Soạn bài Cảnh khuya giúp các em chuẩn bị văn bản đọc mở rộng trong Bài 7 – Thơ Đường luật, sách Ngữ văn 8 Cánh diều tập hai (trang 47 – 48). Bài thơ còn xuất hiện ở phần Thực hành đọc của Bài 6 sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, vì vậy cuối bài có thêm phần gợi ý cho học sinh lớp 12.
Văn bản Cảnh khuya (Hồ Chí Minh)
Cảnh khuya là bài thơ chữ Quốc ngữ do Bác Hồ sáng tác tại chiến khu Việt Bắc năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp mới bắt đầu. Dưới đây là toàn văn bài thơ (đối chiếu bản trên Wikisource và bản chép kèm các bài giải sách giáo khoa).

Cảnh khuya
Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
(Hồ Chí Minh, 1947)
Một vài từ ngữ cần hiểu:
- Lồng: phủ lên, đan cài vào nhau. Ánh trăng phủ lên tán cổ thụ, rồi bóng lá in xuống, đan vào những khóm hoa.
- Cổ thụ: cây sống đã lâu năm, thân to, tán rộng.
- Nỗi nước nhà: những việc lớn của đất nước, ở đây là vận mệnh cuộc kháng chiến.
Chuẩn bị đọc văn bản Cảnh khuya
Sách yêu cầu đọc trước bài thơ, đồng thời tìm hiểu và ghi lại các hiểu biết về Bác Hồ giúp ích cho việc đọc hiểu (trang 47).
Thông tin về tác giả Hồ Chí Minh
- Hồ Chí Minh (1890 – 1969), lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, quê ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Năm 1911, Người rời Tổ quốc tìm con đường giải phóng dân tộc; năm 1930 sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; ngày 2/9/1945, Người thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Ba Đình, Hà Nội.
- Bên cạnh vai trò lãnh tụ, Người còn là nhà văn, nhà thơ lớn với ba mảng sáng tác: văn chính luận (Tuyên ngôn Độc lập, Bản án chế độ thực dân Pháp…), truyện và kí viết bằng tiếng Pháp (Vi hành, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu…) và thơ ca (tập Nhật kí trong tù cùng nhiều bài viết ở Việt Bắc).
- Thơ Hồ Chí Minh thường hòa quyện vẻ đẹp cổ điển và chất hiện đại: hình ảnh thiên nhiên như trăng, hoa, núi rừng đi cùng tâm thế của người chiến sĩ luôn hướng về dân, về nước.
Các em có thể đọc kĩ hơn ở bài Soạn bài Tác gia Hồ Chí Minh.
Hoàn cảnh ra đời bài thơ
Cuối năm 1947, thực dân Pháp mở cuộc tấn công lớn lên Việt Bắc hòng tiêu diệt cơ quan đầu não của kháng chiến. Giữa những đêm làm việc ở chiến khu, Bác viết Cảnh khuya. Bức tranh trăng rừng vì thế không chỉ là cảnh đẹp mà còn là nơi người lãnh tụ thức trắng để lo việc nước.
Đọc hiểu văn bản Cảnh khuya
Phần Đọc hiểu gồm một lưu ý trong khi đọc và 5 câu hỏi sau khi đọc.
Câu hỏi trong khi đọc (trang 47)
Đề: Chú ý việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh và biện pháp tu từ trong bài thơ.
Trả lời:
- Từ ngữ: giản dị, gần lời nói thường; động từ “lồng” được lặp lại hai lần trong câu 2; cụm “chưa ngủ” được điệp ở cuối câu 3 và đầu câu 4.
- Hình ảnh: hai câu đầu có dòng suối, vầng trăng, cây cổ thụ, khóm hoa; con người thao thức và “nước nhà” ở hai câu sau.
- Tu từ: phép so sánh (tiếng suối với tiếng hát, cảnh khuya với bức vẽ), điệp từ (“lồng”, “chưa ngủ”) và phép liên hoàn nối câu 3 với câu 4.
Câu 1: Thể loại, các câu mang vần và chủ đề (trang 47)
Đề: Xác định thể loại và các câu mang vần của bài Cảnh khuya. Nêu chủ đề của tác phẩm.
Trả lời:
- Thể loại: thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật viết bằng chữ Quốc ngữ, gồm 4 câu, 7 chữ mỗi câu, nhịp chủ yếu 4/3.
- Các câu mang vần: gồm câu thứ nhất, thứ hai và thứ tư, cùng vần “a”: xa – hoa – nhà. Câu 3 kết thúc bằng thanh trắc (“ngủ”) nên không hiệp vần, đúng luật tứ tuyệt.
- Chủ đề: bài thơ vẽ cảnh đêm trăng nơi rừng Việt Bắc, qua đó bày tỏ tình yêu thiên nhiên hòa quyện với nỗi lo việc nước của người chiến sĩ – lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Câu 2: Cảnh khuya của núi rừng Việt Bắc qua hai câu đầu (trang 47)
Đề đầy đủ: Qua hai câu thơ đầu, cảnh khuya của núi rừng Việt Bắc hiện lên như thế nào? Cảnh khuya ấy thể hiện được điều gì trong tâm hồn nhà thơ?
Trả lời:
Cảnh khuya hiện lên vừa có âm thanh vừa có đường nét, ánh sáng:
- Âm thanh: tiếng suối chảy trong đêm được ví với “tiếng hát xa”. Rừng khuya vốn tĩnh mịch, nay như có giọng người văng vẳng, trong trẻo và gần gũi.
- Ánh sáng, hình ảnh: trăng chiếu xuống vòm cổ thụ, bóng cây in xuống những khóm hoa. Hai chữ “lồng” tạo nên nhiều tầng sáng tối đan xen, lung linh như một bức tranh có chiều sâu.
⇒ Đó là cảnh rừng đêm thanh bình, thơ mộng, ấm áp, không hề hoang vắng hay lạnh lẽo dù đang giữa thời chiến.
Tâm hồn nhà thơ: phải là người yêu thiên nhiên tha thiết, tinh tế mới nghe được tiếng suối như tiếng hát, nhìn ra tầng tầng lớp lớp của trăng và bóng hoa. Cảnh đẹp ấy cũng hé lộ phong thái điềm tĩnh, thư thái của Bác giữa lúc kháng chiến gian khổ.
Câu 3: Phân tích hai câu thơ cuối (trang 47)
Đề đầy đủ: Phân tích hai câu thơ cuối bài. Qua đó, em hiểu thêm được gì về con người tác giả?
Trả lời:
- Câu 3 khép lại bức tranh bằng nhận xét “như vẽ”: cảnh đẹp đến mức như do người họa sĩ dựng nên. Ngay sau đó, câu thơ xoay sang con người với cụm “người chưa ngủ”. Người chưa ngủ trước hết vì say mê cảnh trăng – đó là con người nghệ sĩ.
- Câu 4 lặp lại “chưa ngủ” rồi mở ra lí do thật sự: “vì lo nỗi nước nhà”. Điệp ngữ nối liền hai câu như một bước ngoặt, chuyển từ cảnh sang tình, từ nhà thơ sang người chiến sĩ đang gánh trên vai vận mệnh cuộc kháng chiến.
- Hai câu thơ không đối lập mà hòa vào nhau: tình yêu thiên nhiên và tình yêu đất nước cùng tồn tại trong một tâm hồn.
⇒ Qua đó, ta hiểu Bác là người có tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm nhưng luôn đặt việc nước lên trên hết; một vị lãnh tụ thức trắng vì dân mà vẫn giữ được sự thư thái, lạc quan.
Câu 4: Biện pháp so sánh và tác dụng (trang 48)
Đề: Tìm biện pháp tu từ so sánh trong bài thơ. Nêu tác dụng miêu tả và biểu cảm của biện pháp tu từ đó.
Trả lời:
| Phép so sánh | Tác dụng miêu tả | Tác dụng biểu cảm |
|---|---|---|
| Tiếng suối – như tiếng hát xa (câu 1) | Gợi âm thanh trong trẻo, êm dịu, lúc gần lúc xa của dòng suối giữa đêm; làm nổi bật sự yên tĩnh của rừng khuya. | Thiên nhiên được nhân hóa, có hơi ấm con người; thể hiện cái nhìn trìu mến, gần gũi của nhà thơ với núi rừng. |
| Cảnh khuya – như vẽ (câu 3) | Tổng kết vẻ đẹp hài hòa, có đường nét, màu sắc, chiều sâu của bức tranh trăng rừng. | Bộc lộ niềm say mê, ngợi ca của tác giả trước cái đẹp và làm bước đệm để chuyển sang tâm sự của “người chưa ngủ”. |
Cách so sánh tiếng suối với tiếng hát được nhiều người nhắc đến vì nó khác lối ví quen thuộc trong thơ cổ (thường ví tiếng suối với tiếng đàn), đem lại cảm giác mới mẻ, đậm hơi thở đời sống.
Câu 5: Đoạn văn nêu cảm nghĩ về lí do Bác không ngủ (trang 48)
Đề: Viết một đoạn văn (khoảng 6 – 8 dòng) nêu cảm nghĩ của em về lí do Bác Hồ không ngủ được thể hiện trong bài thơ Cảnh khuya.
Trả lời: Em có thể tham khảo đoạn văn sau:
Đọc Cảnh khuya, em xúc động nhất ở câu thơ cuối, nơi Bác tự nói rõ vì sao mình thức giữa đêm rừng. Thoạt đầu, người đọc ngỡ Bác thao thức vì cảnh trăng quá đẹp, nhưng điệp ngữ “chưa ngủ” đã kéo ta về với điều Bác canh cánh: vận mệnh đất nước trong những ngày kháng chiến cam go. Lúc ấy, khi quân thù đang tràn lên Việt Bắc, mỗi quyết định của Bác đều liên quan tới sinh mạng của bao chiến sĩ và đồng bào. Vì vậy, nỗi lo của Bác không phải nỗi lo riêng mà là trách nhiệm của người đứng đầu dân tộc. Em càng kính phục khi thấy giữa muôn vàn lo toan, Bác vẫn giữ được tâm hồn thư thái để lắng nghe tiếng suối, ngắm trăng hoa. Câu thơ giúp em hiểu rằng yêu nước không phải điều gì xa xôi, mà bắt đầu từ việc biết nghĩ cho người khác.
Thực hành đọc Cảnh khuya – Ngữ văn 12 Kết nối tri thức
Ở Bài 6 (Hồ Chí Minh – Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi), phần Củng cố, mở rộng có mục Thực hành đọc hai bài thơ Vọng nguyệt (Ngắm trăng) và Cảnh khuya (trang 36 – 37). Sách nêu ba yêu cầu chung; gợi ý dưới đây tập trung vào Cảnh khuya và đặt cạnh Vọng nguyệt khi cần so sánh.
Câu 1: Hoàn cảnh sáng tác chi phối cấu tứ và nội dung trữ tình
Trả lời:
- Cảnh khuya: viết năm 1947 ở chiến khu Việt Bắc, khi Bác đang trực tiếp lãnh đạo kháng chiến. Hoàn cảnh ấy tạo nên cấu tứ hai phần: hai câu đầu là cảnh đêm trăng thanh bình, hai câu cuối hướng về con người thao thức vì việc nước. Nội dung trữ tình là sự hòa hợp của tình yêu thiên nhiên với trách nhiệm của người lãnh tụ.
- Vọng nguyệt: viết trong nhà tù Tưởng Giới Thạch (1942 – 1943), thuộc tập Nhật kí trong tù. Hoàn cảnh tù đày khiến bài thơ được cấu tứ theo thế đối lập giữa song sắt và vầng trăng, giữa cảnh ngộ thiếu thốn và tâm hồn tự do; cuộc ngắm trăng trở thành cuộc “vượt ngục” về tinh thần.
⇒ Mỗi hoàn cảnh để lại dấu ấn riêng, nhưng cả hai bài đều cho thấy Bác luôn tìm đến thiên nhiên như một người bạn tri âm.
Câu 2: Đặc điểm phong cách thơ trữ tình Hồ Chí Minh qua hai bài thơ
Trả lời:
- Kết hợp cổ điển và hiện đại: đề tài trăng, hoa, thể tứ tuyệt, bút pháp chấm phá rất gần thơ xưa; nhưng nhân vật trữ tình mang tâm thế của người chiến sĩ, luôn gắn mình với vận mệnh dân tộc.
- Ngôn ngữ hàm súc, giản dị: Cảnh khuya chỉ dùng những từ ngữ quen thuộc mà vẫn gợi được âm thanh, ánh sáng nhiều tầng.
- Hình tượng thiên nhiên sống động, có hồn, thường được đặt trong quan hệ giao hòa với con người.
- Cấu tứ có sự vận động: từ cảnh đến tình, từ cái đẹp đến trách nhiệm (Cảnh khuya), hoặc từ cảnh ngộ đến tâm thế tự do (Vọng nguyệt).
Câu 3: Vẻ đẹp tư tưởng, tâm hồn và tài năng văn chương của tác giả
Trả lời:
- Tư tưởng: lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm với dân tộc luôn thường trực, kể cả khi đang thưởng ngoạn cảnh đẹp.
- Tâm hồn: tinh tế, gắn bó với thiên nhiên, ung dung và lạc quan trong mọi hoàn cảnh, dù là chốn lao tù hay giữa chiến khu.
- Tài năng: chỉ với 28 chữ, Bác dựng được bức tranh trăng rừng giàu chất họa, chất nhạc; cách điệp từ “lồng”, điệp ngữ “chưa ngủ” và phép so sánh mới mẻ cho thấy bút pháp điêu luyện mà tự nhiên.
Muốn tìm hiểu kĩ hơn về bài thơ ở lớp 12, các em xem thêm Tác giả – tác phẩm Cảnh khuya (Ngữ văn 12 Kết nối tri thức) và Tác giả – tác phẩm Ngắm trăng (Vọng nguyệt).
Kết luận
Cảnh khuya là bài tứ tuyệt ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một tâm hồn lớn: người nghệ sĩ say đắm trước trăng rừng và người chiến sĩ thao thức vì vận nước. Khi soạn bài, các em cần nắm chắc thể thơ, bố cục hai phần (cảnh – tình), giá trị của phép so sánh, điệp từ và ý nghĩa câu thơ kết.
Xem thêm: