúng thành feuilleton suốt mùa hè năm 1866 dưới tên Biên niên xứ Prô-văng-xơ; sách in năm 1869. Người kể chuyện là một nhà văn rời Pa-ri, mua lại một chiếc cối xay gió bỏ hoang ở Phông-vi-ây và gửi thư về kể chuyện miền Nam: chuyện con dê của bác Xơ-ganh, chuyện cha xứ Gô-sê và thứ rượu thuốc, chuyện người chăn cừu ngồi bên cô chủ dưới bầu trời sao.
Chiếc cối xay có thật, nhưng phần “thư từ cối xay” là hư cấu. Theo Wikipedia tiếng Pháp, ông sống ở Phông-vi-ây tổng cộng chưa đến một năm và chưa bao giờ ở trong chiếc cối xay du khách đến xem; còn Wikipedia tiếng Anh cho biết tập truyện được viết ở Cla-ma, sát Pa-ri. Một số truyện có bàn tay của Pôn A-ren và vài người khác, kể cả vợ ông là Giu-li-a A-la, người ông cưới tháng 1/1867 và cộng tác với ông suốt đời. Khi Ốc-ta-vơ Miếc-bô sau này tố ông chiếm công người khác, chính A-ren lên tiếng rằng mình chỉ góp vài nét văn.
Tác-ta-ranh và tiếng cười về người miền Nam
Năm 1872, Những cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Tác-ta-ranh xứ Ta-ra-xcông ra đời. Tác-ta-ranh là một anh tư sản tỉnh lẻ béo tốt, mê truyện phiêu lưu, khoác lác đến mức tự tin mình là thợ săn sư tử, rồi sang tận An-giê-ri để săn thật. Nhân vật nổi tiếng đến mức ông viết thêm hai tập, Tác-ta-ranh trên dãy An-pơ (1885) và Cảng Ta-ra-xcông (1890).
Tiếng cười ấy có cái giá của nó. Đô-đê thường được coi là nhà văn tiêu biểu của xứ Prô-văng-xơ, nhưng nhiều trang của ông lại chế giễu tính khí người miền Nam: khoác lác, ồn ào, dễ bốc đồng. Tình bạn gần bốn mươi năm với nhà thơ Prô-văng-xơ Phrê-đê-rích Mít-xtran từng sứt mẻ khi ông cho in truyện Cô gái A-lơ và tiểu thuyết Nu-ma Rum-me-xtăng.
Chiến tranh 1870 và Truyện ngày thứ Hai
Chiến tranh Pháp – Phổ (1870 – 1871) kết thúc bằng thất bại của Pháp; hai vùng An-dát và Lo-ren bị sáp nhập vào nước Đức. Đô-đê viết về những năm ấy trong Truyện ngày thứ Hai (Contes du lundi, 1873). Tập truyện vẽ lại Pa-ri bị vây đói, Công xã, cuộc đàn áp sau đó, những người lính và gia đình họ.
Truyện nổi tiếng nhất trong tập là Buổi học cuối cùng, với tiêu đề phụ Chuyện của một em bé người An-dát. Theo một giai thoại được Wikipedia tiếng Pháp ghi lại, trong Thế chiến thứ nhất, một sĩ quan Đức đi kiểm tra trường học ở vùng chiếm đóng miền bắc nước Pháp đã chứng kiến cả lớp học trò bật khóc khi nghe đọc truyện này.
Từ năm 1874, ông chuyển sang tiểu thuyết phong tục về xã hội Pa-ri. Phrô-mông em và Ri-xle anh (1874) thành công vang dội và được Viện Hàn lâm Pháp trao giải Jouy năm 1875. Tiếp theo là Giắc (1876), Ông Na-báp (1877), Những ông vua lưu vong (1879), Xa-phô (1884). Ông còn viết mười bảy vở kịch. Riêng Viện Hàn lâm, ông không bao giờ ứng cử, và cuốn Người bất tử (1888) là một đòn châm biếm nhắm thẳng vào nó.
Gần hai mươi năm sống chung với bệnh tật
Căn bệnh mắc từ thời trẻ ở Pa-ri trở nặng từ năm 1878 thành chứng tabes, một biến chứng thần kinh của bệnh giang mai làm tổn thương tủy sống. Ông đau đớn triền miên, phải chống nạng, trải qua nhiều đợt chữa trị và phẫu thuật. Những ghi chép về nỗi đau ấy được in sau khi ông mất với tên La Doulou (Nỗi đau); năm 2003, nhà văn Anh Giu-li-an Bác-nơ dịch sang tiếng Anh.
Ông vẫn viết và in sách đến năm 1895. Ngày 16/12/1897, ông mất tại nhà riêng ở phố Đại học, Pa-ri, năm 57 tuổi, được an táng ở nghĩa trang Pe-la-se; Ê-min Dô-la đọc điếu văn.
Những điều ít được nhắc đến trong sách vở
Bên cạnh người kể chuyện hiền hậu của Buổi học cuối cùng, có một Đô-đê khác mà tài liệu tiếng Việt ít nhắc. Ông theo phe bảo hoàng, chống nền Cộng hòa. Cả Wikipedia tiếng Anh và tiếng Pháp đều ghi ông có tư tưởng bài Do Thái: năm 1886, ông cho Ê-đu-a Đờ-ruy-mông vay tiền để tự xuất bản cuốn sách bài Do Thái Nước Pháp Do Thái, rồi làm người làm chứng cho Đờ-ruy-mông trong một cuộc đấu kiếm. Ông mất giữa lúc vụ Đờ-rây-phuýt đang chia rẽ nước Pháp, đứng ở phía chống Đờ-rây-phuýt, trong khi người đọc điếu văn cho ông, Dô-la, là người bênh vực Đờ-rây-phuýt quyết liệt nhất.
Nhắc những điều này không nhằm hạ thấp các trang văn ông để lại. Nó giúp người đọc hiểu rằng một tác phẩm có thể vượt lên trên những giới hạn của chính tác giả.
Đô-đê trong sách giáo khoa: Buổi học cuối cùng
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Buổi học cuối cùng | Ngữ văn 7 Cánh diều, tập 1 – Bài 1 (Truyện ngắn và tiểu thuyết) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Buổi học cuối cùng | Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 8 (Đất nước và con người), đọc mở rộng | Tóm tắt · Phân tích |
Truyện kể qua lời chú bé Phrăng, buổi sáng đến lớp muộn và ngạc nhiên thấy lớp học khác thường: thầy Ha-men mặc lễ phục, các cụ già trong làng ngồi ở cuối lớp. Thầy báo đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng, vì từ mai trường ở An-dát chỉ được dạy tiếng Đức. Cái hay của truyện nằm ở chỗ để một cậu bé lười học kể lại; sự hối hận muộn màng của Phrăng khiến bài học về tiếng mẹ đẻ không thành lời răn dạy khô khan.
Nguyên tác tiếng Pháp đã thuộc phạm vi công cộng, nhưng bản dịch in trong sách giáo khoa còn được bảo hộ, vì vậy các bài trên Văn VN chỉ tóm lược và phân tích. Khi học, có thể đặt truyện cạnh hoàn cảnh ra đời: được viết chỉ vài năm sau khi An-dát mất vào tay Đức, nó vừa là văn chương vừa là một lời khẳng định của người Pháp về vùng đất ấy.