Năm 1982, khán giả xem phim Làng Vũ Đại ngày ấy gặp một lão Hạc gầy guộc, khắc khổ, đến mức về sau nhiều người quen miệng gọi người đóng vai ấy là “ông Lão Hạc”. Người đó không phải diễn viên chuyên nghiệp. Kim Lân (1920 – 2007) là nhà văn chuyên viết truyện ngắn về làng quê và người nông dân Bắc Bộ, tác giả của Làng và Vợ nhặt. Cả đời ông chỉ in hai tập truyện, vậy mà chừng ấy trang viết đủ đưa ông vào sách giáo khoa và mang về cho ông Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001.
Nguyễn Văn Tài, người làng Phù Lưu

| Tên khai sinh | Nguyễn Văn Tài |
| Bút danh | Kim Lân |
| Năm sinh – năm mất | 1/8/1920 – 20/7/2007 (Bảo tàng Văn học Việt Nam ghi năm sinh 1921) |
| Quê quán | Làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn (cũ), tỉnh Bắc Ninh |
| Thể loại | Truyện ngắn; ngoài ra đóng phim, đóng kịch |
| Tác phẩm tiêu biểu | Làng, Vợ nhặt, Con chó xấu xí, Nên vợ nên chồng, Ông Cản Ngũ |
| Giải thưởng | Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (đợt I, 2001) |
| Trong SGK hiện hành | Làng (Ngữ văn 9 Cánh diều); Vợ nhặt (Ngữ văn 11 Kết nối tri thức) |
Nhà nghèo, cậu bé Nguyễn Văn Tài học hết bậc tiểu học thì phải nghỉ để đi làm thợ. Tuổi thơ ở vùng Kinh Bắc cho ông vốn sống mà sau này không trường lớp nào dạy được: chợ quê, hội làng, những cuộc chọi gà, đánh vật, và cả sân khấu tuồng chèo.
Chính sân khấu đã đặt tên cho ông. Bút danh Kim Lân lấy từ Đổng Kim Lân, nhân vật trong vở tuồng Sơn Hậu. Một số tài liệu nói ông mê nhân vật này từ nhỏ, có tài liệu còn ghi chính ông từng đóng vai ấy. Cái tên mượn từ chiếu tuồng hóa ra rất hợp với một người cả đời gắn bó với văn hóa làng.
Viết ít, viết chậm: hai tập truyện cho cả một đời văn
Kim Lân bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941, gửi in trên Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật. Theo tư liệu trên trang của họa sĩ Thành Chương, con trai nhà văn, một số truyện đầu tay mang dáng dấp tự truyện, kể về chính những phận người nghèo ông từng sống cùng.
Năm 1944, ông tham gia Hội Văn hóa cứu quốc. Trong kháng chiến chống Pháp, ông công tác ở chiến khu Việt Bắc, viết cho các tờ báo như Chi Lăng, Xông pha, Dân quân Việt Bắc. Hòa bình lập lại, theo Bảo tàng Văn học Việt Nam, ông lần lượt làm việc ở Nhà xuất bản Văn học, Trường bồi dưỡng những người viết trẻ, tuần báo Văn nghệ và Nhà xuất bản Tác phẩm mới. Năm 1957, ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam.
Điều khiến giới văn chương hay nhắc về Kim Lân là ông viết quá ít. Gần bốn mươi năm cầm bút, sách của ông đếm trên đầu ngón tay:
| Năm | Tác phẩm | Ghi chú |
|---|---|---|
| 1948 | Làng | Truyện ngắn, in lần đầu trên tạp chí Văn nghệ |
| 1955 | Nên vợ nên chồng | Tập truyện ngắn (Wikipedia, Bảo tàng Văn học ghi 1954) |
| 1957 – 1960 | Ông Cản Ngũ, Hiệp sĩ gỗ, Ông cả luốn gốc me | Truyện viết sau hòa bình |
| 1962 | Con chó xấu xí | Tập truyện ngắn, có Vợ nhặt |
| 1998, 2003 | Tuyển tập Kim Lân | Tập hợp phần lớn sáng tác |
Tháng 11/2020, tại tọa đàm kỷ niệm 100 năm sinh ông do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, nhiều ý kiến gặp nhau ở cùng một điểm: Kim Lân là một trường hợp lạ, viết rất ít, chỉ chuyên một thể loại, mà vẫn giữ chỗ đứng ngang hàng những cây bút để lại cả chục đầu sách. Người viết bài này nghĩ lý do nằm ở độ “chín” của từng truyện: ông không in cái gì mình chưa ưng.
Chọi gà, thả chim, đánh vật: thú quê trong trang văn
Trước Cách mạng, cái tên Kim Lân được chú ý nhờ những truyện như Con mã mái, viết về thú chơi của nhà quê với độ am hiểu của người trong cuộc; sau này, đề tài của ông vẫn là làng quê, chỉ thêm những biến động của thời cuộc. Cách ông nhìn người nông dân từ bên trong, dựng tình huống và tả tâm lý qua cử chỉ, lời nói được phân tích trong bài phong cách sáng tác của Kim Lân.
Ông Hai và làng Chợ Dầu
Truyện ngắn Làng ra đời trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp và được đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948. Nhân vật chính là ông Hai, một người nông dân làng Chợ Dầu phải đi tản cư. Ở nơi ở mới, tối nào ông cũng sang nhà hàng xóm khoe làng mình, sáng nào cũng ra phòng thông tin nghe tin kháng chiến.
Rồi một hôm, ông nghe người dưới xuôi lên kể rằng làng Chợ Dầu đã theo giặc. Từ đó ông không dám đi đâu, chỉ thủ thỉ với đứa con út cho vơi nỗi nhục. Đến khi ông chủ tịch xã lên cải chính tin đồn, ông Hai đi khắp nơi khoe rằng nhà mình bị Tây đốt nhẵn, như khoe một tin vui.
Chi tiết khoe nhà bị đốt là chỗ tài tình của truyện: tình yêu làng và lòng yêu nước gặp nhau trong một hành động tưởng như ngược đời. Có thể đọc thêm phần phân tích nhân vật ông Hai để thấy Kim Lân dựng tâm lý nhân vật qua lời nói, cử chỉ ra sao.
Từ Xóm ngụ cư đến Vợ nhặt
Vợ nhặt có một tiền thân ít người biết. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, Kim Lân viết tiểu thuyết Xóm ngụ cư. Truyện còn dang dở thì thất lạc bản thảo. Hòa bình lập lại năm 1954, ông nhặt lại cái khung truyện cũ, rút gọn và viết thành một truyện ngắn, in trong tập Con chó xấu xí năm 1962.
Câu chuyện đặt trong nạn đói năm 1945: anh cu Tràng kéo xe thuê, nghèo và xấu, chỉ qua mấy câu đùa và bốn bát bánh đúc mà có một người đàn bà theo về làm vợ. Bà cụ Tứ đón con dâu bằng nồi cháo cám. Sáng hôm sau, trong tiếng trống thúc thuế, người vợ nhặt kể chuyện Việt Minh phá kho thóc, và trong óc Tràng hiện lên lá cờ đỏ.
Kim Lân từng giải thích ý định của mình: viết về nạn đói, người ta hay nghĩ đến cái chết, còn ông muốn viết về những con người dù cận kề cái chết vẫn “hướng tới sự sống”. Nhờ hướng nhìn ấy, giữa cảnh tối tăm của năm Ất Dậu, truyện vẫn có hơi ấm của tình người. Năm 2023, một đoạn trích Vợ nhặt được chọn vào đề thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn.
Muốn nắm nhanh xuất xứ, bố cục và nội dung, bạn đọc có thể xem bài Vợ nhặt: tác giả – tác phẩm; nếu cần bài văn mẫu thì có bài phân tích Vợ nhặt.
Kim Lân trước ống kính: từ Bủ vả đến lão Hạc
Ít nhà văn Việt Nam có một “sự nghiệp thứ hai” như Kim Lân. Ông tham gia điện ảnh từ khá sớm và đóng cả kịch. Danh sách dưới đây đối chiếu giữa Bảo tàng Văn học Việt Nam và Wikipedia tiếng Việt:
| Năm | Phim / vở diễn | Vai |
|---|---|---|
| 1961 | Vợ chồng A Phủ | Bủ vả |
| — | Cái tủ chè (kịch của Vũ Trọng Can) | Cả Khiết |
| 1980 | Chị Dậu | Lý Cựu |
| 1982 | Làng Vũ Đại ngày ấy | Lão Hạc |
| 2001 | Con Vá (phim truyền hình) | Lão Pẩu |
| 2002 | Hà Nội 12 ngày đêm | Cụ lang Tâm |

Cả Chị Dậu lẫn Làng Vũ Đại ngày ấy đều do đạo diễn Phạm Văn Khoa dàn dựng. Vai lão Hạc, nhân vật của Nam Cao, là vai đóng đinh tên ông với màn ảnh. Báo VnExpress khi đưa tin ông mất có nhắc rằng tình bạn lâu năm giữa Kim Lân và Nam Cao đã đưa ông đến với vai diễn này. Ai đã đọc truyện Lão Hạc rồi xem phim sẽ hiểu vì sao khán giả nhớ ông đến thế: người đóng hiểu nhân vật như hiểu một người làng.
Truyện Kim Lân trong sách giáo khoa hiện hành
| Văn bản | Sách – bài học | Bài soạn trên Văn VN |
|---|---|---|
| Làng | Ngữ văn 9 Cánh diều, tập 1 – Bài 4 (Truyện ngắn) | Soạn bài Làng |
| Về truyện “Làng” của Kim Lân (Nguyễn Văn Long) | Ngữ văn 9 Cánh diều, tập 2 – Bài 10 (Nghị luận văn học) | Soạn bài Về truyện “Làng” |
| Vợ nhặt | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 1 (Câu chuyện và điểm nhìn trong truyện kể) | Soạn bài Vợ nhặt |
Học sinh lớp 9 Cánh diều gặp Kim Lân hai lần trong năm: đọc truyện Làng ở học kỳ I, rồi đọc một bài nghị luận bàn về chính truyện ấy ở học kỳ II. Muốn ôn nhanh cốt truyện, có thể dùng bài tóm tắt truyện Làng.
Những năm cuối đời và một truyện ngắn chưa kịp viết
Năm 2001, Kim Lân được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt I với các tập Con chó xấu xí, Nên vợ nên chồng và Tuyển tập Kim Lân. Những năm cuối, ông sống ở Hà Nội, chống chọi với bệnh hen suyễn.
Theo VnExpress, tháng 4/2006 ông vẫn kể với phóng viên về một truyện ngắn đang ấp ủ: chuyện một người đàn ông câm nuôi con chó, quanh anh không ai hiểu anh, chỉ con chó hiểu. Truyện ấy không bao giờ được viết. Chiều 20/7/2007, ông mất tại Bệnh viện Hữu Nghị, Hà Nội.
Ông để lại không nhiều sách nhưng để lại một gia đình họa sĩ: các con ông, trong đó có Thành Chương, Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Mạnh Đức, đều theo nghề vẽ. Các con ông về sau dựng nơi tưởng niệm cha; bài Khánh thành Nhà lưu niệm nhà văn Kim Lân ghi lại buổi lễ ấy bằng nhiều ảnh tư liệu.

Kim Lân là ví dụ hiếm hoi cho thấy một nhà văn không cần viết nhiều. Hai tập truyện mỏng, vài vai diễn để đời, và một cách nhìn người quê đầy trìu mến là đủ để nhiều thế hệ còn nhắc tên ông.