Tuyên ngôn Độc lập là văn bản khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và là tác phẩm chính luận tiêu biểu nhất của Hồ Chí Minh. Văn bản được học ở cả ba bộ sách lớp 12: Bài 6 Ngữ văn 12 Cánh diều, Bài 6 Ngữ văn 12 Kết nối tri thức và Bài 8 Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo (đều ở tập 2). Bài viết gồm toàn văn, thông tin tác giả, hoàn cảnh ra đời, bố cục, giá trị nội dung, nghệ thuật và sơ đồ tư duy.

Nội dung văn bản Tuyên ngôn Độc lập
Văn bản dưới đây theo bản in trong sách giáo khoa Ngữ văn 12 (lấy từ Hồ Chí Minh toàn tập). Đây là văn kiện chính trị, được công bố từ năm 1945 và không còn thuộc đối tượng bảo hộ quyền tác giả.
“Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những pháp luật dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu, cồn, để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tuỷ, khiến cho dân nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
Chúng cướp không ruộng đất, rừng mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta được giầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó, dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó, dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy, hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong năm năm, chúng đã “bán” nước ta hai lần cho Nhật.
Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn trước. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.
Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thuỳ, lại cứu cho người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng, tài sản cho họ.
Sự thực là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Cộng hoà Dân chủ.
Sự thực là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
Pháp chạy, Nhật hàng vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà.
Bởi thế cho nên, chúng tôi – Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới – đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng quyết liệt chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.
Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Tê-hê-răng (Teheran) và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi – Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.
(Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011)
Thông tin tác giả Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh (1890 – 1969), lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, sau đổi là Nguyễn Tất Thành, quê ở làng Kim Liên (làng Sen), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Người xuất thân từ một gia đình nhà nho yêu nước; thân phụ là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Năm 1911, Người ra đi tìm đường cứu nước, bôn ba qua nhiều châu lục, làm nhiều nghề để sống và hoạt động.
Năm 1919, lấy tên Nguyễn Ái Quốc, Người gửi đến Hội nghị Véc-xây bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Năm 1920, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp; năm 1930, chủ trì hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đầu năm 1941, Người về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng, dẫn tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và sự ra đời của nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Người là Chủ tịch nước từ năm 1945 cho đến khi qua đời năm 1969. Năm 1987, UNESCO thông qua nghị quyết kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Người (1990), tôn vinh Người là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam.
Bên cạnh sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh để lại một di sản văn học lớn với ba mảng chính: văn chính luận (Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên ngôn Độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến…), truyện và kí (Vi hành, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, Nhật kí chìm tàu…), thơ ca (Nhật kí trong tù, các bài thơ viết ở Việt Bắc). Văn chính luận của Người thường ngắn gọn, lập luận kín kẽ, dẫn chứng xác đáng mà vẫn thấm đẫm cảm xúc. Xem thêm bài phong cách sáng tác của Hồ Chí Minh và những bài thơ Hồ Chí Minh.
Thông tin tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập
Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác
Tháng 8 năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng minh, nhân dân cả nước nổi dậy giành chính quyền. Từ Tân Trào, Hồ Chí Minh về Hà Nội và viết bản Tuyên ngôn tại căn gác số 48 Hàng Ngang. Chiều 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Người thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn trước hàng chục vạn đồng bào. Văn bản được đăng trên báo Cứu Quốc mấy ngày sau đó, hiện in trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4.
Thời điểm ấy, nhiều thế lực đế quốc đang nhòm ngó: quân Tưởng tiến vào miền Bắc, quân Anh vào miền Nam để giải giáp quân Nhật, thực dân Pháp theo chân quân Anh, tuyên truyền rằng Đông Dương vẫn là đất “bảo hộ” của Pháp.
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: văn chính luận, cụ thể là tuyên ngôn (văn kiện tuyên bố quan điểm, chủ trương có tính pháp lí).
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận, kết hợp biểu cảm.
Đối tượng và mục đích
Tuyên ngôn hướng tới đồng bào cả nước, nhân dân thế giới (nhất là các nước Đồng minh) và thực dân Pháp. Mục đích của văn bản là tuyên bố nền độc lập, bác bỏ luận điệu xâm lược của Pháp, tranh thủ sự đồng tình quốc tế và thể hiện quyết tâm giữ vững độc lập.
Bố cục Tuyên ngôn Độc lập
Tuyên ngôn Độc lập có mấy phần? Văn bản có 3 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “không ai chối cãi được”): cơ sở pháp lí – quyền bình đẳng, tự do của con người, suy rộng thành quyền của các dân tộc.
- Phần 2 (tiếp đến “Dân tộc đó phải được độc lập!”): cơ sở thực tế – tội ác của thực dân Pháp, sự thật nhân dân ta giành chính quyền từ tay Nhật.
- Phần 3 (đoạn cuối): Chính phủ lâm thời trịnh trọng tuyên bố với thế giới và nói lên ý chí của cả nước.
Giá trị nội dung
- Mang giá trị pháp lí và lịch sử: tuyên bố chấm dứt hơn tám mươi năm thuộc địa và chế độ quân chủ, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Vạch rõ những việc làm tàn bạo của thực dân Pháp, bác bỏ luận điệu khai hóa, bảo hộ và mọi ý đồ tái chiếm Đông Dương.
- Khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam cả trên cơ sở lí luận lẫn thực tiễn; nêu cao ý chí bảo vệ độc lập.
- Thể hiện tư tưởng nhân đạo lớn: từ quyền con người đến quyền dân tộc, lòng khoan dung với người Pháp trong hoạn nạn.
Giá trị nghệ thuật
- Mạch lập luận đi từ chân lí chung đến thực tế cụ thể rồi đến kết luận tất yếu.
- Lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực với mốc thời gian và số liệu; cách dùng chính văn kiện của Pháp, Mĩ để làm cơ sở.
- Ngôn ngữ chính xác, hàm súc, giàu hình ảnh; phép liệt kê, điệp cấu trúc, đối lập; phối hợp câu khẳng định và phủ định.
- Giọng văn vừa đanh thép, hùng hồn vừa thấm đẫm cảm xúc; tính luận chiến cao.
Ý nghĩa nhan đề và vị trí của tác phẩm
Nhan đề “Tuyên ngôn Độc lập” nói rõ tính chất và mục đích của văn bản: lời tuyên bố chính thức của một quốc gia về nền độc lập. Cùng với Nam quốc sơn hà và Bình Ngô đại cáo, văn bản thường được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ ba của dân tộc, mở ra kỉ nguyên mới cho lịch sử Việt Nam. Ngày 2 tháng 9 trở thành ngày Quốc khánh.
Sơ đồ tư duy Tuyên ngôn Độc lập
Sơ đồ dưới đây tóm lược những kiến thức cần nhớ về tác giả và tác phẩm.

Lời kết
Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chính luận trong đó lí lẽ và cảm xúc nâng đỡ nhau, giá trị lịch sử và giá trị văn chương hòa làm một. Khi ôn tập, em cần nhớ hoàn cảnh ra đời, bố cục ba phần với hai cơ sở pháp lí – thực tế, và những thành công nổi bật về lập luận, ngôn ngữ.
Đề Viết của bài học có hướng dẫn và bài làm tham khảo trong bài văn mẫu nghị luận về quan niệm yêu nước của tuổi trẻ.
Để nối kiến thức của bài này với cả chương trình học kì, em có thể xem hệ thống kiến thức học kì II lớp 12 sách Cánh diều.
Xem thêm:
- Tìm hiểu phong cách sáng tác của Hồ Chí Minh
- Tổng hợp các bút danh, bút hiệu của Hồ Chí Minh
- Soạn bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta (Hồ Chí Minh)
- Soạn bài Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh) – Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo
- Soạn bài Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh) – Ngữ văn 12 Kết nối tri thức
- Soạn bài Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh) – Ngữ văn 12 Cánh diều
- Tóm tắt Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh) ngắn gọn, đầy đủ – 7 mẫu hay nhất
- Phân tích Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh) – Dàn ý + 5 bài văn mẫu hay nhất