Cuối tháng 5/1885, linh cữu của ông được quàn tại Pa-ri cho dân chúng đến viếng. Trong hai ngày, hơn hai triệu người tìm đến, rồi đoàn tang lễ đi từ Khải Hoàn Môn đưa ông về điện Păng-tê-ông, nơi an nghỉ của những người con lớn của nước Pháp. Đó là Vích-to Huy-gô. Vích-to Huy-gô (Victor Hugo, 1802 – 1885) là nhà thơ, nhà viết kịch, tiểu thuyết gia và chính khách Pháp, thủ lĩnh của chủ nghĩa lãng mạn Pháp, tác giả Nhà thờ Đức Bà Pa-ri và Những người khốn khổ. Học sinh Việt Nam học ông ở lớp 10 và lớp 11.
Con trai viên tướng của Na-pô-lê-ông

| Tên đầy đủ | Victor-Marie Hugo (Vích-to Ma-ri Huy-gô) |
| Năm sinh – năm mất | 26/2/1802 – 22/5/1885 |
| Quê quán | Bơ-dăng-xông (Besançon), miền đông nước Pháp; mất tại Pa-ri, an táng ở điện Păng-tê-ông |
| Thể loại | Thơ, kịch, tiểu thuyết, chính luận; vẽ tranh mực |
| Tác phẩm tiêu biểu | Kịch Cờ-rôm-oen (1827), Éc-na-ni (1830); tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Pa-ri (1831), Những người khốn khổ (1862), Những người lao động biển cả (1866), Chín mươi ba (1874); thơ Trừng phạt (1853), Trầm tư (1856), Truyền kỳ các thế kỷ |
| Chức danh | Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp (1841); nghị sĩ, thượng nghị sĩ |
| Trong SGK hiện hành | Người cầm quyền khôi phục uy quyền (Ngữ văn 10); Tấm lòng người mẹ (Ngữ văn 11) |
Ông sinh ngày 26/2/1802 ở Bơ-dăng-xông, con út trong ba người con trai của Lê-ô-pôn Huy-gô, một sĩ quan trong quân đội Na-pô-lê-ông, và bà Xô-phi Tơ-rê-buy-sê. Cha theo nền cộng hòa và hoàng đế, mẹ trung thành với dòng vua Buốc-bông bị lật đổ; hai người sống ly thân nhiều năm. Tuổi thơ của cậu bé vì thế là những chuyến đi theo cha đến các đồn trú ở Ý, Tây Ban Nha, xen với những năm ở Pa-ri cùng mẹ.
Năng khiếu và tham vọng đến rất sớm. Năm mười bốn tuổi, cậu ghi vào nhật ký mong muốn trở thành Sa-tô-bri-ăng, nhà văn lớn nhất nước Pháp lúc đó, “hoặc không là gì cả”. Năm mười lăm tuổi, bài thơ dự thi của cậu được Viện Hàn lâm Pháp khen, và theo lời kể, ban giám khảo không tin tác giả trẻ đến thế. Tập thơ đầu tay năm 1822 mang lại cho chàng trai hai mươi tuổi một khoản trợ cấp của nhà vua. Cũng năm ấy ông cưới A-đen Phu-sê, người bạn thuở nhỏ.
Trận chiến Éc-na-ni năm 1830
Năm 1827, lời tựa vở kịch Cờ-rôm-oen trở thành tuyên ngôn của kịch lãng mạn: đòi phá bỏ quy tắc “ba duy nhất” của kịch cổ điển, cho cái cao cả và cái kỳ quặc đứng cạnh nhau trên sân khấu. Ba năm sau, vở Éc-na-ni công diễn ở nhà hát Comédie-Française, chính nhà hát vẫn được gọi là “Nhà của Mô-li-e”. Ngay từ những câu thơ đầu, khán phòng chia thành hai phe. Những người trẻ theo phái lãng mạn và khán giả bảo vệ lối cổ điển la ó, cãi vã, xô xát qua nhiều đêm diễn.
Lịch sử văn học Pháp gọi những đêm ấy là “trận chiến Éc-na-ni”. Vở kịch thắng, và từ đó Huy-gô, mới hai mươi tám tuổi, được coi là người cầm cờ của chủ nghĩa lãng mạn Pháp. Trước đó một năm, ông đã in Ngày cuối cùng của một tử tù (1829), cuốn tiểu thuyết ngắn viết bằng giọng một người chờ lên máy chém, mở đầu cuộc đấu tranh chống án tử hình kéo dài suốt đời ông.
Nhà thờ Đức Bà Pa-ri cứu một nhà thờ
Nhà thờ Đức Bà Pa-ri (1831) kể chuyện thằng gù kéo chuông Qua-di-mô-đô, cô gái Di-gan Ét-mê-ran-đa và viên phó giám mục Phờ-rô-lô trong Pa-ri thế kỷ XV. Nhân vật thật sự của cuốn sách lại là ngôi nhà thờ Gô-tích, được ông tả từng tầng tháp, từng pho tượng, khi ấy đang xuống cấp nghiêm trọng. Sách nhanh chóng được dịch ra nhiều thứ tiếng châu Âu. Theo Wikipedia tiếng Anh, sự nổi tiếng của cuốn tiểu thuyết và dòng du khách kéo đến thăm nhà thờ đã khiến chính quyền Pa-ri phải bắt tay trùng tu công trình.
Những năm 1830 là thời ông viết sung sức nhất: liên tiếp năm tập thơ trữ tình, các vở kịch Ma-ri-ông Đờ-lô-mơ, Nhà vua vui chơi, Ruy Blát. Năm 1841, sau ba lần trượt, ông được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp, rồi được vua Lu-i Phi-líp phong làm nghị sĩ Thượng viện, nơi ông lên tiếng chống án tử hình và bênh vực tự do báo chí.
Ngày 4/9/1843 ở Vi-lơ-ki-ê
Ngày 4/9/1843, con gái lớn của ông, Lê-ô-pôn-đin, chết đuối cùng chồng khi thuyền bị lật trên sông Xen ở Vi-lơ-ki-ê. Lúc ấy Huy-gô đang du lịch ở vùng núi Py-rê-nê và chỉ biết tin qua một tờ báo khi dừng chân ở Rô-sơ-pho.
Nỗi đau ấy về sau thành nhiều bài thơ trong tập Trầm tư (1856), trong đó có bài Ngày mai, lúc rạng đông: người cha kể chuyến đi bộ qua rừng, qua núi, không nhìn gì, không nghe gì, để đến đặt một bó hoa lên mộ con.
Mười chín năm không về nước: Giơ-xây, Gơn-xi và ngôi nhà Ô-tơ-vin
Thời trẻ Huy-gô theo phe bảo hoàng, nhưng càng về sau ông càng ngả hẳn về phía cộng hòa. Năm 1848 ông vào Quốc hội; năm 1849, bài diễn văn đòi xóa bỏ cảnh khốn cùng khiến ông đoạn tuyệt với phe bảo thủ. Ngày 2/12/1851, Lu-i Na-pô-lê-ông Bô-na-pác đảo chính, sau đó lên ngôi hoàng đế Na-pô-lê-ông III. Huy-gô công khai gọi ông ta là kẻ phản bội nước Pháp và phải chạy sang Bỉ.
Từ Brúc-xen, ông viết cuốn đả kích Na-pô-lê-ông bé nhỏ (1852), bị cấm ở Pháp nhưng vẫn được lén chuyền tay. Ông sang đảo Giơ-xây (1852 – 1855), bị trục xuất, rồi cuối tháng 10/1855 dời sang đảo Gơn-xi của Anh trên eo biển Măng-sơ. Tiền nhuận bút tập Trầm tư đủ để ông mua ngôi nhà Ô-tơ-vin (Hauteville House) năm 1856, nơi ông sống và viết đến năm 1870.
Năm 1859, Na-pô-lê-ông III ân xá cho các nhà chính trị lưu vong. Huy-gô từ chối, vì nhận ân xá đồng nghĩa với việc phải im lặng. Chỉ khi đế chế sụp đổ năm 1870, ông mới trở về và được dân Pa-ri đón như người hùng. Ông ở lại thành phố trong suốt cuộc vây hãm của quân Phổ, ăn cả thịt thú trong vườn bách thú như mọi người dân.

Những người khốn khổ: mười bảy năm cho một cuốn tiểu thuyết
Ý tưởng về một cuốn tiểu thuyết lớn về sự khốn cùng có từ những năm 1830. Năm 1839, ông đến nhà tù khổ sai Tu-lông, ghi chép rất nhiều; trên một trang ghi chép, ông viết hoa cái tên dự định cho nhân vật chính: Giăng Tơ-rê-giăng, sau đổi thành Giăng Van-giăng. Ông bắt tay viết từ năm 1845, bỏ dở vì chính trị và lưu đày, rồi hoàn thành ở Gơn-xi. Tính từ lúc ấp ủ, cuốn sách mất khoảng mười bảy năm.
Năm 1862, nhà xuất bản Bỉ La-croa và Véc-bô-khô-ven mua bản quyền với giá cao và quảng bá rầm rộ từ sáu tháng trước. Phần đầu, Phăng-tin, phát hành cùng lúc ở nhiều thành phố và bán hết trong vài giờ. Giới phê bình phần lớn chê; Phlô-be, anh em Gông-cua, Bô-đơ-le đều có lời khắt khe. Người đọc thì khác hẳn, và những vấn đề cuốn sách đặt ra như trẻ em lang thang, người tù mãn hạn, phụ nữ cùng đường nhanh chóng được đem ra bàn ở Quốc hội.
Có một giai thoại khó kiểm chứng: đang đi nghỉ, ông đánh điện cho nhà xuất bản chỉ một dấu “?” để hỏi sách bán ra sao, và nhận lại một dấu “!”. Một chi tiết khác có thật hơn: số tù 24601 của Giăng Van-giăng được cho là ứng với ngày 24/6/1801, ngày Huy-gô tin rằng mình được thụ thai.
Người chống án tử hình và bốn nghìn bức vẽ
Trong Quốc hội, trên báo, trong nhật ký Những điều đã thấy, ông chưa bao giờ ngừng chống án tử hình. Năm 1848, ông kết một bài diễn văn bằng lời kêu gọi: các ông đã lật đổ ngai vàng, giờ hãy lật đổ đoạn đầu đài. Ông viết thư xin tha cho người chống chế độ nô lệ John Brown ở Mỹ (1859), lên tiếng cho những người Công xã bị đàn áp năm 1871 đến mức một đám đông kéo đến vây nhà ông ở Brúc-xen, hô đòi treo cổ ông. Ông cũng là thành viên sáng lập Hội Văn học và Nghệ thuật Quốc tế, tổ chức dẫn đến Công ước Béc-nơ về bản quyền.
Ít ai biết ông còn là một họa sĩ nghiệp dư rất đáng nể, với gần bốn nghìn bức vẽ, phần lớn bằng mực; thời gian 1848 – 1851, khi dồn sức cho chính trị, vẽ gần như là cách sáng tạo duy nhất của ông. Ông mất ngày 22/5/1885 tại Pa-ri, thọ 83 tuổi; di chúc dặn không cần linh mục làm lễ. Ngày 1/6/1885, linh cữu được đưa vào điện Păng-tê-ông.
Huy-gô trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 và 11
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Người cầm quyền khôi phục uy quyền (trích Những người khốn khổ) | Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 7 (Quyền năng của người kể chuyện) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Tấm lòng người mẹ (trích Những người khốn khổ) | Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 1 – Bài 3 (Truyện), thực hành đọc hiểu | — |
Đoạn trích lớp 10 là chương thanh tra Gia-ve đến bắt ông thị trưởng Ma-đơ-len, tức Giăng Van-giăng, ngay bên giường bệnh của Phăng-tin; nhan đề dịch từ tên chương gốc. Bài học đặt trọng tâm vào người kể chuyện: một người kể biết hết, đứng ngoài nhưng không trung lập, liên tục bình luận và đứng về phía những người khốn khổ. Bản dịch in trong sách còn được bảo hộ, các bài trên Văn VN chỉ tóm lược; xem tóm tắt Người cầm quyền khôi phục uy quyền và Những người khốn khổ để nắm toàn bộ cốt truyện, và bài phân tích đoạn trích khi làm bài viết.
Khi đọc, có thể đặt hai nhân vật đối diện nhau như chính Huy-gô đã làm: Gia-ve là pháp luật không có lòng thương, Giăng Van-giăng là một kẻ từng bị luật pháp nghiền nát nay sống bằng lòng nhân. Ở trận chiến Éc-na-ni, ông từng đem kịch của mình vào nhà hát của Mô-li-e; muốn so sánh hai thế giới sân khấu ấy, xem thêm bài giới thiệu tác giả Mô-li-e.