Viết bài văn giới thiệu một cuốn sách yêu thích là bài Viết ở học kì II lớp 8 trong cả ba bộ sách: Bài 10 Sách – người bạn đồng hành (Tập 2) của Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, Bài 8 Cánh cửa mở ra thế giới (Tập 2, trang 58–62) của Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo và Bài 10 Văn bản thông tin (Tập 2, trang 115–119) của Ngữ văn 8 Cánh diều. Trang này gồm những điều SGK đòi hỏi ở kiểu bài, một dàn ý chung, 12 bài văn mẫu giới thiệu 12 cuốn sách khác nhau (truyện Việt Nam, sách nước ngoài, nhật kí, tự truyện và một cuốn sách kĩ năng), viết ở nhiều dạng: thư cho em, bài bảng tin thư viện, bài nói ở ngày hội đọc sách, bài so sánh sách với phim. Năm xuất bản, tác giả và các thông tin về sách đều được kiểm lại ở tối thiểu hai nguồn công khai; người viết, bạn bè và tình huống ở trường trong các mẫu là giả định.

Yêu cầu của kiểu bài giới thiệu một cuốn sách
Bài giới thiệu sách thuộc nhóm văn bản thông tin, nhưng không phải bản tóm tắt khô. Người đọc bài của em cần biết ba điều: đây là cuốn sách gì, trong sách có gì đáng đọc, và vì sao chính em muốn họ cầm nó lên. Phần thông tin phải chính xác; phần cảm nhận phải là của em, dựa vào những chi tiết có thật trong sách.
| Tiêu chí | Bài viết đạt khi |
|---|---|
| Thông tin nhận diện | Có tên sách, người viết, thể loại (truyện dài, tự truyện, nhật kí, sách kĩ năng…), năm ra đời hoặc xuất bản lần đầu; sách dịch thì có thể nêu nước, ngôn ngữ gốc. Chỉ ghi số trang, nhà xuất bản, dịch giả khi đã kiểm tra trên cuốn sách em cầm. |
| Nội dung chính | Tóm tắt ngắn, đủ để người đọc hình dung đề tài, nhân vật, mạch chuyện; không kể hết, nhất là không để lộ kết thúc của truyện. |
| Giá trị, điểm đặc sắc | Chỉ ra điều làm cuốn sách khác những cuốn cùng loại: cách kể, giọng văn, nhân vật, thông điệp, cả hình thức như bìa, tranh minh họa. Mỗi nhận xét có một chi tiết làm bằng chứng. |
| Cách nhìn của tác giả | Nói được tác giả nghĩ gì về con người, đời sống qua cuốn sách (yêu cầu nhấn mạnh ở Kết nối tri thức). |
| Người đọc phù hợp, lời khuyên | Sách hợp với ai, nên đọc lúc nào, đọc thế nào; có thể nói thật một điểm khó đọc hoặc hạn chế. |
| Hình thức | Bố cục ba phần; xưng hô nhất quán (tôi, em, mình – bạn, các bạn); có thể kèm ảnh bìa, bảng thông tin như một bài đăng thật. |
Ba bộ sách cùng một kiểu bài nhưng mỗi bộ nhấn một điểm riêng:
| Bộ sách | Vị trí | Điểm nhấn |
|---|---|---|
| Kết nối tri thức | Tập 2, Bài 10 Sách – người bạn đồng hành, mục Thách thức thứ hai: Sáng tạo cùng tác giả | Đề gọi là bài thuyết minh. Sách đòi hỏi nêu được thông tin nhận diện cuốn sách, tóm tắt, tác giả nhìn đời sống ra sao, những đóng góp hoặc điểm mới, và những chỗ khơi hứng thú đọc. Bài tham khảo giới thiệu tiểu thuyết Mắt sói. Bài học kết thúc bằng hoạt động Về đích: Ngày hội với sách. |
| Chân trời sáng tạo | Tập 2, Bài 8 Cánh cửa mở ra thế giới, trang 58–62 | Đề đặt trong một cuộc thi giới thiệu sách của trường. Bố cục ba phần: tên sách, tác giả và ấn tượng nổi bật (hai ý này đổi chỗ được); tóm tắt và nhận xét giá trị có dẫn chi tiết; khẳng định giá trị và khích lệ người đọc. Phiếu tìm ý có cả dòng ghi hạn chế của cuốn sách, nếu có. |
| Cánh diều | Tập 2, Bài 10 Văn bản thông tin, trang 115–119 | Đề cũng là một cuộc thi giới thiệu sách; sách luyện riêng hai việc: tóm tắt cuốn sách cho gọn và chọn cách xưng hô. Đề luyện thêm cho phép chọn một cuốn văn chương hoặc một cuốn khoa học, hoặc viết cho chuyên mục giới thiệu sách hằng tháng trên trang web của trường. |
Dàn ý bài văn giới thiệu một cuốn sách yêu thích
1. Mở bài
– Nêu tên sách, tác giả.
– Nêu ấn tượng nổi bật hoặc lí do em giới thiệu (có thể mở bằng một chi tiết trong sách, một kỉ niệm gắn với cuốn sách, một câu hỏi cho người đọc).
2. Thân bài
a. Thông tin chung
+ Tác giả: vài nét liên quan đến cuốn sách (không chép cả tiểu sử).
+ Thể loại, năm ra đời; hình thức sách nếu đáng nói (bìa, tranh minh họa, cách chia chương).
b. Nội dung chính
+ Đề tài, nhân vật chính, mạch chuyện hoặc các phần chính của sách.
+ Tóm tắt ngắn, dừng trước đoạn kết.
c. Giá trị và điểm đặc sắc
+ Về nội dung: điều sách nói về con người, cuộc sống; cách nhìn của tác giả.
+ Về hình thức: cách kể, ngôi kể, giọng văn, chi tiết, hình ảnh.
+ Một chi tiết hoặc đoạn em thích nhất và vì sao.
+ (Nếu có) một điểm khó đọc, hạn chế, hoặc điều em chưa đồng ý.
3. Kết bài
– Nói lại cuốn sách đã cho em điều gì.
– Sách hợp với ai; lời khuyên đọc (đọc lúc nào, đọc thế nào).
Dàn ý chi tiết cho một cuốn sách cụ thể (Dế Mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài):
– Mở bài: cuốn truyện đồng thoại tiếng Việt quen thuộc với nhiều thế hệ; người kể là chính chú dế.
– Thông tin: Tô Hoài viết, in lần đầu năm 1941; bản quen thuộc hiện nay có mười chương; có nhiều lần in với tranh minh họa khác nhau.
– Nội dung: Dế Mèn tự kể từ lúc rời mẹ ra ở riêng, cái lỗi làm chết Dế Choắt, rồi những chuyến đi xa cùng Dế Trũi.
– Đặc sắc: lối tả loài vật rất tinh; nhân vật lớn lên qua lỗi lầm; ước mơ về một thế giới các loài sống hòa thuận.
– Kết bài: hợp với học sinh tiểu học và cả người lớn; nên đọc trọn mười chương chứ đừng dừng ở phần được chọn in trong sách Ngữ văn.
Giới thiệu sách văn học Việt Nam
Mẫu 1: Dế Mèn phiêu lưu kí – thư giới thiệu cho em họ
Hào thân mến,
Hôm trước mẹ em gọi điện kể em bỏ dở cuốn truyện tranh siêu nhân vì đọc mãi cũng chỉ thấy đánh nhau. Chị gửi kèm thư này một cuốn sách cũng có đánh nhau, có phiêu lưu, nhưng người hùng lại là một con dế. Đó là Dế Mèn phiêu lưu kí của nhà văn Tô Hoài. Chị đọc cuốn này năm lớp 4, đúng tuổi em bây giờ, và đến lớp 8 vẫn thỉnh thoảng giở lại.
Truyện ra đời đã lâu lắm: Tô Hoài in lần đầu năm 1941, khi ấy chỉ là vài chương đầu với tên Con Dế Mèn. Bản em cầm trên tay có mười chương. Cuốn chị gửi là bản có tranh minh họa; sách này được in rất nhiều lần, mỗi lần một họa sĩ vẽ Dế Mèn theo kiểu riêng, nên em cứ xem tranh trước cũng được.
Cái hay đầu tiên là chính Dế Mèn kể chuyện, xưng tôi. Mèn khoe đôi càng mẫm bóng, cái vuốt nhọn hoắt, đi đứng oai vệ, nghe vừa buồn cười vừa thấy cậu ta kiêu thật. Rồi vì thói ngông ấy, Mèn trêu chị Cốc, khiến Dế Choắt, anh hàng xóm ốm yếu, phải chết oan. Đoạn này em đã gặp trong sách Tiếng Việt chưa? Lên lớp 6 em sẽ học lại trong bài Bài học đường đời đầu tiên. Chị thích nhất là Tô Hoài không cho Mèn được tha thứ dễ dàng: Mèn phải nhớ, phải sống khác đi.
Từ chương sau, truyện mới thành phiêu lưu thật. Mèn rời quê, kết bạn với Dế Trũi, hai anh em lênh đênh trên nước, bị bắt, bị lừa, rồi lại đứng ra bênh vực những con vật bị bắt nạt. Mỗi chương là một vùng đất, một loài vật mới, nên em đọc một tối một chương là vừa. Chị đố em đếm được bao nhiêu loài xuất hiện trong truyện.
Em đừng sợ chữ khó. Tô Hoài tả loài vật bằng con mắt của người lớn lên ở làng quê, nhìn kĩ từng sợi râu, từng cái cánh, nên đọc lên thấy con vật như đang đứng trước mặt. Cái cánh ngắn hủn hoẳn của Dế Choắt, chị đọc một lần là nhớ mãi. Gặp chữ nào lạ, em cứ gạch chân bằng bút chì, đọc hết chương rồi hỏi mẹ hoặc gọi cho chị. Chính những chữ lạ ấy làm truyện có mùi ruộng đồng, thứ mùi mà truyện tranh siêu nhân không có.
Đọc xong, em sẽ thấy Dế Mèn lớn lên như một con người: từ một chú dế chỉ biết mình, thành một kẻ biết lo cho bạn, rồi mơ có ngày muôn loài thôi đánh nhau. Đó là ước mơ của chính nhà văn, gửi qua một con dế.
Em đọc chậm thôi nhé, chương nào có tranh thì dừng lại ngắm một lúc. Tết này về quê, chị sẽ hỏi em thích Dế Trũi hay Dế Mèn hơn.
Chị của em
Mẫu 2: Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ – bài cho bảng tin thư viện
Sách của tháng này nằm ở ngăn thứ hai, kệ truyện Việt Nam, gáy màu vàng: Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh. Thư viện có ba cuốn, nên ai đến trước thì được đọc trước.
Cuốn truyện ra mắt năm 2008. Người kể là cu Mùi, kể lại năm mình lên tám cùng ba đứa bạn trong xóm: con Tủn, Tí sún và Hải cò. Bốn đứa không có phép thuật, không đi phiêu lưu xa. Chúng chỉ chán cảnh ngày nào cũng ăn, ngủ, đi học, nên bày ra đủ trò: đổi tên mọi đồ vật trong nhà, tự phong cho nhau những chức danh của người lớn, rồi lãnh đủ hậu quả.
Điều làm cuốn sách đáng đọc là có hai người cùng kể. Một là thằng bé tám tuổi ngây ngô, hay ấm ức vì người lớn cấm đủ thứ. Hai là người đàn ông đã lớn, nhìn lại và bật cười, có lúc thở dài. Hai giọng ấy đan vào nhau nên ta vừa cười to ở trang này, sang trang sau đã thấy chạnh lòng.
Sách còn làm người đọc nghĩ về người lớn. Có lúc cu Mùi ấm ức vì người lớn tự cho mình làm đủ thứ mà lại cấm trẻ con, và người lớn đọc đến đó chắc khó mà không đỏ mặt. Chương ngắn, chữ dễ, đọc trong giờ ra chơi cũng được.
Bạn Ly, cộng tác viên thư viện, đọc xong đã ghi vào sổ góp ý: nên mượn hai cuốn, một cho mình, một cho bố mẹ. Thư viện đồng ý. Đây là cuốn sách hiếm hoi mà học sinh lớp 8 và người lớn có thể đọc cùng rồi tranh luận xem ai đúng.
Bạn nào muốn tìm hiểu thêm có thể đọc bài Chuyến du hành về tuổi thơ trong sách Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo, viết đúng về cuốn sách này.
Cách mượn: ghi tên vào phiếu ở bàn thủ thư, hạn trả một tuần. Khi trả, mời bạn dán một mẩu giấy nhớ lên bảng tin này, viết một câu: trò nào của bốn đứa trẻ bạn từng chơi rồi.
Mẫu 3: Tuổi thơ dữ dội – bài dự thi giới thiệu sách
Trên giá sách của bố tôi có một bộ sách gáy đã sờn, bìa dán lại bằng băng dính. Bố bảo đó là sách bố đọc hồi bằng tuổi tôi, đọc đến mức thuộc tên từng nhân vật. Mùa hè năm lớp 7, tôi mở nó ra vì tò mò. Tôi gấp lại sau ba tuần, và từ đó hiểu vì sao bố giữ nó lâu đến vậy. Bộ sách ấy là Tuổi thơ dữ dội của nhà văn Phùng Quán.
Phùng Quán viết cuốn tiểu thuyết này trong gần hai mươi năm, từ 1968 đến 1986, và sách được in năm 1988. Cùng năm ấy, Hội Nhà văn Việt Nam đã trao cho tác phẩm giải thưởng văn học thiếu nhi; hai năm sau, truyện được dựng thành phim. Tôi kể những con số này để các bạn hiểu: đây không phải cuốn sách viết vội.
Nhan đề ghép hai chữ tưởng không đi với nhau được. Tuổi thơ thường đi cùng hồn nhiên, êm đềm; ở đây lại là dữ dội. Đọc xong tôi mới hiểu chữ dữ dội không chỉ nói bom đạn, mà nói cả cách các cậu bé sống: hết mình, nóng nảy, thương bạn đến liều lĩnh, ghét giặc đến quên sợ. Một tuổi thơ như thế không ai muốn có lại, nhưng cũng không ai được phép quên.
Truyện đưa ta về Huế những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Ở đó có Đội thiếu niên trinh sát của trung đoàn Trần Cao Vân, gồm những cậu bé mười ba, mười bốn tuổi. Mừng, cậu bé nhà quê, lặn lội tìm đến xin vào đội. Lượm nhanh nhẹn, gan góc. Quỳnh có giọng hát hay đến mức cả đội gọi là Quỳnh sơn ca. Các cậu đi đưa thư, dò đường, nằm vùng, có khi cầm súng thật. Tác giả không giấu điều gì: các cậu bé ấy đói, rét, sợ, có cậu không trở về.
Điều tôi thấy lạ nhất là cuốn sách về chiến tranh này lại rất nhiều tiếng cười. Các cậu bé vẫn trẻ con: tranh nhau, giận dỗi, khoe khoang, đặt biệt danh cho nhau, nghịch dại. Phùng Quán viết những đoạn ấy hồn nhiên đến mức tôi quên mất mình đang đọc về một cuộc chiến. Rồi đột ngột, sang trang sau, một cậu bé vừa cười đùa đã không còn nữa. Chính cái tương phản ấy làm người đọc đau, không phải những đoạn tả bom đạn.
Về cách viết, nhà văn kể bằng giọng của người đã đi qua thời ấy, nhiều đoạn như đang ngồi nói chuyện với ta. Có những trang dừng lại rất lâu ở một đêm canh gác, một bữa ăn, một bài hát. Có những trang dồn dập như trận đánh. Người đọc vội có thể thấy dài, nhưng nếu bỏ qua các đoạn chậm, ta sẽ không hiểu các cậu bé đã yêu nhau và yêu thành Huế đến thế nào.
Nói cho công bằng, có một điều tôi chưa thích: vài chỗ người kể chen lời bình hơi dài, làm nhịp truyện chậm lại đúng lúc tôi đang nóng ruột muốn biết chuyện gì xảy ra. Nhưng đặt cạnh cả bộ sách, đó chỉ là hạt sạn nhỏ.
Qua những trang sách, tôi nghĩ Phùng Quán muốn nói hai điều. Lòng yêu nước của trẻ con không nhỏ hơn của người lớn, chỉ là nó hồn nhiên hơn. Và tuổi thơ bị chiến tranh lấy mất là một mất mát không gì bù đắp. Cuốn sách không hô khẩu hiệu; nó để các nhân vật tự nói điều đó bằng việc làm.
Học sinh lớp 7, lớp 8 đã đủ lớn để đọc trọn bộ. Sách dày, nên mỗi tối vài chương là vừa, đừng đọc ngấu nghiến trong hai ngày như tôi định làm lúc đầu. Nếu được, hãy hỏi ông bà, bố mẹ xem họ đã đọc chưa; ở nhà tôi, cuốn sách đã thành chuyện để hai bố con nói với nhau suốt mùa hè.
Bây giờ mỗi khi nghe ai hát một câu dân ca Huế, tôi lại nghĩ đến giọng hát của Quỳnh sơn ca vang lên giữa rừng, trong một đêm mà các cậu bé tưởng sẽ còn rất nhiều đêm như thế.
Giới thiệu sách văn học nước ngoài
Mẫu 4: Hoàng tử bé – bài cho chuyên mục sách hay trên trang web trường
Bạn nhìn thấy gì trong một hình vẽ trông như chiếc mũ? Người lớn nói đó là cái mũ. Cậu bé trong Hoàng tử bé thì biết đó là con trăn đã nuốt chửng một con voi. Cuốn sách mở đầu bằng hình vẽ ấy, và cả cuốn sách là cuộc tranh luận dịu dàng giữa hai cách nhìn: cách nhìn của người lớn chỉ tin vào thứ đo đếm được, và cách nhìn của trẻ con thấy được điều nằm bên trong.
Tác giả là nhà văn Pháp Ăng-toan đơ Xanh-tơ Ê-xu-pe-ri (Antoine de Saint-Exupéry), một phi công. Sách ra đời năm 1943, in lần đầu ở New York khi ông đang sống ở Mỹ. Những bức tranh màu nước ngộ nghĩnh trong sách do chính ông vẽ, nên chữ và hình như cùng một giọng nói.
Giữa sa mạc, một người phi công bị hỏng máy bay, phải tự sửa một mình. Ở đó anh gặp một cậu bé tóc vàng đến từ một tiểu hành tinh. Cậu kể về bông hồng kiêu kì trên hành tinh của mình, về những hành tinh đã ghé qua, nơi mỗi người lớn sống một mình với một nỗi ám ảnh: quyền lực, lời khen, những con số. Rồi cậu gặp con cáo, và học được thế nào là làm quen, là gắn bó, là phải lo cho những ai mình đã thương.
Bạn nên xem kĩ tranh. Có bức chỉ vài nét, như chiếc hộp đục ba lỗ thủng mà người phi công vẽ khi cậu bé đòi một con cừu: con cừu nằm trong hộp, mỗi người tự hình dung lấy. Ngay trang đầu, tác giả đề tặng sách cho một người bạn đã lớn và xin lỗi các bạn nhỏ vì điều đó. Chi tiết nhỏ ấy cho thấy ông viết cho cả hai phía.
Sách mỏng, câu chữ giản dị, đọc một buổi chiều là xong. Nhưng nhiều người đọc lại nhiều lần, vì mỗi tuổi lại hiểu ra một điều khác. Sách Ngữ văn 8 Cánh diều có đoạn trích Trong mắt trẻ lấy từ cuốn này; đọc trọn cả cuốn, bạn sẽ thấy đoạn trích chỉ là cánh cửa đầu tiên.
Chuyên mục tháng này mời bạn đọc Hoàng tử bé và thử trả lời: nhìn hình vẽ đầu sách, bạn thấy cái mũ hay con trăn?
Mẫu 5: Những tấm lòng cao cả – đọc lại sau ba năm
Năm lớp 5, tôi đọc Những tấm lòng cao cả vì cô giáo giao bài đọc hè. Tôi nhớ mình thấy nó hơi dài và hơi nhiều lời khuyên. Hè vừa rồi, dọn tủ sách, tôi tìm lại cuốn ấy và đọc lại từ đầu. Lần này, tôi đọc chậm và nhiều lần phải dừng lại. Tôi muốn giới thiệu cuốn sách bằng chính hai lần đọc khác nhau ấy.
Tác giả là nhà văn I-ta-li-a Ét-môn-đô đơ A-mi-xi (Edmondo De Amicis). Sách in lần đầu năm 1886, tên gốc là Cuore, nghĩa là trái tim. Cuốn sách được viết như cuốn nhật kí mà En-ri-cô, học trò lớp ba ở thành phố Tô-ri-nô, ghi suốt một năm học. Mỗi trang là một ngày: chuyện trong lớp, chuyện bạn bè, chuyện ngoài phố. Xen vào đó là những trang bố mẹ viết cho con, và cuối mỗi tháng có một truyện kể do thầy giáo đọc cho cả lớp nghe.
Lần đầu đọc, tôi chỉ nhớ các truyện kể hằng tháng, nhất là chuyện cậu bé Mác-cô đi từ I-ta-li-a sang tận châu Mĩ tìm mẹ. Đó là phần có phiêu lưu, có nước mắt, đọc rất cuốn. Các trang nhật kí thì tôi lướt.
Lần này, người tôi để ý trước tiên lại là thầy giáo. Thầy ít cười, tóc đã bạc, nói với học trò ngay buổi đầu rằng thầy không có gia đình, cả lớp chính là gia đình của thầy. Thầy không hứa hẹn điều gì to tát, chỉ ngày nào cũng đến lớp, kiên nhẫn với cả những đứa khó bảo nhất. Có lẽ vì thế mà cả cuốn sách, dù nhiều chuyện buồn, vẫn ấm.
Lần thứ hai, tôi lại thấy các trang nhật kí mới là cái lõi của cuốn sách. En-ri-cô không phải cậu bé hoàn hảo. Cậu có lúc ghen tị với bạn học giỏi, có lúc nói hỗn với mẹ, có lúc ngán đến trường. Không ai mắng cậu to tiếng. Thay vào đó, bố cậu viết cho cậu những bức thư dài, bình tĩnh mà nghiêm khắc. Học sinh lớp 7 trước đây từng học một bức thư như thế trong bài Mẹ tôi. Đọc lại ở tuổi mười bốn, tôi nhận ra cách dạy ấy khó hơn quát mắng nhiều: người lớn phải tin rằng đứa trẻ sẽ tự hiểu.
Tôi cũng để ý đến những người bạn của En-ri-cô: cậu bạn to con hay bênh kẻ yếu, cậu bạn nhà nghèo đi học vẫn đỡ đần bố, cậu bạn giỏi giang mà không kiêu. Lớp học của En-ri-cô có đủ mọi hoàn cảnh, con nhà giàu ngồi cạnh con thợ. A-mi-xi không tô hồng: trong lớp vẫn có đứa hư, vẫn có chuyện bất công. Nhưng ông tin rằng lòng tốt có thể học được, từng ngày, như học chữ.
Về hình thức, lối viết nhật kí làm cuốn sách rất gần, như đọc sổ tay của một người bạn cùng lớp. Mỗi mục ngắn, có ngày tháng, đọc một hai mục trước khi ngủ là vừa. Có điều, vì sách viết cách đây gần một trăm bốn mươi năm, một số lời răn nghe khá trang trọng. Bạn đừng vì thế mà bỏ dở; hãy coi đó là giọng của một người bố thời ấy, nghiêm mà thương con.
Tôi giới thiệu cuốn sách cho các bạn lớp 6, lớp 7 muốn đọc truyện về trường học, và cho cả những bạn đã từng đọc nó hồi nhỏ. Hãy đọc lại. Lần thứ hai, cuốn sách không còn là chuyện của En-ri-cô nữa, mà là chuyện của chính lớp mình.
Gấp sách lại, tôi mở một cuốn sổ mới và bắt đầu ghi nhật kí năm học lớp 8. Trang đầu tiên chỉ có ba dòng, nhưng đó là ba dòng thật.
Mẫu 6: Cây cam ngọt của tôi – giới thiệu ở câu lạc bộ đọc sách
Trước khi giới thiệu, tôi phải nói trước một điều: cuốn sách này làm người đọc khóc. Không phải khóc một lần ở cuối truyện, mà khóc rải rác, có khi ở những trang tưởng đang rất vui. Thục Anh, bạn ngồi cạnh tôi trong câu lạc bộ, đọc ở xe buýt và phải úp sách xuống đùi vì sợ người bên cạnh nhìn thấy mình đỏ mắt. Nếu các bạn vẫn muốn đọc, đây là Cây cam ngọt của tôi của nhà văn Bra-xin Giô-xê Mau-rô đơ Vax-côn-xê-lốt (José Mauro de Vasconcelos).
Cuốn tiểu thuyết in lần đầu năm 1968 ở Bra-xin. Nhân vật chính là Dê-dê, một cậu bé nhà nghèo ở khu Bang-gu, thành phố Ri-ô đơ Gia-nê-rô. Bố mất việc, mẹ đi làm ở nhà máy từ sáng đến tối, anh chị bận rộn, Dê-dê thường phải tự chơi một mình, trông cả em trai nhỏ. Cậu nghịch có tiếng trong xóm, nghịch đến mức bị đòn liên tục. Khi cả nhà chuyển đến chỗ ở mới, Dê-dê nhận cây cam nhỏ trong vườn làm bạn, đặt tên cho nó, cưỡi lên cành và trò chuyện với nó hằng ngày.
Truyện kể ở ngôi thứ nhất, Dê-dê xưng tôi, nên ta nhìn mọi thứ qua mắt cậu. Một đứa trẻ năm, sáu tuổi không biết dùng chữ nghèo, chữ buồn; cậu chỉ kể rằng Giáng sinh không có quà, rằng cậu đi đánh giày để mua quà cho bố. Người đọc lớn hơn Dê-dê nên hiểu nhiều hơn cậu, và chính khoảng cách ấy làm ta thương cậu đến nghẹn. Tác giả cũng không vẽ người lớn thành kẻ ác: họ mệt, họ nghèo, họ không có thời gian để hiểu một đứa trẻ nhiều tưởng tượng.
Trong truyện còn có một người bạn lớn tuổi của Dê-dê, người đầu tiên đối xử với cậu như một con người thật sự. Tôi không kể thêm, vì phần này nên để các bạn tự đọc.
Thục Anh từng hỏi tôi vì sao lại chọn giới thiệu một cuốn sách buồn. Tôi trả lời: vì nó buồn một cách tử tế. Không có trang nào cố ép người đọc phải khóc; ta khóc vì đã hiểu Dê-dê, như hiểu một người bạn có thật. Mà hiểu được một người, theo tôi, là điều sách vở có thể dạy tốt hơn mọi lời khuyên.
Theo tôi, thông điệp của cuốn sách nằm ở chỗ: một đứa trẻ bị gọi là hư có khi chỉ là một đứa trẻ chưa được ai ôm đủ. Đọc xong, tôi nhìn em trai nghịch ngợm của mình bằng con mắt khác hẳn.
Tôi nghĩ lớp 8 là tuổi vừa để đọc, vì có những đoạn buồn và cả những trận đòn tả khá thật. Lời khuyên của tôi: đừng đọc lúc đang mệt hay đang buồn, và đừng đọc ở xe buýt như Thục Anh. Hãy đọc ở nhà, vào một buổi chiều cuối tuần, có sẵn khăn giấy bên cạnh.
Mẫu 7: Ông già và biển cả – cho bạn ngại sách dày
Tám mươi tư ngày liền không câu được một con cá. Truyện bắt đầu ở đó, với một ông lão đánh cá người Cu-ba tên là Xan-ti-a-gô. Người trong làng cho rằng lão đã hết vận. Chỉ có một cậu bé, người lão dạy nghề từ nhỏ, vẫn mang cơm, mang mồi cho lão mỗi ngày. Rồi một sớm, lão chèo thuyền ra rất xa, nơi chưa ai trong làng dám tới.
Cuốn sách ấy là Ông già và biển cả của nhà văn Mỹ Ơ-nít Hê-minh-uê (Ernest Hemingway), in năm 1952. Hai năm sau, khi Hê-minh-uê nhận giải Nô-ben Văn học, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã nhắc đến chính truyện này như minh chứng gần nhất cho tài kể chuyện của ông. Tôi giới thiệu nó cho những bạn hay than sách dày: đây là một truyện vừa, đọc trong hai buổi tối là xong.
Nội dung có thể kể trong vài câu. Ngoài khơi xa, Xan-ti-a-gô mắc câu được một con cá kiếm to khủng khiếp, dài hơn cả chiếc thuyền của lão. Con cá kéo thuyền đi suốt ngày đêm, lão già một mình ghì dây, tay rớm máu, đói, buồn ngủ, chỉ có những con chim biển và chính con cá làm bạn. Lão thắng được con cá. Nhưng trên đường về, lũ cá mập kéo đến.
Điều làm tôi phục là cách Hê-minh-uê viết ít mà nói nhiều. Câu văn ngắn, gần như chỉ tả việc lão làm: buộc dây, đổi tay, nhai miếng cá sống. Ông không giảng giải lão dũng cảm ra sao. Người đọc tự thấy điều đó qua từng động tác, giống như chỉ nhìn thấy phần nổi của tảng băng mà đoán được phần chìm bên dưới. Có những đoạn lão già nói to một mình giữa biển, gọi con cá là người anh em. Một kẻ đi săn mà kính trọng con mồi của mình: chi tiết ấy làm cuộc vật lộn thành một cuộc đối thoại.
Qua câu chuyện, tác giả cho thấy con người có thể bị vùi dập, mất hết những gì mình vất vả giành được, nhưng vẫn không chịu khuất phục. Lão về làng với hai bàn tay trắng, mà không ai dám coi lão là kẻ thua.
Tôi cũng phải nói trước: nếu bạn chờ những cuộc đối thoại sôi nổi, những nhân vật đông đúc, bạn sẽ thấy truyện chậm. Gần như suốt cuốn sách chỉ có một ông già, một con thuyền, một sợi dây câu và mặt biển. Nhưng chính vì ít thứ như thế, mỗi cử động nhỏ đều có sức nặng. Đọc chậm, bạn sẽ thấy tim mình căng theo sợi dây câu.
Truyện dành cho những ai từng bỏ cuộc giữa chừng một việc gì đó, và cả những ai chưa từng. Sách Ngữ văn 12 sau này có đoạn trích Trở về, nhưng đừng đợi đến lúc ấy.
Tôi vẫn nhớ hình ảnh cuối truyện: chiếc thuyền nhỏ cập bến lúc nửa đêm, bên mạn thuyền là bộ xương cá trắng dài, và ông lão leo dốc về túp lều, vai vác cột buồm, ngã xuống rồi lại gượng dậy.
Mẫu 8: Chuyện con mèo dạy hải âu bay – theo ba lời hứa
Nếu phải giới thiệu cuốn sách này trong một câu, tôi sẽ nói: đây là chuyện một con mèo giữ lời hứa. Mà không phải một lời, là ba lời hứa, lời nào cũng khó.
Tác giả là nhà văn Chi-lê Lu-i Xê-pun-vê-đa (Luis Sepúlveda), cuốn sách in năm 1996. Chuyện xảy ra ở cảng Ham-buốc nước Đức. Một chú mèo mun to béo tên Goóc-ba đang nằm ngoài ban công thì một con hải âu rơi xuống, lông bết đầy dầu loang trên biển. Trước khi chết, hải âu mẹ đẻ một quả trứng và xin Goóc-ba hứa với nó ba điều.
Lời hứa thứ nhất: không ăn quả trứng. Với một con mèo đang đói, chuyện này đã đủ buồn cười. Lời hứa thứ hai: chăm quả trứng cho đến khi nó nở. Hình ảnh chú mèo mun nằm ủ một quả trứng làm tôi cười suốt mấy trang. Lời hứa thứ ba: dạy con chim non bay. Một con mèo thì biết gì về bay? Goóc-ba phải nhờ cả đám mèo ở bến cảng, mỗi con một tài, một tính, cùng nghĩ cách.
Mỗi con mèo trong băng có một cái tật buồn cười: con thì cái gì cũng tra sách cho biết tuốt, con thì làm ra vẻ chỉ huy như một ông đại tá. Chúng cãi nhau, bàn bạc, thử sai rồi thử lại. Chính sự lộn xộn ấy làm lời hứa của Goóc-ba thành việc chung của cả một cộng đồng, và làm người đọc cười suốt.
Đằng sau tiếng cười, cuốn sách nói những điều không hề nhỏ: yêu thương một kẻ khác loài với mình, chấp nhận nó khác mình, và giữ chữ tín đến cùng. Câu chuyện mở đầu bằng vết dầu loang cũng là một lời nhắc về biển đang bị con người làm bẩn.
Sách mỏng, câu văn dễ đọc, hợp với cả em nhỏ từ lớp 3. Tôi đã đọc to cho em gái tôi là Ngà nghe, mỗi tối một chương. Đến chương cuối, Ngà hỏi: anh ơi, nếu là con mèo, anh có giữ được cả ba lời không?
Mẫu 9: Charlie và nhà máy sô-cô-la – sách hay phim?
Quang Huy khẳng định với tôi rằng không cần đọc sách nữa, vì đã xem phim rồi. Tôi cãi lại, và để cãi cho có lí, tôi đọc lại Charlie và nhà máy sô-cô-la rồi xem lại bộ phim năm 2005. Bài này là kết quả của cuộc tranh luận ấy.
Tác giả là Rô-a Đan (Roald Dahl), nhà văn người Anh; truyện in năm 1964. Ông Uy-li Uôn-ca (sách Ngữ văn 7 phiên âm là Quơn-cơ), chủ nhà máy sô-cô-la bí ẩn nhất thế giới, giấu năm tấm vé vàng trong năm thanh sô-cô-la; ai tìm được sẽ được vào thăm nhà máy. Bốn tấm đầu rơi vào tay bốn đứa trẻ: một cậu bé ăn tham, một cô bé được chiều đến hư, một cô bé nhai kẹo cao su suốt ngày, một cậu bé chỉ biết dán mắt vào ti vi. Tấm cuối cùng về tay Sác-li Bơ-kít, cậu bé nhà nghèo đến mức cả nhà ăn súp bắp cải quanh năm. Sác-li vào nhà máy cùng ông nội Giô. Từng đứa trẻ kia lần lượt gặp nạn vì chính thói xấu của mình, và mỗi lần như thế, những người thợ tí hon Oom-pa-Loom-pa lại hát một bài chế giễu.
Truyện từng được làm phim hai lần, năm 1971 và năm 2005. Bản năm 2005 do Tim Bơ-tơn đạo diễn, Giôn-ni Đép đóng vai Uôn-ca. Phim giữ khá sát mạch truyện, nhà máy hiện lên đúng như tôi tưởng tượng: dòng sông sô-cô-la, đàn sóc tách hạt óc chó. Đây là điểm Quang Huy thắng: có những thứ chữ tả mãi không bằng một cảnh quay.
Nhưng phim thêm vào một chuyện không có trong sách: tuổi thơ của Uôn-ca với người cha làm nha sĩ, cấm con ăn kẹo. Nhờ đó, ông chủ nhà máy trong phim thành một người cô đơn, có vết thương riêng. Hay thì hay, nhưng câu chuyện vì thế nghiêng hẳn về Uôn-ca. Trong sách, nhân vật chính rõ ràng là Sác-li. Cậu không làm gì phi thường; cậu chỉ biết thương ông bà, không than nghèo, không tham. Rô-a Đan để cho một đứa trẻ bình thường mà tử tế thắng tất cả.
Còn một thứ phim khó giữ: giọng kể của Rô-a Đan. Ông kể như đang nháy mắt với người đọc, phóng đại vô tội vạ, dọa người lớn, bênh trẻ con. Những bài hát của người Oom-pa-Loom-pa đọc trong sách vừa buồn cười vừa có ý dạy dỗ rất rõ, sang phim thì bị nhạc át đi.
Sách hợp với các bạn từ lớp 4 đến lớp 8: chương ngắn, chữ không khó, nhiều đoạn đọc to lên cả nhà cùng cười. Ai đã học đoạn trích Xưởng Sô-cô-la ở lớp 7 sẽ thấy đoạn ấy chỉ là một căn phòng trong nhà máy; cả cuốn sách còn rất nhiều căn phòng khác.
Kết luận của tôi: sách và phim không thay nhau được. Ai chưa biết truyện thì nên đọc sách trước, để tự dựng nhà máy trong đầu, rồi xem phim để so. Quang Huy cuối cùng cũng mượn cuốn sách của tôi. Bạn ấy trả lại sau ba ngày, kèm một câu: đọc đến đoạn Sác-li tìm thấy vé vàng, tớ hồi hộp hơn lúc xem phim.
Giới thiệu tự truyện, nhật kí và sách kĩ năng
Mẫu 10: Tốt-tô-chan bên cửa sổ – bài nói ở Ngày hội đọc sách
Xin chào các thầy cô và các bạn. Em là học sinh lớp 8C. Lúc nãy bạn Trúc dẫn chương trình có hỏi: ở đây có ai từng bị gọi là đứa trẻ hư không? Em thấy có mấy cánh tay rụt rè giơ lên. Cuốn sách em giới thiệu hôm nay là dành cho những cánh tay ấy, và cho cả những người lớn từng gọi trẻ con như thế. Đó là Tốt-tô-chan bên cửa sổ.
Đây là sách tự truyện. Tác giả Cư-rô-y-a-na-gi Tết-xư-cô (Kuroyanagi Tetsuko), người Nhật, kể lại những năm đi học của chính bà, sách in lần đầu năm 1981. Cô bé Tốt-tô-chan trong truyện chính là bà lúc nhỏ. Lớn lên, cô bé từng bị đuổi học ấy trở thành người dẫn chương trình truyền hình nổi tiếng ở Nhật Bản và làm đại sứ thiện chí của UNICEF. Riêng điều đó đã là một câu trả lời cho những người từng chê cô.
Mới sáu tuổi, Tốt-tô-chan đã bị đuổi học. Cô bé không đánh ai, không lấy cắp gì. Cô chỉ quá hiếu động, quá tò mò, đến mức một lớp học bình thường không giữ nổi cô ngồi yên. Mẹ cô đưa cô đến một ngôi trường khác tên là Tô-mô-e. Ở đó các lớp học đặt trong mấy toa tàu đã thôi chạy, mỗi ngày học sinh muốn ngồi chỗ nào thì ngồi, và ngay từ buổi gặp đầu, thầy hiệu trưởng Cô-ba-y-a-si đã trò chuyện với cô bé như với một người bạn.
Các bạn ơi, em mê cuốn sách này vì nó không giảng đạo lí. Mỗi chương chỉ là một chuyện nhỏ xảy ra ở trường, ngắn như một trang nhật kí. Đọc xong từng chuyện ấy, ta mới hiểu thầy hiệu trưởng dạy trẻ bằng cách tin chúng. Thầy luôn nói với Tốt-tô-chan rằng em là một đứa bé ngoan. Câu nói ấy, nhắc đi nhắc lại, đã giữ cho cô bé khỏi tin rằng mình hư.
Câu văn trong sách ngắn, trong trẻo như chính giọng một đứa trẻ, nên các em lớp 3, lớp 4 đọc được. Nhưng em nghĩ người cần đọc nhất lại là bố mẹ và thầy cô. Đọc xong, mẹ em bảo mẹ sẽ bớt nói câu sao con không ngồi yên được một lúc. Em không biết mẹ giữ lời được bao lâu, nhưng em tin cuốn sách đã làm được một việc khó: khiến một người lớn nhìn lại cách mình nói với trẻ con. Sách Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo của chúng ta có một bài viết về cuốn sách này là Tốt-tô-chan bên cửa sổ: Khi trẻ con lớn lên trong tình thương; các bạn đọc bài ấy trước cũng được, nhưng đừng dừng ở đó.
Em xin hết. Cuốn sách đang ở quầy số ba, cạnh cửa sổ, đúng chỗ của nó. Bạn nào từng giơ tay lúc nãy, mời các bạn lên mượn trước.
Mẫu 11: Nhật kí Đặng Thùy Trâm – bài cho báo tường ngày 27 tháng 7
Có những cuốn sổ lẽ ra đã bị đốt. Người lính Mỹ giữ chúng sau trận đánh đã nhận lệnh đốt đi. Anh không làm. Những cuốn sổ ấy nằm bên kia đại dương ba mươi lăm năm, rồi trở về với gia đình người viết, và năm 2005 được in thành sách ở Việt Nam. Đó là Nhật kí Đặng Thùy Trâm, và là cuốn tôi chọn cho số báo tường tháng Bảy của lớp, tháng có ngày Thương binh – Liệt sĩ.
Người viết là bác sĩ Đặng Thùy Trâm, một cô gái lớn lên ở Hà Nội, theo học ngành y ở Hà Nội rồi vào chiến trường miền Nam. Chị làm việc ở một bệnh xá tại Đức Phổ, Quảng Ngãi, và hi sinh ngày 22 tháng 6 năm 1970, khi mới hai mươi bảy tuổi. Những trang nhật kí được in thành sách là những gì chị ghi trong hai năm cuối đời.
Cuốn sách không có cốt truyện. Đó là những ghi chép ngắn, có ngày tháng, viết vội giữa hai ca mổ, sau một trận càn, trong đêm mất ngủ. Có ngày chị kể về một người thương binh trẻ chị không cứu được. Có ngày chị nhớ mẹ, nhớ bữa cơm ở Hà Nội, nhớ những con phố. Có ngày chị tự trách mình còn yếu đuối, còn ích kỉ, rồi tự hứa phải sống tốt hơn. Đọc những trang ấy, tôi không thấy một tấm gương đứng trên bục cao. Tôi thấy một người chị, cũng biết sợ, biết buồn, biết giận.
Chính điều đó làm cuốn sách có sức nặng. Những bài học lịch sử nói với chúng ta về chiến tranh bằng con số và sự kiện. Cuốn nhật kí nói bằng nỗi lo của một người thầy thuốc khi bệnh xá hết thuốc, bằng nỗi xót xa khi một người đồng đội trẻ ngã xuống. Lòng yêu nước ở đây không phải lời hô hào; nó là việc chị ở lại với thương binh khi có thể đi.
Tôi còn nhận ra một điều nữa: chị viết về những người quanh mình nhiều hơn viết về mình. Thương binh, đồng đội, những người dân quanh bệnh xá hiện lên qua từng trang. Đọc những dòng ấy, tôi hiểu nhật kí của chị cũng là cách giữ lại những con người mà có khi không ai còn nhớ tên. Cuốn sách vì thế không chỉ của riêng một người.
Về hình thức, đây là thể nhật kí, viết cho chính mình chứ không viết để in. Vì thế câu văn có chỗ đứt quãng, có chỗ lặp, nhảy từ việc này sang việc khác. Người đọc quen truyện có thể thấy khó vào ở vài chục trang đầu. Tôi khuyên các bạn đừng đọc một mạch. Mỗi tối đọc vài trang, đọc chậm, như đọc thư của một người quen. Nếu được, hãy đọc song song với bài Lịch sử về những năm chống Mỹ: một bên là bản đồ, một bên là người.
Học sinh lớp 8 đọc được cuốn sách này, dù có trang nặng nề. Nếu muốn biết thêm về cuộc đời chị và chặng đường những cuốn sổ đã đi, các bạn có thể đọc trang tiểu sử chị trên Văn VN, hoặc phần Nhật kí Đặng Thùy Trâm trong sách Ngữ văn 12 Cánh diều mà các anh chị lớp trên đang học.
Tôi đọc những trang cuối vào một đêm mất điện, bằng đèn pin. Đến trang ghi ngày cuối cùng, tôi gấp sách lại, nằm im rất lâu, và nghĩ đến những cuốn sổ khác trên chiến trường năm ấy đã cháy thành tro, không ai kịp đọc.
Mẫu 12: Đắc nhân tâm – có nên đọc ở tuổi mười bốn?
Một cuốn sách viết cho người đi làm thì học sinh lớp 8 có nên đọc không? Tôi tự hỏi như vậy khi thấy Đắc nhân tâm trên bàn làm việc của mẹ. Đọc xong, câu trả lời của tôi là có, nhưng phải đọc theo một cách riêng.
Tác giả là Đa-lơ Ca-nê-gi (Dale Carnegie), người Mỹ, sách in lần đầu năm 1936. Ở nước ta, cuốn sách quen thuộc với nhiều thế hệ qua bản dịch của học giả Nguyễn Hiến Lê; chính ông đặt cho nó cái tên tiếng Việt gọn và đẹp như bây giờ, và đã xin phép tác giả trước khi dịch.
Sách bàn về cách cư xử với người khác: lắng nghe nhiều hơn nói, nhớ tên người đối diện, khen chân thành, góp ý mà không làm người khác bẽ mặt, nhận lỗi trước khi trách người. Mỗi lời khuyên đều kèm chuyện thật của người nổi tiếng hoặc người bình thường, nên đọc không khô. Sách chia thành nhiều phần, mỗi phần gom một nhóm lời khuyên; chương nào cũng ngắn và khép lại bằng một nguyên tắc gói trong một câu, dễ chép vào sổ.
Tôi học được ngay một điều: trước khi chê bạn cùng nhóm, hãy tìm một việc bạn làm tốt để nói trước. Tôi thử ở buổi làm bài thuyết trình nhóm, và lần đầu tiên nhóm tôi không cãi nhau. Việc thứ hai tôi thử là nhớ tên người khác. Cô bán nước ở cổng trường đã bán cho tôi hai năm mà tôi chưa từng hỏi tên cô. Hôm tôi hỏi, cô cười rất lâu rồi cho thêm đá.
Tuy vậy, sách có hai điểm cần đọc tỉnh táo. Các ví dụ phần lớn là chuyện nước Mỹ gần một thế kỉ trước, nhiều chuyện về buôn bán, nên có chỗ xa lạ với chúng ta. Và nếu đọc vội, ta dễ biến lời khuyên thành mẹo để người khác chiều mình. Tác giả nhắc nhiều lần rằng lời khen phải thật lòng, nhưng người đọc hay quên đúng câu ấy.
Vì vậy, cách đọc hợp với tuổi chúng ta là mỗi tuần một chương, thử làm theo một việc nhỏ, rồi tự hỏi mình làm vì quý người kia hay chỉ vì muốn được việc.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi | Sửa thế nào |
|---|---|
| Tóm tắt gần hết bài, chỉ còn hai câu khen ở cuối | Tóm tắt chiếm khoảng một phần ba bài; phần còn lại dành cho điểm đặc sắc, cảm nhận và lời khuyên. |
| Kể lộ kết thúc của truyện | Dừng trước đoạn kết, hoặc nói khéo là có một bất ngờ (như Mẫu 6, Mẫu 7 chỉ hé lộ một phần). |
| Ghi thông tin sai hoặc không kiểm được (năm, số trang, giải thưởng, nhà xuất bản) | Chỉ ghi điều đã xem trên bìa, trang đầu cuốn sách hoặc đối chiếu được ở hai nguồn; không chắc thì bỏ. |
| Khen chung chung: hay, ý nghĩa, cảm động | Mỗi lời khen đi kèm một chi tiết: một nhân vật, một cảnh, một câu văn được diễn lại bằng lời em. |
| Chép tiểu sử dài của tác giả | Chỉ chọn chi tiết liên quan đến cuốn sách (Ê-xu-pe-ri từng lái máy bay, Tốt-tô-chan chính là tác giả lúc nhỏ…). |
| Trích dài nguyên văn từ sách hoặc từ bài viết trên mạng | Trích thật ngắn, đặt trong ngoặc kép, ghi rõ của ai; còn lại diễn đạt bằng lời mình. |
| Quên người đọc | Xác định viết cho ai (bạn cùng lớp, em nhỏ, thầy cô, người đọc bảng tin) rồi chọn xưng hô và giọng văn cho hợp. |
Mẹo cộng điểm: chọn một cuốn sách em đọc thật, đọc gần đây, để có chi tiết riêng; mở bài bằng một hình ảnh, một con số hay một câu hỏi lấy từ chính cuốn sách thay vì câu khái quát về sách; dám nêu một điểm khó đọc hoặc hạn chế, điều này làm lời khen phía trước đáng tin hơn (xem Mẫu 11, Mẫu 12).
Gợi ý bài nói: Trình bày, giới thiệu về một cuốn sách
Cả hai bộ Chân trời sáng tạo (ở Bài 8) và Cánh diều (ở Bài 10) đều có phần Nói và nghe yêu cầu giới thiệu một cuốn sách; ở Kết nối tri thức, hoạt động Ngày hội với sách cũng cần một bài nói tương tự. Muốn đem bài viết ra nói trước lớp, em lưu ý:
- Cắt bớt thông tin, giữ tên sách, tác giả, một năm xuất bản; người nghe khó nhớ nhiều con số.
- Mang theo cuốn sách thật hoặc ảnh bìa, giơ lên khi nhắc tên; chỉ vào tranh minh họa khi nói về hình thức.
- Mở bằng một câu hỏi hoặc một tình huống để người nghe trả lời trong đầu (như Mẫu 10).
- Kể một chi tiết thật kĩ thay cho cả bản tóm tắt; nói câu ngắn, ngừng sau mỗi ý chính.
- Kết bằng lời mời cụ thể: sách ở đâu, mượn thế nào, nên đọc vào lúc nào.
Đoạn mở đầu bài nói tham khảo: Các bạn có biết một con mèo phải làm gì để dạy chim bay không? Mình cũng không biết, cho đến khi đọc cuốn sách nhỏ này. Mình xin giới thiệu với các bạn Chuyện con mèo dạy hải âu bay, cuốn sách mà em gái mình bắt mình đọc to suốt một tuần.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Với đề của Kết nối tri thức (bài thuyết minh có thông tin nhận diện, cách nhìn của tác giả, điểm mới), các Mẫu 3, 5, 7 và 11 có đủ các ý ấy và dài vừa một bài kiểm tra. Đề cuộc thi giới thiệu sách của Chân trời sáng tạo và Cánh diều hợp với Mẫu 3, 9 và 10; muốn viết cho chuyên mục sách hay trên trang web trường, xem Mẫu 2 và Mẫu 4. Khi phải viết nhanh trong một tiết, Mẫu 2, 4, 8 và 12 cho thấy cách gói một cuốn sách trong chưa đầy bốn trăm chữ mà vẫn đủ ba phần. Mẫu 1 và Mẫu 6 cho thấy cùng một yêu cầu có thể viết ở dạng thư hoặc lời giới thiệu ở câu lạc bộ, thay đổi xưng hô cho hợp người đọc.
Xem thêm:
- Bài soạn cùng Bài 10 (Kết nối tri thức 8): Soạn bài Thách thức đầu tiên: Đọc như một hành trình
- Bài soạn cùng Bài 8 (Chân trời sáng tạo 8): Soạn bài Chuyến du hành về tuổi thơ, Soạn bài Tình yêu sách, Soạn bài Tốt-tô-chan bên cửa sổ, Soạn bài Mẹ vắng nhà – Bộ phim tuyệt đẹp về những đứa trẻ thời chiến tranh
- Bài soạn cùng Bài 10 (Cánh diều 8): Soạn bài Lá cờ thêu sáu chữ vàng – tác phẩm không bao giờ cũ, Soạn bài Bộ phim Người cha và con gái, Soạn bài Trong mắt trẻ (Ê-xu-pe-ri)
- Tác giả của các cuốn sách trong bài: Tô Hoài, Nguyễn Nhật Ánh, Ê-xu-pe-ri, Hê-minh-uê, Đặng Thùy Trâm
- Văn bản trích từ các cuốn sách trên: Bài học đường đời đầu tiên, Mẹ tôi (A-mi-xi), Xưởng Sô-cô-la (Rô-a Đan), Trở về (Hê-minh-uê), Nhật kí Đặng Thùy Trâm (Ngữ văn 12)
- Bài cùng đề ở tiểu học: Giới thiệu sách Dế Mèn phiêu lưu kí (Tiếng Việt 5); bàn về việc đọc: Soạn bài Bàn về đọc sách
- Văn mẫu lớp 8 khác: Thuyết minh giải thích một hiện tượng tự nhiên, Nghị luận về một vấn đề của đời sống (lớp 8), Kể lại một chuyến đi tham quan di tích lịch sử, văn hóa