Ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia có một cuốn sổ tay chỉ to hơn bàn tay, bìa ghi bốn chữ Hán Ngục trung nhật ký và một hình vẽ hai cổ tay bị xiềng. Người viết cuốn sổ ấy là Hồ Chí Minh (1890 – 1969), nhà cách mạng sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và cũng là tác giả của một khối văn chương trải dài hơn nửa thế kỷ. Học sinh gặp Người trong sách Ngữ văn từ lớp 7 đến lớp 12, qua Tuyên ngôn Độc lập, những bài thơ chữ Hán viết trong tù và những bài thơ tiếng Việt ở chiến khu Việt Bắc.
Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc: mỗi cái tên một chặng đường

| Tên khai sinh | Nguyễn Sinh Cung; khi đi học lấy tên Nguyễn Tất Thành |
| Tên gọi, bút danh khác | Văn Ba, Nguyễn Ái Quốc, Già Thu, Hồ Chí Minh, Trần Dân Tiên, T. Lan… |
| Năm sinh – năm mất | 19/5/1890 – 2/9/1969 |
| Quê quán | Làng Kim Liên (làng Sen), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; sinh ở quê ngoại làng Hoàng Trù (làng Chùa) |
| Thể loại | Văn chính luận; truyện và kí (phần lớn viết bằng tiếng Pháp); thơ chữ Hán và thơ tiếng Việt |
| Tác phẩm tiêu biểu | Bản án chế độ thực dân Pháp, Vi hành, Đường Kách mệnh, Nhật ký trong tù, Tuyên ngôn Độc lập, Cảnh khuya, Di chúc |
| Trong SGK hiện hành | Ngữ văn 7, 8, 12 (cả ba bộ sách); Ngữ văn 12 có hẳn một bài học về tác gia Hồ Chí Minh |
Cha của Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc, một nhà Nho đỗ Phó bảng; mẹ là bà Hoàng Thị Loan, mất năm 1901 khi cậu con trai thứ ba mới mười một tuổi. Sau khi cha đỗ đạt, hai anh em được đặt tên mới để “vào làng”: người anh là Tất Đạt, cậu em là Tất Thành. Chữ Hán học ở quê, rồi những năm theo cha vào Huế học trường Pháp – Việt Đông Ba và trường Quốc Học, cho Người hai vốn chữ mà về sau đều dùng để viết.
Ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành lấy tên Văn Ba, xuống tàu Đô đốc Latouche-Tréville ở bến Nhà Rồng làm phụ bếp để sang Pháp. Từ đó, gần như mỗi giai đoạn hoạt động lại gắn với một cái tên khác. Tên Nguyễn Ái Quốc xuất hiện ở Paris năm 1919; tên Hồ Chí Minh được dùng công khai từ năm 1942, in trên tấm danh thiếp Người mang theo khi sang Trung Quốc. Wikipedia tiếng Việt, dẫn báo Thể thao & Văn hóa, thống kê riêng bút danh đã là 173 cái. Ai muốn tra từng bút danh theo năm có thể đọc bài tổng hợp bút danh, bút hiệu của Hồ Chí Minh.
Paris những năm 1920: học viết báo, viết truyện bằng tiếng Pháp
Văn nghiệp của Hồ Chí Minh bắt đầu ở một nơi ít ai ngờ: các tòa soạn báo ở Paris. Tháng 6/1919, thay mặt nhóm người Việt yêu nước, Người gửi tới Hội nghị Versailles bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm tám điểm, ký tên Nguyễn Ái Quốc. Năm 1921, Người cùng một số người từ các thuộc địa lập Hội Liên hiệp thuộc địa; ngày 1/4/1922, tờ Le Paria (Người cùng khổ) ra số đầu, Người làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, tự vẽ cả tranh biếm họa cho báo.
Song song với những bài báo tố cáo, Nguyễn Ái Quốc viết một loạt truyện ngắn và kí châm biếm, đăng trên Le Paria và L’Humanité (Nhân đạo):
| Năm | Tác phẩm | Ghi chú |
|---|---|---|
| 1922 | Pa-ri; Lời than vãn của bà Trưng Trắc; Con người biết mùi hun khói | Truyện, kí ngắn bằng tiếng Pháp |
| 1922 | Con rồng tre | Vở kịch chế giễu chuyến sang Pháp dự đấu xảo của vua Khải Định |
| 1923 | Vi hành | Truyện ngắn viết dưới dạng một bức thư, cũng nhằm vào Khải Định |
| 1925 | Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu | Truyện ngắn trào phúng, viết khi Phan Bội Châu bị bắt |
Đọc lại hôm nay, các truyện này hiện đại đến bất ngờ: lối kể giễu nhại, nhân vật bị đặt vào tình huống trớ trêu, giọng văn lạnh mà sắc. Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu còn là một cuộc gặp giữa hai thế hệ yêu nước: nhà văn trẻ dựng truyện để bênh vực nhà chí sĩ Phan Bội Châu đang bị giam, chế giễu viên Toàn quyền Va-ren hứa hão. Bài Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu: tác giả, tác phẩm tóm lược từng phần của truyện và hoàn cảnh ra đời.
Văn chính luận: từ Bản án chế độ thực dân Pháp đến Tuyên ngôn Độc lập
Mảng văn chiếm khối lượng lớn nhất trong di sản Hồ Chí Minh là chính luận. Năm 1925, cuốn Le Procès de la colonisation française (Bản án chế độ thực dân Pháp) in ở Paris, gồm 12 chương và một phụ lục Gửi thanh niên Việt Nam. Những tên chương như “Thuế máu”, “Việc đầu độc người bản xứ”, “Nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ” cho thấy cách viết của Người: mỗi chương là một bằng chứng, xếp lại thành bản cáo trạng. Đến năm 1960 sách mới có bản tiếng Việt.
Năm 1927, những bài giảng cho các lớp huấn luyện thanh niên ở Quảng Châu được in thành cuốn Đường Kách mệnh. Sách mở đầu bằng mục “Tư cách một người cách mệnh”, lời lẽ ngắn, rõ, có khi đánh số từng điều để người ít chữ cũng đọc được.
Đỉnh cao của mảng này là bản Tuyên ngôn Độc lập, Người đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945. Văn bản mở đầu bằng những câu trích Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791, rồi dùng chính lý lẽ ấy để kết tội thực dân Pháp. Muốn nắm bố cục và lập luận, bạn đọc xem bài Tuyên ngôn Độc lập: tác giả, tác phẩm hoặc phân tích Tuyên ngôn Độc lập.
Sau năm 1945, chính luận của Người đổi đối tượng: không còn chủ yếu viết cho độc giả Pháp mà nói với đồng bào trong nước. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), báo cáo chính trị năm 1951 có đoạn sau này được trích thành bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, lời kêu gọi năm 1966 với câu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đều ngắn, nhịp mạnh, dễ đọc to trước đám đông.
Mười bốn tháng, mười tám nhà lao và 133 bài thơ chữ Hán
Cuối tháng 8/1942, trên đường sang Trùng Khánh để tranh thủ sự ủng hộ cho Việt Minh, Hồ Chí Minh bị chính quyền địa phương ở Quảng Tây bắt vì nghi là gián điệp. Hơn một năm sau đó, Người bị giải qua mười tám nhà lao thuộc 13 huyện của Quảng Tây (con số theo chính tập thơ; Wikipedia ghi khoảng 30 nhà tù). Trong cuốn sổ tay khổ 12,5 × 9,5 cm, Người chép dần 133 bài thơ chữ Hán, phần lớn theo thể tứ tuyệt Đường luật.
Một chi tiết cho thấy sự cẩn trọng của người tù: ở bìa sổ, thời gian viết được ghi lệch đi mười năm thành 29/8/1932 – 10/9/1933, còn ở tờ cuối, ngay trên chữ “Hoàn” (hết), Người mới ghi đúng 29/8/1942 – 10/9/1943. Bốn câu đề từ ở bìa không được đánh số, nên có sách tính thành 134 bài.

Tập thơ ghi lại đời sống trong tù rất cụ thể: cùm chân, rệp, ghẻ lở, những bạn tù, những lần bị giải đi lúc trời chưa sáng. Nhưng xen giữa là những bài thiên nhiên đầy ánh sáng. Bài Mộ (Chiều tối) là ví dụ hay được nhắc:
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không;
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.
Tạm dịch nghĩa: chim mỏi bay về rừng tìm cây ngủ, chòm mây lẻ lững lờ trôi qua lưng trời; cô gái xóm núi xay ngô, ngô xay vừa xong thì lò than đã đỏ. Bốn câu đi từ cảnh chiều sang cảnh tối, kết thúc bằng một chữ “hồng” ấm áp, trong khi người làm thơ đang bị giải đi trên đường núi. Phân tích kỹ hơn có ở bài phân tích bài thơ Chiều tối.
Từ năm 1960, tập thơ được dịch ra tiếng Việt và in nhiều lần, rồi được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ngày 1/10/2012, Thủ tướng Chính phủ công nhận bản gốc Ngục trung nhật ký là bảo vật quốc gia.
Thơ viết ở Pác Bó và chiến khu Việt Bắc
Ngày 8/2/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, ở hang Cốc Bó, bản Pác Bó (Cao Bằng) với bí danh Già Thu; con suối trước hang được Người đặt tên là suối Lê-nin. Bài Tức cảnh Pác Bó ra đời trong những ngày ấy, giọng vui, hóm, coi cái thiếu thốn của “cháo bẹ, rau măng” là chuyện thường.
Những năm kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc là thời gian Người viết nhiều thơ tiếng Việt và chữ Hán nhất sau tập thơ trong tù. Năm 1947 có Cảnh khuya, bài thơ tứ tuyệt bằng tiếng Việt mà nhiều thế hệ học sinh thuộc lòng:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Câu thứ ba lặp chữ “chưa ngủ” để bẻ mạch: nửa đầu bài là thi sĩ ngắm trăng, nửa sau là người đứng đầu cuộc kháng chiến thao thức. Năm 1948 có Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng), viết bằng chữ Hán, kể chuyện bàn việc quân giữa đêm trăng trên sông. Có thể đọc thêm bài Cảnh khuya: tác giả, tác phẩm và tuyển chọn những bài thơ Hồ Chí Minh, gồm cả các bài thơ chúc Tết Người viết hằng năm.
Ba lối viết trong một ngòi bút
Với Hồ Chí Minh, viết trước hết là để phục vụ cách mạng, nên mỗi mảng có một giọng riêng: chính luận chặt chẽ, truyện kí bằng tiếng Pháp châm biếm sắc sảo, thơ chữ Hán hàm súc theo lối cổ điển. Đặc điểm ấy được bàn kỹ trong bài phong cách sáng tác của Hồ Chí Minh.
Tác phẩm của Hồ Chí Minh trong sách giáo khoa Ngữ văn
| Văn bản | Sách – bài học | Bài trên Văn VN |
|---|---|---|
| Tinh thần yêu nước của nhân dân ta | Ngữ văn 7 Cánh diều, tập 2 – Bài 8; Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 3 | Soạn bài |
| Lòng yêu nước của nhân dân ta | Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 6 (đọc kết nối chủ điểm) | Soạn bài |
| Lai Tân | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 4 | Soạn bài Lai Tân |
| Cảnh khuya | Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 2 – Bài 7; Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 6 | Soạn bài Cảnh khuya |
| Tác gia Hồ Chí Minh / Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: cuộc đời và sự nghiệp | Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 6; Ngữ văn 12 Cánh diều, tập 2 – Bài 6 | Soạn bài (KNTT) · Soạn bài (Cánh diều) |
| Tuyên ngôn Độc lập | Ngữ văn 12, tập 2 cả ba bộ sách | Soạn bài (KNTT) · (CTST) · (Cánh diều) |
| Mộ (Chiều tối), Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng) | Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 6; Nguyên tiêu còn ở Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 8 | Soạn bài Mộ, Nguyên tiêu |
| Nhật kí trong tù: Ngắm trăng, Lai Tân | Ngữ văn 12 Cánh diều, tập 2 – Bài 6 | Soạn bài |
| Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu | Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 6; Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 8 | Soạn bài (KNTT) · (CTST) |
| Cảnh rừng Việt Bắc | Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 8 (đọc mở rộng); Ngữ văn 12 Cánh diều, tập 2 – Bài 6 | Soạn bài |
Ngữ văn 12 Cánh diều còn đưa truyện Vi hành vào phần thực hành đọc hiểu. Riêng lớp 12, cả ba bộ sách đều dành gần trọn một bài học cho Hồ Chí Minh, đọc văn bản về tác gia trước rồi mới đọc từng tác phẩm, nên học sinh nắm tiểu sử và các mảng sáng tác trước sẽ đỡ vất vả khi làm bài.
Từ bản Di chúc viết năm 1965 đến nghị quyết của UNESCO
Ngày 10/5/1965, dịp tròn 75 tuổi, Người bắt đầu viết Di chúc, rồi những năm sau lại mang ra sửa vào dịp sinh nhật. Văn bản ấy, viết bằng giọng giản dị như một lá thư gửi người nhà, thường được xếp cùng Tuyên ngôn Độc lập trong số những văn bản quan trọng nhất Người để lại.
Hồ Chí Minh mất lúc 9 giờ 47 phút sáng 2/9/1969 tại Hà Nội. Vì trùng ngày Quốc khánh, ngày mất khi ấy được công bố là 3/9; đến năm 1989 mới công bố lại đúng ngày 2/9.
Năm 1987, Đại hội đồng UNESCO khóa họp thứ 24 thông qua nghị quyết kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hồ Chí Minh vào năm 1990. Ở trong nước, các tác phẩm của Người được tập hợp trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập. Với người học văn, có lẽ điều đáng nhớ nhất là sự đa dạng: cùng một ngòi bút đã viết bản cáo trạng bằng tiếng Pháp, những bài tứ tuyệt chữ Hán trong nhà lao và những bài thơ chúc Tết giản dị gửi đồng bào.
Xem thêm:
- Vi hành (Nguyễn Ái Quốc) – Ngữ văn 12: Tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Soạn bài Vi hành (Nguyễn Ái Quốc) – Ngữ văn 12 Cánh diều & Ngữ văn 11 cũ
- Phong cách Hồ Chí Minh (Lê Anh Trà) – Ngữ văn 9: Tác giả, tác phẩm, bố cục
- Thuế máu (Nguyễn Ái Quốc) – Ngữ văn 8: Tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Soạn bài Thuế máu (Nguyễn Ái Quốc) – Ngữ văn 8 chương trình cũ ngắn gọn