Mở bài Trao duyên là phần dẫn vào bài nghị luận về đoạn trích Truyện Kiều của Nguyễn Du, văn bản học ở sách Ngữ văn 11 Kết nối tri thức (Bài 6), Chân trời sáng tạo (Bài 7) và Cánh diều (Bài 2). Mở bài cần nêu được tác giả, vị trí đoạn trích (câu 723–756) và vấn đề mà đề bài hỏi, chẳng hạn bi kịch tình yêu hay diễn biến tâm trạng Thúy Kiều. Dưới đây là 14 mẫu mở bài đã viết hoàn chỉnh, gồm trực tiếp, gián tiếp, nâng cao và mẫu riêng cho từng phần của đoạn trích.
Để mở bài nêu đúng vị trí đoạn trích, em có thể xem lại phần tìm hiểu văn bản trong bài soạn Trao duyên sách Cánh diều.

Cách viết mở bài Trao duyên
- Giới thiệu Nguyễn Du bằng một nét tiêu biểu: đỉnh cao thơ ca thời trung đại, được UNESCO tôn vinh, bậc thầy soi thấu nội tâm con người.
- Nói rõ vị trí: Trao duyên gồm 34 câu (câu 723 tới 756), thuộc phần Gia biến và lưu lạc, kể việc Kiều cậy Vân nối duyên cùng Kim Trọng.
- Câu chốt phải khớp đề: đề 12 câu đầu nói về lời thuyết phục; đề 14 câu tiếp nói về kỉ vật và lời dặn; đề 8 câu cuối nói về tiếng khóc hướng về Kim Trọng.
- Trích thơ theo đúng bản trong SGK (ví dụ “Keo loan chắp mối tơ thừa”, “Chiếc vành với bức tờ mây”), tránh nhầm với các dị bản.
- Không kể lại cả cốt truyện Truyện Kiều; một câu về cảnh gia biến là đủ.
Mở bài trực tiếp Trao duyên
Mẫu 1 – ngắn gọn
Trao duyên thuộc số những đoạn thơ lay động lòng người nhất của Truyện Kiều, kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du. Đoạn thơ ghi lại đêm Thúy Kiều nhờ em gái thay mình kết duyên với Kim Trọng trước khi theo Mã Giám Sinh. Qua những lời nhờ cậy, dặn dò và than khóc của Kiều, người đọc nhận ra nỗi đau tình yêu tan vỡ cùng phẩm cách đáng quý của nàng Kiều tài sắc vẹn toàn.
Mẫu 2 – giới thiệu đầy đủ tác giả, tác phẩm, đoạn trích
Nguyễn Du (1765–1820), tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê ở Tiên Điền (Nghi Xuân, Hà Tĩnh). Ông là nhà thơ kiệt xuất của dân tộc; kỉ niệm 250 năm năm sinh của ông (2015) từng được Đại hội đồng UNESCO đưa vào danh sách các ngày kỉ niệm. Kiệt tác Truyện Kiều, tên chữ là Đoạn trường tân thanh, gồm 3.254 câu lục bát viết bằng chữ Nôm. Ông dựa vào cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng sáng tạo lại thành một khúc ca thương xót con người và một bản cáo trạng đanh thép với xã hội cũ. Trao duyên thuộc phần Gia biến và lưu lạc, trải từ câu 723 tới câu 756. Bán mình lấy tiền cứu cha xong, trong đêm cuối cùng ở nhà, Thúy Kiều nhờ Thúy Vân thay mình đền đáp mối tình với Kim Trọng. Đoạn trích làm hiện rõ nỗi đau tình yêu dang dở, thân phận bị dập vùi và tâm hồn biết quên mình của nàng Kiều.
Mở bài gián tiếp Trao duyên
Mẫu 3 – từ sức sống của Truyện Kiều
Hơn hai trăm năm qua, Truyện Kiều vẫn sống trong đời sống người Việt theo những cách rất riêng: người bình dân lẩy Kiều, bói Kiều, ngâm Kiều; giới nghiên cứu viết về nó không biết bao nhiêu trang sách; nhiều thứ tiếng trên thế giới đã có bản dịch. Có được sức sống ấy là nhờ Nguyễn Du viết bằng cả tấm lòng thương người sâu nặng và một tài năng ngôn ngữ hiếm có. Trong những đoạn thơ làm nên giá trị của thiên kiệt tác, Trao duyên luôn được nhắc tới đầu tiên khi bàn về tài soi vào nội tâm nhân vật. Chỉ với ba mươi tư câu thơ, Nguyễn Du đã dựng lên một cơn giằng xé dữ dội trong lòng Thúy Kiều, khi nàng buộc phải nhường lại cho em mối tình đầu đẹp nhất đời mình.
Mẫu 4 – từ nghịch lí của hai chữ trao duyên
Trong ca dao, truyện thơ, trao duyên thường là khoảnh khắc ngọt ngào khi đôi trai gái trao cho nhau lời ước hẹn. Vậy mà ở Truyện Kiều, cuộc trao duyên lại diễn ra giữa hai chị em, trong nước mắt và sự tuyệt vọng. Người trao là Thúy Kiều, người nhận là Thúy Vân, còn mối duyên được trao là tình yêu Kiều đã thề nguyền cùng Kim Trọng. Nghịch lí ấy làm nên sức ám ảnh của đoạn trích Trao duyên. Qua lời nhờ cậy, cách trao kỉ vật và tiếng than khóc của Kiều, Nguyễn Du cho người đọc thấy một bi kịch tình yêu đau đớn và một tâm hồn biết quên mình vì người khác.
Mẫu 5 – từ nhan đề Đoạn trường tân thanh
Nguyễn Du đặt cho tác phẩm của mình cái tên Đoạn trường tân thanh, ý là khúc ca mới kể chuyện đau đứt ruột. Quãng mười lăm năm Thúy Kiều trôi dạt chính là một chuỗi những nỗi đau như thế, và Trao duyên chính là khúc mở màn. Trước đó, Kiều còn sống êm ấm bên gia đình, vừa nếm trải mối tình đầu trong sáng với Kim Trọng; sau đêm trao duyên, nàng phải bước vào những năm tháng bị chà đạp, đọa đày. Đoạn trích vì thế không chỉ ghi lại một cuộc chia tay tình yêu mà còn đánh dấu bước ngoặt bi thảm của cả số phận nàng Kiều, đồng thời cho thấy tấm lòng xót thương vô hạn của Nguyễn Du.
Mẫu 6 – từ cảm hứng nhân đạo về thân phận người phụ nữ
Đứng trước nấm mồ Đạm Tiên, Thúy Kiều đã thốt lên: “Đau đớn thay phận đàn bà”. Câu thơ như một lời tiên báo cho chính cuộc đời nàng và cũng là tiếng nói của Nguyễn Du về số kiếp những người đàn bà dưới chế độ phong kiến. Tài sắc vẹn toàn, hiếu thảo, nặng tình, vậy mà Kiều không được giữ lấy hạnh phúc của riêng mình. Đoạn trích Trao duyên ghi lại khoảnh khắc nàng buộc phải buông tay mối tình đầu để làm tròn chữ hiếu. Qua đó, Nguyễn Du vừa xót thương cho bi kịch của một cô gái tài hoa, vừa trân trọng vẻ đẹp tâm hồn giàu đức hi sinh của nàng.
Mẫu 7 – từ tài năng miêu tả tâm lí của Nguyễn Du
Nguyễn Du được xem là bậc thầy trong việc khám phá thế giới bên trong con người. Ông ít tả hành động mà đi sâu vào những rung động, giằng co trong lòng nhân vật, dùng lời thoại và độc thoại để nhân vật tự bộc lộ mình. Trao duyên là nơi tài năng ấy bộc lộ trọn vẹn hơn cả. Chỉ là lời Kiều nói với Thúy Vân trong một đêm, nhưng giọng nói ấy biến đổi liên tục: lúc tỉnh táo, khôn khéo thuyết phục, lúc nghẹn ngào trao kỉ vật, rồi đến khi quên cả người đang nghe để gọi tên người yêu vắng mặt. Theo dõi những biến chuyển đó, ta sẽ thấm thía nỗi đau và tấm lòng của Thúy Kiều trong đêm trao duyên.
Mẫu 8 – từ hoàn cảnh chữ hiếu và chữ tình
Đời người có những lúc phải chọn giữa hai điều mình đều yêu quý. Với Thúy Kiều, đó là khi cha và em trai bị bắt oan, gia đình tan nát chỉ vì lời vu khống của thằng bán tơ. Để cứu cha, nàng chấp nhận bán mình, đặt chữ hiếu lên trên chữ tình. Nhưng mối tình với Kim Trọng cùng những lời thề dưới trăng vẫn còn đó, khiến nàng không thể yên lòng ra đi. Trao duyên ra đời từ chính hoàn cảnh éo le ấy. Đoạn trích của Nguyễn Du là cuộc giằng xé giữa lí trí tỉnh táo và trái tim yêu thương, giữa bổn phận và hạnh phúc riêng, qua đó hiện lên một Thúy Kiều vừa đau đớn tột cùng vừa cao thượng đến xót xa.
Mẫu 9 – so sánh với Độc Tiểu Thanh kí
Trong sách Ngữ văn 11, Trao duyên được học cùng bài thơ chữ Hán Độc Tiểu Thanh kí, và đặt hai văn bản cạnh nhau, ta càng hiểu tấm lòng Nguyễn Du. Ở Độc Tiểu Thanh kí, ông khóc cho nàng Tiểu Thanh tài hoa mà bạc mệnh, rồi tự hỏi không biết hậu thế có ai khóc cho mình. Ở Trao duyên, ông để Thúy Kiều tự khóc cho mình bằng những lời đứt ruột. Hai nhân vật khác nhau, nhưng đều là những người phụ nữ có tài, có sắc mà không được hưởng hạnh phúc. Đoạn trích Trao duyên vì vậy là một biểu hiện sâu sắc của nỗi đau trước số phận con người, nỗi đau đã làm nên chủ nghĩa nhân đạo trong sáng tác của Nguyễn Du.
Mẫu 10 – từ lời bình của Mộng Liên Đường
Từ thế kỉ XIX, Mộng Liên Đường chủ nhân khi viết lời tựa cho Truyện Kiều đã nhận xét rằng những trang Nguyễn Du viết về nỗi khổ của nàng Kiều như thấm đẫm máu và nước mắt, khiến ai đọc cũng phải đau lòng. Có lẽ không đoạn nào làm lời bình ấy hiện lên rõ hơn Trao duyên. Ở đây, Kiều chưa bị đánh đập, cũng chưa bị đưa vào lầu xanh, vậy mà nỗi đau của nàng vẫn lớn đến mức kết thúc bằng một cơn ngất lịm. Đó là nỗi đau của người phải tự tay chôn vùi tình yêu của mình. Đi vào đoạn trích, ta sẽ thấy Nguyễn Du đã thấu hiểu và nâng niu con người đến nhường nào.
Mở bài Trao duyên theo từng phần đoạn trích
Mẫu 11 – đề phân tích 12 câu thơ đầu
Mười hai câu thơ đầu của Trao duyên là lời Thúy Kiều nhờ cậy và thuyết phục em gái. Nàng mở lời bằng một hành động khác thường: “Cậy em, em có chịu lời / Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Người chị lạy em, nói năng trang trọng, bởi điều nàng sắp nói hệ trọng hơn mọi lễ nghi thông thường. Kiều kể lại mối tình với Kim Trọng, nói rõ hoàn cảnh éo le của mình, rồi viện đến tình máu mủ để Vân không thể từ chối. Phân tích đoạn thơ của Nguyễn Du, ta sẽ thấy sự sắc sảo, khéo léo trong lời nói và nỗi đau âm thầm phía sau vẻ tỉnh táo của Thúy Kiều.
Mẫu 12 – đề phân tích 14 câu thơ trao kỉ vật
Khi Thúy Vân đã nhận lời, tưởng như Thúy Kiều sẽ nhẹ lòng, nhưng chính lúc trao kỉ vật, nỗi đau của nàng mới thật sự trào lên. Những vật gắn với mối tình đầu lần lượt được trao đi: “Chiếc vành với bức tờ mây / Duyên này thì giữ vật này của chung”. Lời dặn dò bắt đầu rành mạch nhưng càng lúc càng nghiêng về phía cái chết, về hình ảnh linh hồn oan khuất trở về trong gió. Mười bốn câu thơ ấy cho thấy Kiều trao duyên mà lòng không thể dứt tình, và mở ra trong Trao duyên một thế giới nội tâm đầy mâu thuẫn, giằng xé.
Mẫu 13 – đề phân tích 8 câu thơ cuối
Tám câu thơ cuối của Trao duyên là lúc Thúy Kiều không còn nói với Thúy Vân nữa. Nàng quay vào lòng mình, nghĩ về mối tình đã tan vỡ và với người yêu đang ở phương xa. Hàng loạt thành ngữ gợi cảnh đổ vỡ, dở dang nối nhau xuất hiện, để rồi kết lại bằng tiếng kêu xé lòng: “Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! / Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”. Từ chỗ coi mình là người bạc mệnh, Kiều tự nhận mình là kẻ phụ tình. Đi vào đoạn thơ, ta sẽ cảm nhận tận cùng bi kịch của nàng Kiều và tấm lòng cao thượng của một người đến phút đau đớn nhất vẫn lo cho kẻ khác hơn cho bản thân.
Mở bài Trao duyên nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 14 – từ quan niệm tài mệnh tương đố
Người xưa thường nói tài hoa đi liền với bạc mệnh, và Nguyễn Du đã mở đầu Truyện Kiều bằng chính nỗi trăn trở ấy: “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”. Thúy Kiều là hiện thân đầy đủ nhất của định mệnh nghiệt ngã đó: nhan sắc khiến hoa ghen liễu hờn, tiếng đàn khiến người nghe não lòng, vậy mà hạnh phúc của nàng vỡ tan ngay khi vừa chớm nở. Đoạn trích Trao duyên là thời khắc định mệnh ấy hiện hình rõ nhất. Một người con gái giàu yêu thương phải tự tay trao đi mối tình đầu, rồi gục ngã khi nhận ra mình đã mất tất cả. Qua đó, Nguyễn Du đâu chỉ thuật lại một mối tình dở dang mà còn cất lên tiếng nói nhân đạo sâu sắc: đòi quyền hạnh phúc cho con người, nhất là những người phụ nữ tài sắc mà bất hạnh trong xã hội cũ.
Nên chọn mẫu mở bài Trao duyên nào?
Các mẫu mở bài Trao duyên ở trên đều giới thiệu đúng Nguyễn Du, vị trí đoạn trích trong Truyện Kiều và dẫn vào vấn đề cần nghị luận. Với đề phân tích cả đoạn trích, em có thể dùng mẫu trực tiếp hoặc gián tiếp; với đề 12 câu đầu, đoạn trao kỉ vật hay 8 câu cuối, nên chọn mẫu theo phần để câu chốt đúng trọng tâm. Dù ôn thi học kì hay thi tốt nghiệp THPT, hãy viết lại bằng lời của mình và chuẩn bị phần kết tương xứng.
Ngoài Truyện Kiều, Nguyễn Du còn nhiều thơ chữ Hán như Thanh Hiên thi tập; xem tuyển tập thơ Nguyễn Du.
Xem thêm:
- Phân tích Trao duyên (Nguyễn Du) – dàn ý và 7 bài văn mẫu
- Soạn bài Trao duyên – Ngữ văn 11 Kết nối tri thức và Chân trời sáng tạo
- Trao duyên (Nguyễn Du): tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Tác giả Nguyễn Du: cuộc đời và sự nghiệp
- Phong cách sáng tác của Nguyễn Du
- Kết bài Trao duyên hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, liên hệ, theo đề