Cuối năm 1938, một chàng trai Quảng Ngãi gửi tập thơ cho Hàn Mặc Tử đọc và nhận lại bản thảo kèm những lời chê cố ý khiêu khích. Anh xé tập thơ, thề trong sáu tháng sẽ thành một thi sĩ khác hẳn, bằng không thì thôi làm thơ. Bích Khê (1916 – 1946) là chàng trai ấy: nhà thơ tên thật Lê Quang Lương, thành viên đến sau của Trường thơ Loạn, người đẩy Thơ mới đi xa nhất về phía thơ tượng trưng với tập Tinh huyết (1939). Ông mất vì bệnh lao ở tuổi ba mươi, phần lớn thơ chỉ được in sau khi ông qua đời.
Lê Quang Lương, con nhà nho ở đất Quảng Ngãi

| Tên thật | Lê Quang Lương |
| Bút danh | Bích Khê (Thơ mới); Lê Mộng Thu (thơ Đường luật) |
| Năm sinh – năm mất | 24/3/1916 – 17/1/1946 |
| Quê | Sinh ở xã Phước Lộc, huyện Sơn Tịnh; sống những năm cuối và mất ở làng Thu Xà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi |
| Thể loại | Thơ Đường luật, ca trù, Thơ mới (khuynh hướng tượng trưng) |
| Tác phẩm tiêu biểu | Tinh huyết (1939), Tinh hoa (sáng tác 1938 – 1944, in sau khi mất); các bài Duy tân, Xuân tượng trưng, Tỳ bà, Tiếng đàn mưa |
| Nhóm, trường phái | Trường thơ Loạn (cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan…) |
| Trong SGK | Tiếng đàn mưa – Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, tập một, Bài 2 |
Lê Quang Lương sinh ngày 24/3/1916 ở xã Phước Lộc, huyện Sơn Tịnh, trong một gia đình nhà nho có truyền thống yêu nước; theo nhiều tài liệu, ông là con thứ chín. Ông nội ông, cử nhân Lê Trọng Khanh, từng làm quan ở Viện Cơ mật rồi cáo về; cha ông tham gia phong trào Đông Du đầu thế kỷ XX. Cậu bé học tiểu học ở quê và ở Đồng Hới, lên trung học ở Huế, rồi ra Hà Nội học ban tú tài nhưng bỏ dở giữa chừng.
Năm 1934, ông cùng người chị ruột là Ngọc Sương vào Phan Thiết học thêm và mở trường dạy tư. Năm 1936, chị Ngọc Sương bị mật thám Pháp bắt, trường đóng cửa, ông về quê. Hai chị em trở lại Phan Thiết mở trường lần nữa năm 1938, và lần nữa trường bị chính quyền thực dân buộc đóng cửa.
Lê Mộng Thu và những vần thơ Đường luật
Trước khi thành Bích Khê, ông là Lê Mộng Thu. Năm 1931, mới mười lăm tuổi, ông đã làm thơ Đường luật và ca trù, gửi đăng các báo Tiếng Dân, Tiểu thuyết thứ Năm, Người mới. Giai đoạn này kéo dài đến khoảng năm 1936, để lại chừng một trăm bài thơ luật mà gia đình và bạn thơ về sau gom lại thành tập thơ cũ. Người đọc quen một Bích Khê nổi loạn có lẽ ít nghĩ ông từng thành thạo niêm luật như một nhà nho trẻ; nhưng chính vốn thơ cũ ấy giải thích vì sao thơ mới của ông, dù táo bạo đến đâu, vẫn giữ được nhạc điệu chặt và những câu đối xứng gần như Đường thi.
Lời thề sáu tháng và tập Tinh huyết
Bích Khê biết Hàn Mặc Tử từ năm 1935, khi nhà thơ Quy Nhơn vào Phan Thiết. Lần gặp đầu không mấy thân. Phải đến năm 1937, khi đọc bản đánh máy tập Đau thương, ông mới thật sự phục người bạn thơ hơn mình bốn tuổi và bắt đầu thư từ qua lại. Rồi đến chuyện bản thảo bị trả về cuối năm 1938. Theo Quách Tấn, người bạn thân nhất của nhóm, chính những lời khiêu khích ấy đã làm Bích Khê bật dậy. Chỉ ít tháng sau, ông có một tập thơ mới hoàn toàn.
Tinh huyết ra đời năm 1939, là tập thơ duy nhất in khi ông còn sống, có lời tựa của Hàn Mặc Tử. Tập gồm khoảng bốn mươi bài, chia thành các phần mang tên rất lạ với độc giả đương thời: Nhạc và lệ, Đẹp và dâm, Cuồng và ánh sáng, Châu. Trong lời tựa, Hàn Mặc Tử viết: “Ta có thể sánh văn thơ của Bích Khê như đóa hoa thần dị”. Lời khen ấy gần như định giọng cho mọi bài viết về Bích Khê sau này.
Một năm sau, ngày 11/11/1940, Hàn Mặc Tử mất ở trại phong Quy Hòa. Tài liệu kể Bích Khê như người mất hồn. Hai số phận giống nhau đến lạ: cùng đi từ thơ Đường luật sang Thơ mới, cùng mắc bệnh hiểm nghèo, cùng chết trẻ. Bạn đọc có thể đọc thêm tiểu sử Hàn Mặc Tử để thấy những điểm gặp nhau ấy.
Người đến sau của Trường thơ Loạn
Trường thơ Loạn hình thành quanh Bình Định – Quy Nhơn vào khoảng 1936 – 1938 (các tài liệu không thống nhất năm), với Hàn Mặc Tử là linh hồn. Hay bị nhầm là Bích Khê thuộc nhóm “Bàn Thành tứ hữu”; thực ra bốn người bạn Bàn Thành là Quách Tấn, Hàn Mặc Tử, Yến Lan và Chế Lan Viên. Bích Khê gia nhập về sau, nhưng lại là người đi đến tận cùng thi pháp của Trường thơ Loạn. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi nhận xét thơ ông mang rõ phong cách của trường thơ này, và tính tượng trưng là đặc điểm xuyên suốt toàn bộ thơ ông.
Sau khi Hàn Mặc Tử mất, nhóm dần tan. Yến Lan, Chế Lan Viên và Bích Khê vẫn chơi thân, nhưng không ai còn đủ sức giữ một “trường thơ”. Riêng Quách Tấn ở lại làm người giữ gìn: ông là người lưu giữ thơ Bích Khê đầy đủ nhất và viết cuốn Đời Bích Khê. Còn Chế Lan Viên, mấy chục năm sau, ví Bích Khê như một đỉnh núi lạ khi đặt cạnh Nguyễn Bính, người mà ông gọi là đồng bằng thân thuộc.
Thơ tượng trưng kiểu Bích Khê: nhạc, màu và nhục cảm
Sau giai đoạn thơ Đường, Bích Khê chịu ảnh hưởng sâu của thơ Pháp, nhất là Baudelaire. Ông học ở thơ tượng trưng Pháp cách để âm thanh và màu sắc tự mang nghĩa, cách để một hình ảnh gọi ra một cảm giác khác hẳn. Hai câu trong bài Tỳ bà là ví dụ hay được nhắc nhất:
Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông
Câu thơ gần như toàn thanh bằng, đọc lên nghe như tiếng đàn ngân. Chữ “vàng” vừa là màu lá, vừa là ánh thu, vừa là thứ gì quý giá đang rơi mất. Ở Tinh huyết còn có một mảng khác làm nhiều người đương thời giật mình: thơ về thân thể, về khoái cảm, về cái chết được tả bằng hương sắc. Bài Duy tân, được coi như tuyên ngôn nghệ thuật của ông, đòi một thứ thơ “lõa thể”, đẹp và mới mẻ trên nền phương Đông cổ kính.
Có thể không thích mảng thơ nhục cảm ấy, nhưng khó phủ nhận Bích Khê là người làm được điều mà Thơ mới trước đó chưa ai làm trọn: viết một tập thơ tượng trưng thật sự bằng tiếng Việt. Nhiều nhà nghiên cứu coi Tinh huyết là dấu mốc Thơ mới bước từ lãng mạn sang tượng trưng, thậm chí chạm tới siêu thực.
Tinh hoa và bài thơ Tiếng đàn mưa
Từ năm 1938 đến 1944, Bích Khê tiếp tục viết, gom thành tập Tinh hoa. Ông không kịp in nó. Theo nhà nghiên cứu Phạm Khải trên trang của Hội Nhà văn, bản Tinh hoa do gia đình biên soạn được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 1997; trước đó, năm 1988, Sở Văn hóa Thông tin Nghĩa Bình đã in tuyển Thơ Bích Khê với lời giới thiệu của Chế Lan Viên.
Tiếng đàn mưa thuộc tập Tinh hoa. Đây là một bài khác hẳn những bài “điên” trong Tinh huyết: bốn khổ song thất lục bát, nhẹ nhàng, gần với ca dao. Toàn bài chỉ xoay quanh mấy chữ mưa, hoa, lầu, thềm, đảo đi đảo lại như những nốt nhạc lặp:
Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụng
Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan
Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn
Nước non rả rích giọng đàn mưa xuân.
Đọc chậm sẽ thấy cơn mưa ấy dần chuyển từ ngoài cảnh vào lòng người: từ mưa xuân, mưa hoa sang mưa “trong ý khách”, rồi thành giọt lệ của kẻ tha hương. Phân tích kỹ hơn có ở bài phân tích Tiếng đàn mưa.
Tiếng đàn mưa trong sách giáo khoa Ngữ văn 9
| Văn bản | Sách – bài học | Học bài trên Văn VN |
|---|---|---|
| Tiếng đàn mưa (Bích Khê) | Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, tập một – Bài 2 (Những cung bậc tâm trạng), văn bản đọc thứ hai | Soạn bài Tiếng đàn mưa Tiếng đàn mưa: tác giả, tác phẩm, bố cục |
Bài thơ được học sau đoạn trích Chinh phụ ngâm, nên điểm cần chú ý là thể song thất lục bát: cùng một thể thơ cổ, Bích Khê làm nó mang nhạc điệu của Thơ mới bằng phép lặp và đảo từ. Chú thích trong SGK giới thiệu ông là nhà thơ có nhiều tìm tòi, cách tân trong phong trào Thơ mới, thơ giàu tính nhạc; khi viết đoạn văn về tác giả, học sinh có thể dựa vào hai ý đó rồi nêu thêm Tinh huyết, Tinh hoa.
Hai lời đánh giá: Hàn Mặc Tử và Hoài Thanh
Ngoài lời tựa của Hàn Mặc Tử đã nhắc ở trên, đánh giá đáng chú ý nhất là của Hoài Thanh – Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam. Hai ông chọn của Bích Khê hai bài Duy tân và Xuân tượng trưng, khen nhiều câu thơ đẹp, nhưng thành thật thừa nhận chưa nói được nhiều về ông, vì “Mà thơ Bích Khê, đọc đôi ba lần thì cũng như chưa đọc”. Câu ấy không phải lời chê. Nó nói đúng cái khó của thơ tượng trưng: phải đọc nhiều lần, để âm thanh và hình ảnh tự mở ra. Hội thảo khoa học đầu tiên về thơ Bích Khê, do Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ngãi tổ chức năm 2006, cho thấy giới nghiên cứu vẫn đang đọc lại ông theo tinh thần ấy.
Bệnh lao và những năm cuối ở làng Thu Xà
Khoảng giữa những năm 1930, Bích Khê mắc bệnh lao phổi (các tài liệu ghi năm 1935 hoặc 1937), phải chữa trị ở Huế hơn một năm. Dưỡng bệnh xong, ông lên sống trên núi Thiên Ấn, rồi lênh đênh trên một chiếc thuyền quanh các ngả Sa Kỳ, Trà Khúc. Năm 1941 ông dạy học ở Huế; năm 1942 bệnh tái phát, ông về hẳn làng Thu Xà, xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa. Ngày 17/1/1946, ông mất tại đây, khi chưa tròn ba mươi tuổi.
Mộ ông nằm ở nghĩa trang thôn Hòa Phú, xã Nghĩa Hòa. Năm 2016, nhân kỷ niệm một trăm năm ngày sinh, Nhà lưu niệm Bích Khê ở Thu Xà khánh thành giai đoạn một, và Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ngãi in một tuyển tập Bích Khê dày gần nghìn trang. Thành phố Quảng Ngãi có con đường mang tên ông.
Xem thêm: