Một người cha bị giặc Minh bắt giải sang phương Bắc, đứng ở ải biên dặn con quay về đền nợ nước: đó là đề tài của Hai chữ nước nhà, bài thơ yêu nước được truyền tụng rộng nhất những năm 1920. Trần Tuấn Khải (1895 – 1983), tác giả bài thơ, là nhà thơ, nhà báo, dịch giả quê Nam Định, bút danh Á Nam, người viết các tập Duyên nợ phù sinh, Bút quan hoài, Với sơn hà. Thơ ông từng bị chính quyền thực dân cấm, sách bị tịch thu, chính ông từng bị giam ở Hỏa Lò.
Làng Quang Xán và bà mẹ thuộc nhiều ca dao

| Tên thật | Trần Tuấn Khải (陳峻塏) |
| Bút danh | Á Nam; ngoài ra còn ký Đông Minh, Lâm Tuyền Khách, Giang Hồ Khách và một số tên khác |
| Năm sinh – năm mất | 1895 – 7/3/1983 |
| Quê | Làng Quang Xán, xã Mỹ Hà, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định |
| Thể loại | Thơ (lục bát, song thất lục bát, hát nói, phong dao), tiểu thuyết, kịch, dịch thuật, báo chí |
| Tác phẩm tiêu biểu | Duyên nợ phù sinh I, II; Bút quan hoài I, II; Hồn tự lập; Với sơn hà I, II; tiểu thuyết Gương bể dâu, Thiên Thai lão hiệp |
| Dịch thuật | Thủy hử, Đông Chu liệt quốc, Hồng lâu mộng, Liêu trai chí dị… |
| Trong SGK | Hai chữ nước nhà (đoạn trích) – Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, tập hai, Bài 8; trước đó ở Ngữ văn 8 chương trình cũ |
Trần Tuấn Khải sinh năm 1895 ở làng Quang Xán, huyện Mỹ Lộc, sát thành Nam Định. Thân phụ ông đỗ cử nhân khoa Canh Tý (1900); về tên cụ, Wikipedia và một số bài báo ghi Trần Khải Thụy, còn PGS.TS Đoàn Lê Giang, dựa vào cuốn gia phả do chính Á Nam soạn năm 1966, ghi Trần Văn Hoán. Theo bài nghiên cứu của ông Giang, cụ có tư tưởng duy tân, là bạn của Phan Bội Châu và Nguyễn Bá Học. Mẹ ông là người thuộc nhiều ca dao, hay đặt lời ru con, và chất ca dao ấy về sau thấm vào thơ người con trai.
Cậu bé học chữ Hán với cha từ rất sớm (tài liệu ghi từ năm bốn hoặc sáu tuổi), mười hai tuổi đã làm được các thể thơ chữ Hán. Lớn lên giữa lúc phong trào Đông Kinh nghĩa thục lan rộng, chàng trai nho học sớm đọc Tân thư và nuôi chí hướng của những sĩ phu duy tân.
Á Nam và những bút danh khác
Á Nam (亞南) là tên ký quen thuộc nhất, đến mức nhiều người gọi ông là “cụ Á Nam” hơn là gọi tên thật. Các tài liệu còn kê thêm Đông Minh, Đông Á Thị, Lâm Tuyền Khách, Giang Hồ Khách, Tiểu Hoa Nhân, Côi Hoàng Cư Sĩ; có chỗ chép chữ cuối thành Lôi Hoàng Cư Sĩ, có chỗ thành Tiếu Hoa Nhân. Những biệt hiệu kiểu Lâm Tuyền Khách (khách rừng suối), Giang Hồ Khách (khách giang hồ) cho thấy hình ảnh ông tự chọn: một kẻ sĩ lỡ thời, nặng lòng với nước mà không có chỗ thi thố. Hình ảnh ấy hiện rõ nhất qua nhân vật “anh Khóa” trong thơ ông.
Thơ yêu nước dưới vòng kiểm duyệt đầu thế kỷ XX
Theo lời Á Nam kể lại, bài Tiễn chân anh Khóa xuống tàu ra đời năm 1914, khi ông tiễn một người bạn xuống tàu ở Hải Phòng, giữa lúc phong trào Đông Kinh nghĩa thục còn khơi dậy lòng yêu nước. Anh Khóa, chàng học trò nghèo phải bỏ quê đi xa, trở thành biểu tượng cho lớp thanh niên muốn ra đi tìm đường. Bài thơ được hát khắp nơi. PGS Đoàn Lê Giang thuật lại lời ông kể: khoảng năm 1928 – 1929 ông vào Nam, đi đến bến xe, nhà ga nào cũng nghe người ta hát bài ấy, và viên trưởng ga Đà Nẵng thấy tên ông trên giấy tờ đã mời vào phòng nói chuyện, rồi tiễn tận lên tàu.
Năm 1921, tập Duyên nợ phù sinh I ra mắt ở Hà Nội; tập II tiếp theo (sách ghi năm 1922 hoặc 1923). Ông vào làm biên tập cho nhật báo Khai Hóa và viết cho nhiều tờ báo khác: Thực nghiệp dân báo, Trung Bắc tân văn, Nam Phong, Hữu Thanh, Tiếng Dân. Cách nói của Á Nam là cách nói bóng gió: mượn chuyện xưa, mượn lời người khác, mượn hình ảnh “gánh nước đêm”, “con chim”, “người đi xa”. Kiểm duyệt khó bắt bẻ từng chữ, nhưng người đọc thì hiểu cả.
Ông cũng viết nhiều bài phong dao, tức thơ phỏng theo lối ca dao, khéo đến mức người đọc tưởng là của dân gian. Theo PGS Đoàn Lê Giang, bài Anh đi anh nhớ quê nhà in trong Bút quan hoài I, và nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan từng xếp nhầm hai bài phong dao của Á Nam vào sách ca dao của mình. Hai câu đầu vẫn được nhiều người thuộc như một câu hát quê:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Hai chữ nước nhà: mượn lời Nguyễn Phi Khanh dặn con
Hai chữ nước nhà là bài mở đầu tập Bút quan hoài I (1924, theo chú thích SGK). Đề tài lấy từ đầu thế kỷ XV: quân Minh sang xâm lược, Nguyễn Phi Khanh bị bắt giải sang Trung Quốc, con trai là Nguyễn Trãi khóc tiễn cha đến tận ải Bắc; người cha khuyên con quay về lo trả thù nhà, đền nợ nước. Toàn bài là lời người cha, viết bằng thể song thất lục bát, giọng thống thiết như lời trăng trối.
Câu chuyện xảy ra năm trăm năm trước, nhưng độc giả những năm 1920 đọc nó như chuyện của chính mình. Những câu nói về “quân Minh”, về cảnh “nòi giống lầm than”, về kiếp “luồn cúi” đều có thể thay bằng thực dân Pháp và những kẻ cam tâm làm tay sai. Một khổ được dạy trong nhà trường nhiều thế hệ:
Con nay cũng một người trong nước
Phải nhắc câu Gia, Quốc đôi đường
Làm trai hồ thỉ bốn phương
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng
Muốn đọc toàn văn và các phần chú giải, có thể xem trang bài thơ Hai chữ nước nhà và bài phân tích Hai chữ nước nhà.
Sách bị cấm, người vào Hỏa Lò
Thơ yêu nước công khai đến mấy cũng có giới hạn. Theo PGS Đoàn Lê Giang, tập Hồn tự lập (in khoảng 1926 – 1927) mới ra sáu ngày đã bị cấm, nhưng ba nghìn bản đã bán hết; vài tháng sau đến lượt Bút quan hoài. Chính quyền cho người đi tịch thu, cấm lưu hành và tàng trữ. Năm 1927, khi Phan Bội Châu bị đưa ra xử, Á Nam cùng một nhà nho khác xin vào tù thay cụ Phan, dĩ nhiên không được chấp thuận; chi tiết này ông tự ghi trong gia phả. Ông còn bí mật vào Huế thăm cụ Phan khi cụ bị an trí. Bạn đọc tìm hiểu thêm về nhà chí sĩ ở trang tác giả Phan Bội Châu.
Năm 1932, vì cuốn Chơi xuân năm Nhâm Thân thuật lại việc Pháp đàn áp cuộc khởi nghĩa Yên Bái, ông cùng chủ nhà sách Nam Ký bị bắt giam ở Hỏa Lò. Wikipedia ghi ông bị giam hơn hai tháng rồi bị xử án treo; bài của ông Giang ghi ông bị đem ra xử ba lần, không đủ chứng cứ nên chỉ chịu án treo. Ra tù, ông mất cả vợ lẫn đứa con nhỏ.
Từ truyện võ hiệp đến Hồng lâu mộng: người dịch sách Tàu
Từ sau 1930, kiểm duyệt ngặt hơn, Á Nam làm thơ ít đi và quay sang viết, dịch truyện. Ông dịch Thủy hử, Đông Chu liệt quốc, Hồng lâu mộng, Liêu trai chí dị, cả sách Mạnh tử, cùng hàng loạt truyện võ hiệp in ở Hà Nội giữa thập niên 1930. Bộ ông tự viết theo lối võ hiệp, Thiên Thai lão hiệp, được bạn đọc đón nhận nhiều nhất. Trước đó, từ năm 1917, ông đã đăng hơn hai mươi bài dịch thơ Đường trên Đông Dương tạp chí.
Năm 1936 và 1949, ông in hai tập Với sơn hà. Bài Tráng sĩ hành thời kỳ này được PGS Đoàn Lê Giang đánh giá rất cao, xếp vào dòng thơ hành hiệp bi tráng trước 1945 bên cạnh những bài “hành” nổi tiếng của Thâm Tâm, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính.
Ba mươi năm cuối đời ở Sài Gòn
| Năm | Sự kiện |
|---|---|
| 1948 | Sau thời gian tản cư, về Hà Nội dạy học ở các trường Chu Văn An, Trưng Vương, Nguyễn Trãi (theo Đoàn Lê Giang) |
| 1954 | Vào Nam; làm việc ở Thư viện Quốc gia, Viện Khảo cổ, sau làm chuyên viên Hán học ở Nha Văn hóa |
| 1965 hoặc 1966 | Ký kiến nghị đòi hòa bình, bị buộc thôi việc |
| 1966 | Làm Chủ tịch danh dự Lực lượng Bảo vệ Văn hóa Dân tộc |
| Sau 1975 | Làm cố vấn Hội Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh; in tập thơ Hậu anh Khóa |
| 7/3/1983 | Mất tại Thành phố Hồ Chí Minh (Wikipedia ghi thọ 88 tuổi, Đoàn Lê Giang ghi 89 tuổi theo cách tính tuổi ta) |
Gia đình ông là một gia đình thơ: nữ sĩ Tuệ Mai, nhà thơ Lan Hinh, nhà thơ Hồng Khương đều là con ông. Năm 1984, một năm sau khi ông mất, Nhà xuất bản Văn học in tuyển Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải. Trong bài “Đọc thơ Á Nam Trần Tuấn Khải” in ở đầu sách, Xuân Diệu nhớ lại: “Tôi không quên lúc học lớp nhì, 14 tuổi, tôi mượn được quyển “Bút quan hoài”.” Cậu học trò ấy chép những đoạn mình thích nhất vào một cuốn vở riêng, và mấy chục năm sau vẫn gọi cuốn vở đó là “tiếng gọi của lương tâm”. Ở Thủ Đức hiện có Á Nam lưu niệm đường do nữ sĩ Lan Hinh dựng, hình thành năm 1998.
Hai chữ nước nhà trong chương trình Ngữ văn
| Chương trình | Vị trí | Bài học trên Văn VN |
|---|---|---|
| Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo (hiện hành) | Tập hai, Bài 8 – Những cung bậc tình cảm (đoạn trích) | Soạn bài Hai chữ nước nhà |
| Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo | Tác giả, xuất xứ, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật | Hai chữ nước nhà: tác giả, tác phẩm |
| Ngữ văn 8 (chương trình cũ, từ 2003) | Phần đầu bài thơ, đọc thêm | — |
Văn bản trong SGK hiện hành được in theo Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải (Nhà xuất bản Văn học, 1984). Chú thích SGK giới thiệu ông là nhà thơ, nhà văn, nhà báo, dịch giả, quê Quang Xán, Mỹ Lộc, Nam Định. Khi học, nên đặt bài thơ cạnh những tác phẩm cùng chủ đề lòng yêu nước đầu thế kỷ XX, chẳng hạn thơ Tản Đà, người cùng thời, cũng nặng lòng với non nước nhưng nói bằng một giọng khác hẳn.