Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là tiếng nói dịu dàng mà day dứt của một nhà thơ nữ đi qua chiến tranh: từ “Khoảng trời, hố bom” viết năm 1972 đến bài “Chuyện cổ nước mình” quen thuộc với học sinh và những bài thơ tình đầy nữ tính. Hãy cùng Văn VN điểm qua cuộc đời, các tập thơ và những bài thơ tiêu biểu của bà.
Đôi nét về nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
- Tên: Lâm Thị Mỹ Dạ.
- Năm sinh – mất: 18/9/1949 – 6/7/2023.
- Quê quán: huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (nay thuộc tỉnh Quảng Trị).
- Sự nghiệp: cán bộ Ty Văn hóa Quảng Bình; học Trường Viết văn Nguyễn Du (1978 – 1983); phóng viên, biên tập viên Tạp chí Sông Hương; ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III, ủy viên Hội đồng thơ khóa V.
- Giải thưởng: giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ (1972 – 1973); Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cho tập Bài thơ không năm tháng; Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2007).

Lâm Thị Mỹ Dạ lớn lên ở Quảng Bình, vùng đất tuyến lửa những năm chống Mỹ. Tên tuổi bà được biết đến rộng rãi từ đầu thập niên 1970, khi chùm thơ trong đó có “Khoảng trời, hố bom” đoạt giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ. Sau chiến tranh, bà học Trường Viết văn Nguyễn Du rồi gắn bó lâu dài với Huế, làm phóng viên, biên tập viên Tạp chí Sông Hương và là ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế.
Chồng bà là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Những năm cuối đời, Lâm Thị Mỹ Dạ mắc bệnh Alzheimer suốt 14 năm. Bà qua đời sáng 6/7/2023 tại nhà riêng ở TP Hồ Chí Minh; chỉ 18 ngày sau, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng qua đời. Bà từng có một câu nói được nhiều người nhắc lại: “Đàn bà làm thơ trăm cái khổ”, như lời tự bạch về sự nhạy cảm và những thiệt thòi của người phụ nữ cầm bút.
Xem tiểu sử tác giả Lâm Thị Mỹ Dạ – cuộc đời, sự nghiệp, phong cách và nhận định.
Lâm Thị Mỹ Dạ có những tác phẩm nào?
Ngoài thơ, Lâm Thị Mỹ Dạ còn viết nhiều truyện cho thiếu nhi. Danh mục dưới đây theo Wikipedia tiếng Việt và báo Nhân Dân (những tập các nguồn ghi năm khác nhau được để trống năm):
Thơ
- Trái tim sinh nở (1974)
- Bài thơ không năm tháng (1983)
- Hái tuổi em đầy tay
- Mẹ và con (1994)
- Đề tặng một giấc mơ
- Cốm non (2005)
- Hồn đầy hoa cúc dại (2007)
- Thơ tình Lâm Thị Mỹ Dạ (2008)
Truyện thiếu nhi
- Danh ca của đất (1984)
- Nai con và dòng suối (1987)
- Phần thưởng muôn đời (1987)
- Nhạc sĩ Phượng Hoàng (1989)
- Tuyển tập thơ và truyện thiếu nhi (2006)
Năm 2007, bà được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật với ba tập Trái tim sinh nở, Bài thơ không năm tháng và Đề tặng một giấc mơ. Theo trang tin Hội Nhà văn Việt Nam, tập Cốm non đã được dịch sang tiếng Anh và phát hành tại Mỹ năm 2005.
Những bài thơ tiêu biểu của Lâm Thị Mỹ Dạ
Các tác phẩm của Lâm Thị Mỹ Dạ vẫn trong thời hạn bảo hộ bản quyền (bà mất năm 2023), nên Văn VN chỉ trích vài câu kèm lời bình; bạn đọc có thể xem toàn văn và bài phân tích qua các đường dẫn bên dưới.
1/ Khoảng trời, hố bom (1972)
“Khoảng trời, hố bom” ra đời năm 1972, giữa những ngày ác liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ, khi máy bay địch ngày đêm đánh phá các tuyến đường chi viện. Bài thơ kể lại câu chuyện một cô gái mở đường đã thắp lửa đánh lạc hướng máy bay địch để cứu con đường và hi sinh dưới làn bom:
Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường
Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương
Cho đoàn xe kịp giờ ra trận
Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
Mở đầu bằng “Chuyện kể rằng”, bài thơ mang giọng kể dân gian, nhẹ nhàng mà thấm thía. Điểm đặc sắc là cách nhà thơ biến hố bom, dấu tích của sự hủy diệt, thành nơi chứa một khoảng trời: em nằm dưới đất sâu như khoảng trời nằm yên trong đất, da thịt em hóa thành mây trắng và tâm hồn em đêm đêm tỏa sáng như những vì sao. Nỗi đau được nâng lên thành sự bất tử, cái chết hóa thành vẻ đẹp. Bài thơ nằm trong chùm thơ đoạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1972 – 1973 và hiện là văn bản tự đánh giá trong Ngữ văn 10 bộ Cánh diều.
Đọc thêm: 20+ bài phân tích bài thơ Khoảng trời – Hố bom.
2/ Chuyện cổ nước mình (Truyện cổ nước mình)
Theo Wikipedia, bài thơ lục bát này ra đời năm 1979. Bài thơ từng in trong sách Tiếng Việt 4 với nhan đề “Truyện cổ nước mình” và nay có mặt trong Ngữ văn 6 với nhan đề “Chuyện cổ nước mình”. Mở đầu là lời bày tỏ tình yêu với kho tàng truyện cổ dân tộc:
Tôi yêu truyện cổ nước tôi
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa
Thương người rồi mới thương ta
Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm
Bài thơ nhắc tới những câu chuyện quen thuộc như Tấm Cám (“Thị thơm thì giấu người thơm”), Đẽo cày giữa đường, để rút ra bài học về lòng nhân hậu, sự công bằng và bản lĩnh sống. Với nhà thơ, truyện cổ là sợi dây nối đời cha ông với đời con cháu, giúp người đọc hôm nay “nhận mặt ông cha của mình”. Thể lục bát nhịp nhàng, giọng tâm tình, nhiều câu mang dáng dấp ca dao khiến bài thơ dễ thuộc, dễ nhớ.
Xem bài soạn: Soạn bài Chuyện cổ nước mình – Ngữ văn 6.
3/ Một mình
Ở những bài thơ viết về sau, giọng thơ Lâm Thị Mỹ Dạ lắng lại, nhiều suy tư về thân phận và nỗi cô đơn. “Một mình” là bài lục bát ngắn, chữ “một mình” được lặp đi lặp lại như một điệp khúc:
Bây giờ chỉ một mình ta
Một mình ta với bao la một mình
Con người nhỏ bé đứng giữa “bao la”, tự tung hứng với trái tim và vết thương của chính mình, rồi hướng tới một sự thanh thản cuối cùng. Có thể thấy ở đây chất trữ tình nữ tính, nhạy cảm đã làm nên nét riêng của thơ bà. Đọc toàn văn: Bài thơ Một mình (Lâm Thị Mỹ Dạ).
4/ Trái tim sinh nở (1974) và Bài thơ không năm tháng (1983)
Trái tim sinh nở ra mắt năm 1974, khi cuộc chiến tranh chưa kết thúc. Bài thơ không năm tháng ra đời sau chiến tranh, được Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Hai tập thơ này, cùng Đề tặng một giấc mơ, là căn cứ để Nhà nước trao tặng bà Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007. Qua các tập thơ, có thể thấy một hành trình đi từ cảm hứng sử thi của thời chiến đến những trang thơ đời tư, thơ tình, thơ về tình mẫu tử.
5/ Thơ và truyện viết cho thiếu nhi
Lâm Thị Mỹ Dạ dành nhiều tâm huyết cho bạn đọc nhỏ tuổi. Bên cạnh bài thơ “Chuyện cổ nước mình”, bà có tập thơ Mẹ và con (1994) cùng các truyện Danh ca của đất, Nai con và dòng suối, Phần thưởng muôn đời, Nhạc sĩ Phượng Hoàng. Những câu thơ giàu hình ảnh của bà cũng được dùng làm ngữ liệu luyện tập trong sách Tiếng Việt tiểu học, chẳng hạn bài tập so sánh trong Bài 24: Bạn nhỏ trong nhà – Tiếng Việt lớp 3 Kết nối tri thức.
Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trong sách giáo khoa
| Tác phẩm | Lớp – bộ sách | Vị trí trong sách |
|---|---|---|
| Chuyện cổ nước mình | Ngữ văn 6 – Kết nối tri thức | Tập 1, bài 4 “Quê hương yêu dấu”, văn bản đọc |
| Chuyện cổ nước mình | Ngữ văn 6 – Chân trời sáng tạo | Tập 1, bài 2 “Miền cổ tích”, đọc kết nối chủ điểm |
| Khoảng trời, hố bom | Ngữ văn 10 – Cánh diều | Tập 2, bài 7 “Thơ tự do”, tự đánh giá |
Trước chương trình mới, “Truyện cổ nước mình” đã in trong sách Tiếng Việt 4 (tập một), còn “Khoảng trời, hố bom” từng được dạy ở chương trình phổ thông. Việc cả hai bài thơ được giữ lại qua nhiều lần thay sách cho thấy sức sống lâu bền của chúng.
Phong cách thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Nhà nghiên cứu Hồ Thế Hà nhận xét: “Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ giàu ý tứ”. Nhà thơ Ngô Văn Phú thì cho rằng thơ bà “hay ở những chỗ bất thần, ngơ ngác và những rung cảm đầy nữ tính”. Từ các bài thơ tiêu biểu, có thể rút ra mấy nét chính:
- Hình ảnh bất ngờ: hố bom chứa khoảng trời, tâm hồn người hi sinh hóa thành sao; những liên tưởng vừa lạ vừa hợp lý.
- Giọng thơ nữ tính: dịu dàng, tha thiết, nhiều tự bạch, nhất là trong thơ tình và thơ viết về đời mình.
- Chất dân gian: thể lục bát, giọng kể “chuyện kể rằng”, ngôn ngữ gần ca dao.
- Tấm lòng người mẹ: nhiều bài thơ, truyện viết cho con trẻ, đầy yêu thương và bao dung.
Lời kết
Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đi từ khoảng trời trong hố bom thời chiến đến những lời thủ thỉ về truyện cổ, về tình yêu và nỗi cô đơn. Giọng thơ ấy không lớn tiếng nhưng bền bỉ, và vẫn đang được học sinh nhiều thế hệ đọc lại trong sách giáo khoa.
Xem thêm: Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường | Thơ Xuân Quỳnh | Thơ Phạm Tiến Duật
Xem thêm: thơ Trần Đăng Khoa, thơ Y Phương, thơ Vũ Quần Phương.


