Để soạn một cuốn hợp tuyển thơ, hai anh em ông kể đã đọc chừng một vạn bài thơ, “trong số ấy có non một vạn bài dở”. Cuốn sách ra đời từ công việc kiên nhẫn ấy là Thi nhân Việt Nam, và người viết phần lớn những lời bình trong đó là Hoài Thanh. Hoài Thanh (1909 – 1982), tên khai sinh Nguyễn Đức Nguyên, là nhà phê bình văn học Việt Nam, người đã cổ vũ và tổng kết phong trào Thơ mới. Sau năm 1945, ông giữ nhiều cương vị trong ngành văn hóa, văn nghệ và được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000.
Nguyễn Đức Nguyên, cậu học trò xứ Nghệ bị trục xuất khỏi Bắc Kỳ

| Tên khai sinh | Nguyễn Đức Nguyên |
| Bút danh | Hoài Thanh; ngoài ra (theo Wikipedia) Văn Thiên, Le Nhà Quê |
| Năm sinh – năm mất | 15/7/1909 – 14/3/1982 |
| Quê quán | Xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An |
| Thể loại | Phê bình, tiểu luận, lý luận văn học; bút ký |
| Tác phẩm tiêu biểu | Văn chương và hành động (1936), Thi nhân Việt Nam (1942, cùng Hoài Chân), Nói chuyện thơ kháng chiến (1951), Phê bình và tiểu luận (3 tập) |
| Giải thưởng | Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt II, 2000, truy tặng) |
| Trong SGK hiện hành | Ý nghĩa văn chương (Ngữ văn 9); Một thời đại trong thi ca (Ngữ văn 11) |
Ông sinh trong một gia đình nhà nho nghèo ở Nghệ An, gia đình từng có người theo phong trào Đông Du. Lớn lên, ông học ở Vinh rồi ra Hà Nội. Năm 1927, chàng thanh niên mười tám tuổi gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng. Ba năm sau, khi đang học trường Bưởi, ông bị bắt, bị kết án treo và bị trục xuất về quê.
Năm 1931, ông vào Huế. Ở đó ông làm công cho một nhà in, dạy học tư, viết văn, viết báo. Huế những năm 1930 là nơi ông trở thành nhà phê bình, và cũng là nơi ông sẽ tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Bài báo về Thơ mới năm 1934 và cuộc tranh luận “văn chương là văn chương”
Theo GS Phong Lê, một trong những bài phê bình đầu tiên Hoài Thanh đăng báo mang tên Thơ mới, in trên Tiểu thuyết thứ bảy số ra ngày 29/12/1934. Lúc ấy thơ mới còn chật vật giữa biển thơ cũ, nhiều nhà cựu học có uy tín còn phản đối. Một cây bút hai mươi lăm tuổi đứng hẳn về phía cái mới là chuyện cần can đảm.
Ngay sau đó, ông bị cuốn vào cuộc tranh luận nổi tiếng giữa hai quan niệm nghệ thuật, kéo dài trong nửa sau thập niên 1930. Phía “vị nhân sinh” xếp ông vào phái “nghệ thuật vị nghệ thuật”; nhiều sách về sau cũng gọi ông là người đứng đầu phái ấy. Nhưng như Phong Lê lưu ý, Hoài Thanh chưa bao giờ tự nhận mình thuộc phái đó. Chủ trương của ông gói trong một câu ngắn: văn chương là văn chương, tức là văn chương có giá trị riêng của nó, không phải cái loa cho một mục đích nào khác.
Năm 1936, ông in cuốn Văn chương và hành động, viết chung với Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư; theo Phong Lê, cuốn sách bị chính quyền thực dân tịch thu. Cũng năm ấy, ông viết bài mà nay học sinh lớp 9 đang học: Ý nghĩa văn chương.
Thi nhân Việt Nam: một vạn bài thơ, bốn mươi lăm nhà thơ
Thi nhân Việt Nam in năm 1942, do Nguyễn Đức Phiên xuất bản. Nguyễn Đức Phiên cũng chính là Hoài Chân, em trai Hoài Thanh và đồng tác giả cuốn sách. Một số tài liệu ghi năm 1941, vì nhan đề sách kèm khung thời gian “1932 – 1941”.
Cuốn sách gồm ba phần. Mở đầu là tiểu luận Một thời đại trong thi ca, giải thích Thơ mới ra đời thế nào và vì sao. Phần chính tuyển thơ của bốn mươi lăm nhà thơ mới, kèm Tản Đà như một gạch nối giữa thơ cũ và thơ mới; mỗi tác giả có một lời bình ngắn, có khi chỉ vài dòng. Cuối sách là bài Nhỏ to, nơi tác giả tâm sự về công việc chọn thơ.
Những lời bình ấy được nhớ lâu hơn nhiều bài nghiên cứu dài. Đọc lời ông viết về Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, người ta có cảm giác một người đọc thơ đang trò chuyện với mình. Bài Hoài Thanh nhận xét về Hàn Mặc Tử trên Văn VN là một ví dụ. Theo báo Znews, đến nay cuốn sách đã được in khoảng ba mươi lần, một con số hiếm có với sách nghiên cứu văn học.
Bình mà không phê: cách đọc thơ của Hoài Thanh
Hoài Thanh tự tóm tắt cách làm của mình bằng câu nổi tiếng trong Thi nhân Việt Nam: “lấy hồn tôi để hiểu hồn người”. Ông hầu như không viện dẫn lý thuyết, không dùng chữ hàn lâm. Cái ông tin là trực giác của người đọc nhiều và đọc kỹ.
Phong Lê nhận xét rằng trong hai chữ “phê bình”, Hoài Thanh chủ yếu “bình” chứ ít khi “phê”: ông đi tìm cái hay để chỉ ra, còn cái dở thì ông cho là không đáng bàn. Cách làm ấy đem lại những trang bình thơ tài hoa, dù cũng vì thế mà trang viết của ông nghiêng hẳn về phía ngợi khen.
Nhận xét của người biên tập, không trích của ai: đọc Hoài Thanh nên đọc chậm, vì cái hay nằm ở từng chữ ông chọn để gọi tên một hồn thơ, hơn là ở hệ thống lập luận.
Sau 1945: những cương vị và một lần quay lưng với Thơ mới
Cách mạng thành công, Hoài Thanh làm Chủ tịch Hội Văn hóa cứu quốc ở Huế (tháng 9/1945), rồi lần lượt dạy ở Đại học Hà Nội, làm việc ở Đài Tiếng nói Việt Nam. Các cương vị lớn hơn đến về sau:
| Thời gian | Công việc |
|---|---|
| 1958 – 1968 | Tổng thư ký Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam |
| 1959 – 1969 | Phó viện trưởng Viện Văn học |
| 1969 – 1975 | Chủ nhiệm tuần báo Văn nghệ |
| Khóa I, II | Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam |
Ông vẫn viết đều: Quyền sống con người trong “Truyện Kiều” (1949), Nói chuyện thơ kháng chiến (1951), ba tập Phê bình và tiểu luận (1960, 1965, 1971), Phan Bội Châu (1978). Nhưng có một điều lạ. Cũng như nhiều văn nghệ sĩ đi theo cách mạng, từ đầu thập niên 1950 ông nhiều lần phê phán chính Thơ mới và cuốn sách của mình.
GS Phong Lê kể rằng năm 1982, khi Nhà xuất bản Văn học làm Tuyển tập Hoài Thanh lúc ông đã nằm trên giường bệnh, ông nhất định không cho đưa Một thời đại trong thi ca vào. Vậy mà trước khi mất, ông lại tâm sự với con trai rằng nếu không có Thi nhân Việt Nam thì chưa chắc người ta đã công nhận ông là nhà văn. Hoài Thanh mất ngày 14/3/1982 tại Hà Nội. Cũng theo Phong Lê, mười năm sau, năm 1992, một hội thảo kỷ niệm năm mươi năm cuốn sách ra đời đã nhìn nhận lại giá trị của nó.
Hoài Thanh trong sách giáo khoa: Ý nghĩa văn chương và Một thời đại trong thi ca
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Ý nghĩa văn chương (1936) | Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 2 (Giá trị của văn chương) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Một thời đại trong thi ca (trích Thi nhân Việt Nam) | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 3; Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 2 – Bài 9 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Xuân Diệu (trích Thi nhân Việt Nam) | Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 1 (đọc kết nối chủ điểm) | Giới thiệu tác giả Xuân Diệu |
Ý nghĩa văn chương mở đầu bằng một câu chuyện Ấn Độ xưa về nhà thơ khóc con chim bị thương, rồi đi đến kết luận rằng nguồn gốc của thi ca là lòng thương người và muôn vật. Một thời đại trong thi ca thì cho học sinh thấy một bài nghị luận văn học vừa chặt về lập luận vừa đẹp về câu chữ. Muốn ôn nhanh nội dung, có thể đọc bài tóm tắt Một thời đại trong thi ca.
Ngoài ra, những lời bình của Hoài Thanh thường được trích trong các bài viết về nhà thơ mới; ví dụ bài giới thiệu tác giả Tế Hanh trên Văn VN dẫn lại nhận xét của ông về thơ Tế Hanh.