Tác phẩm Ngô Tất Tố là bức tranh chân thực và xót xa về nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám: mùa sưu thuế trong Tắt đèn, những hủ tục nơi đình làng trong Việc làng, chốn trường thi cuối cùng của Nho học trong Lều chõng. Là một nhà nho chuyển sang làm báo, viết văn, ông để lại di sản đồ sộ ở cả tiểu thuyết, phóng sự, dịch thuật và khảo cứu. Hãy cùng Văn VN điểm qua những tác phẩm tiêu biểu nhất của Ngô Tất Tố.
Đôi nét về nhà văn Ngô Tất Tố
Ngô Tất Tố là nhà văn, nhà báo, nhà Nho học, dịch giả và nhà nghiên cứu có ảnh hưởng lớn ở Việt Nam giai đoạn trước năm 1954. Ông được coi là cây bút hàng đầu của trào lưu hiện thực phê phán viết về người nông dân.

- Họ tên: Ngô Tất Tố, thường được gọi là “đầu xứ Tố” vì từng đỗ đầu kỳ khảo hạch toàn tỉnh Bắc Ninh năm 1915.
- Bút danh: khoảng 29 bút danh khi viết báo, như Thục Điểu, Lộc Hà, Lộc Đình, Thôn Dân, Tuệ Nhơn, Xuân Trào…
- Năm sinh – năm mất: 1893 – 20/4/1954.
- Quê quán: làng Lộc Hà, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội).
- Lĩnh vực: tiểu thuyết, phóng sự, báo chí, dịch thuật, khảo cứu triết học và văn học cổ.
- Giải thưởng: truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I (1996).
Từ năm 1898, Ngô Tất Tố được ông nội dạy chữ Hán rồi theo học ở nhiều làng trong vùng. Ông dự khoa thi Hương Ất Mão (1915) – khoa thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ – qua được kỳ đệ nhất nhưng hỏng ở kỳ đệ nhị. Năm 1926 ông ra Hà Nội làm báo, viết cho An Nam tạp chí, rồi cùng Tản Đà vào Sài Gòn một thời gian (xem thêm thơ Tản Đà). Trở lại Hà Nội, ông viết cho hàng loạt tờ báo như Thần chung, Đông Dương, Hải Phòng tuần báo, Việt nữ, Tương lai, Thời vụ, Hà Nội tân văn…
Ngòi bút đả kích quan lại, cường hào khiến ông nhiều lần bị cấm viết; năm 1939 Tắt đèn bị chính quyền thực dân cấm lưu hành và ông bị bắt giam ở Hà Nội vài tháng. Cách mạng tháng Tám thành công, ông tham gia ủy ban giải phóng ở quê, năm 1946 gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc rồi lên Việt Bắc kháng chiến, làm Chi hội trưởng Chi hội văn nghệ Việt Bắc. Ông mất ngày 20/4/1954 tại Yên Thế, Bắc Giang.
Xem tiểu sử tác giả Ngô Tất Tố – cuộc đời, sự nghiệp, phong cách và nhận định.
Ngô Tất Tố có những tác phẩm nào?
Theo một thống kê công bố năm 2005, trong 28 năm làm báo Ngô Tất Tố đã viết gần 1.500 bài cho 27 tờ báo và tạp chí. Bên cạnh mảng báo chí đồ sộ ấy là các tác phẩm văn chương và học thuật chính sau:
Tiểu thuyết
- Tắt đèn (đăng báo Việt nữ năm 1937, in thành sách năm 1939).
- Lều chõng (đăng dần trên báo Thời vụ từ năm 1939).
Phóng sự
- Tập án cái đình (1939).
- Việc làng (đăng báo Hà Nội tân văn năm 1940, in sách năm 1941).
Kịch
- Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác (1951).
Dịch thuật, khảo cứu
- Dịch Hoàng Lê nhất thống chí và nhiều thơ văn cổ Trung Hoa, trong đó có thơ Đường.
- Các công trình khảo cứu về văn học đời Lý, đời Trần và triết học cổ đại Trung Hoa.
- Phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim.

Có thể thấy, dù được biết đến nhiều nhất qua Tắt đèn, Ngô Tất Tố trước hết là một nhà báo – học giả với khối lượng viết rất lớn, và chính vốn hiểu biết ấy làm nên độ chân thực trong các trang văn về nông thôn của ông.
Những tác phẩm tiêu biểu của Ngô Tất Tố
Dưới đây là những tác phẩm quan trọng nhất, kèm các đoạn trích đang được học trong chương trình Ngữ văn hiện hành.
1/ Tắt đèn (1937–1939)
Tắt đèn đăng nhiều kỳ trên báo Việt nữ năm 1937 và được nhà xuất bản Mai Lĩnh in thành sách năm 1939. Tiểu thuyết gồm 27 chương, xoay quanh gia đình chị Dậu – một gia đình nông dân nghèo – trong những ngày làng đốc thúc thuế thân (sưu).
Anh Dậu ốm yếu bị bắt vì chưa nộp đủ sưu, chị Dậu chạy vạy khắp nơi, đến mức phải bán đứa con gái đầu lòng mới bảy tuổi cùng ổ chó để lấy tiền nộp sưu. Những cảnh bức bách ấy dẫn tới chương “Tức nước vỡ bờ” nổi tiếng. Cuối truyện, chị Dậu bỏ chạy ra ngoài bóng tối khi bị ức hiếp một lần nữa, để lại một kết thúc nhiều ám ảnh.
Tác phẩm được đánh giá rất cao ngay từ khi ra đời. Vũ Trọng Phụng, trong lời giới thiệu bản in năm 1939, khen Tắt đèn là:
“một tiểu thuyết có luận đề xã hội hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tòng lai chưa từng thấy”
Nhà phê bình Vương Trí Nhàn cũng gọi đây là thiên tiểu thuyết “rất xúc động” khiến người đọc có thể “nhiều phen ứa nước mắt”. Đến nay, cái tên “chị Dậu” đã đi vào lời ăn tiếng nói hằng ngày để chỉ cảnh nghèo khổ, bị áp bức.
2/ Tức nước vỡ bờ (chương XVIII Tắt đèn)
Đoạn trích kể lúc anh Dậu vừa tỉnh lại sau trận đòn, chị Dậu nấu cháo cho chồng thì cai lệ và người nhà lý trưởng xông vào định trói anh đi. Chị Dậu van xin nhẫn nhịn, nhưng khi cai lệ vẫn hành hạ, chị đã vùng lên chống trả quyết liệt.
Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ!
Khi chị Dậu thôi xưng “cháu” mà chuyển sang xưng “tôi” ngang hàng với cai lệ, người đọc thấy rõ sức sống tiềm tàng của người phụ nữ nông dân. Nhan đề đoạn trích mượn câu tục ngữ “tức nước vỡ bờ”: có áp bức ắt có đấu tranh.
3/ Lều chõng (từ 1939)
Lều chõng được đăng dần trên báo Thời vụ từ năm 1939, trong bối cảnh phong trào phục cổ kêu gọi trở lại nền giáo dục cũ. Tác phẩm dựng lại những ngày cuối cùng của chế độ khoa cử dưới triều Nguyễn, với bi kịch của những nhà nho có tài, trong đó có nhân vật Đào Vân Hạc.
Lời giới thiệu Lều chõng (NXB Văn học, 2002) nhận xét tác phẩm như “một bản tố cáo chế độ khoa cử lỗi thời”, thấp thoáng sau mỗi chương là “một nụ cười chế giễu”. Vương Trí Nhàn lại lưu ý đến “cái nhìn lưu luyến với quá khứ” của chính tác giả – một người từng mang lều chõng đi thi.
4/ Việc làng (1940–1941)
Việc làng là tập phóng sự đăng trên báo Hà Nội tân văn năm 1940, rồi được nhà xuất bản Mai Lĩnh in thành sách năm 1941. Tập sách gồm các thiên phóng sự nối với nhau qua người kể xưng “tôi”, ghi lại những hủ tục, lệ làng và thói tham lam của cường hào, chức dịch ở nông thôn Bắc Bộ.
Nhà nghiên cứu Phong Lê cho rằng Việc làng phản ánh “tận chiều sâu những cội rễ của cả hai mặt phong tục và hủ tục”. Hai thiên Con gà thờ và Nghệ thuật băm thịt gà trích từ tập này đang được học ở lớp 12.
5/ Con gà thờ
Con gà thờ ghi lại tục “lên lão” ở một làng quê: để làm lễ, ông chủ nhà nơi người kể ở trọ phải mua một đôi gà rồi chăm chút, nuôi nấng như thờ phụng suốt một thời gian dài. Qua sự tận tụy đến mức phi lý ấy, tác giả phê phán thói mê tín và những hủ tục lạc hậu nơi thôn quê.
Điểm đặc sắc là cách viết phóng sự: sự việc được ghi chép tỉ mỉ, khách quan, còn thái độ châm biếm của người viết hiện ra qua giọng kể điềm đạm mà sắc sảo.
6/ Nghệ thuật băm thịt gà
Thiên phóng sự tả một cảnh chia thịt gà hiếm thấy ở chốn đình trung: một con gà phải chia sao cho đủ phần các bậc chức sắc theo ngôi thứ. Tác giả gọi việc băm thịt gà là một “nghệ thuật”, người mõ băm gà như một “nghệ sĩ”, để từ đó châm biếm bọn cường hào tham lam, bần tiện, ngồi chiếu trên mà tranh nhau từng miếng ăn nhỏ.
Tác phẩm của Ngô Tất Tố trong sách giáo khoa Ngữ văn
Theo chương trình Ngữ văn 2018, Ngô Tất Tố có ba văn bản ở cả ba bộ sách:
| Văn bản | Lớp – bộ sách | Bài học |
|---|---|---|
| Tức nước vỡ bờ (trích Tắt đèn) | Lớp 8 – Cánh diều (tập 2) | Bài 8: Truyện lịch sử và tiểu thuyết (đọc mở rộng) |
| Nghệ thuật băm thịt gà (trích Việc làng) | Lớp 12 – Kết nối tri thức (tập 2) | Bài 7: Sự thật trong tác phẩm kí |
| Con gà thờ (trích Việc làng) | Lớp 12 – Chân trời sáng tạo (tập 1) | Bài 4: Sự thật và trang viết (Phóng sự, nhật kí) |
Tài liệu có sẵn trên Văn VN: Tức nước vỡ bờ – tác giả, tác phẩm (sách mới). Vị trí các bài phóng sự trong năm học có thể tra ở phân phối chương trình Ngữ văn 12.
Phong cách sáng tác của Ngô Tất Tố
- Nhà văn của nông thôn: hiểu tường tận lệ làng, sưu thuế, hủ tục; đứng hẳn về phía người nông dân nghèo.
- Bút pháp phóng sự sắc sảo: ghi chép chi tiết, khách quan, không cần hư cấu mà vẫn có sức đả kích mạnh.
- Giọng trào lộng: châm biếm kín đáo, thâm thúy kiểu nhà nho.
- Nhà văn giao thời: thấm sâu văn hóa cũ nhưng thích ứng với báo chí, tiểu thuyết hiện đại.
Vũ Bằng, trong Mười bốn gương mặt nhà văn đồng nghiệp, từng viết: “Ngô Tất Tố là một huấn luyện viên của tôi trong nghề báo”. Lời ấy cho thấy vị trí của ông không chỉ trong văn chương mà cả trong lịch sử báo chí Việt Nam.
Lời kết
Tác phẩm Ngô Tất Tố, từ Tắt đèn, Lều chõng đến Việc làng, là tài liệu sống về làng quê Bắc Bộ nửa đầu thế kỷ XX và là tiếng nói bênh vực người nông dân. Đọc lại hôm nay, những trang viết ấy vẫn giúp ta hiểu vì sao “tức nước” thì “vỡ bờ”.
Xem thêm: những tác phẩm của Tô Hoài, tuyển tập thơ Nguyễn Khuyến, thơ Tú Xương.
Xem thêm: tác phẩm Thạch Lam, tác phẩm Vũ Trọng Phụng, tác phẩm Nguyên Hồng.