Vi hành là truyện ngắn trào phúng tiêu biểu nhất trong mảng truyện và kí Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp ở Pa-ri. Tác phẩm hiện là văn bản Thực hành đọc hiểu trong Bài 6 sách Ngữ văn 12 Cánh diều, trước đó từng là bài đọc thêm của Ngữ văn 11 chương trình cũ. Bài viết tổng hợp những điều cần nắm: nội dung truyện, tác giả, hoàn cảnh ra đời, thể loại, tình huống, bố cục, giá trị nội dung và nghệ thuật, ý nghĩa nhan đề, sơ đồ tư duy và hai mẫu tóm tắt.

Nội dung văn bản Vi hành
Truyện là một lá thư nhân vật “tôi”, một người Việt sống ở Pháp, gửi cho cô em họ ở quê. Mở đầu thư, anh thuật lại cuộc trò chuyện anh nghe được trên tàu điện ngầm ở Pa-ri. Hai người Pháp trẻ, một nam một nữ, ngồi cùng toa, thấy anh là người An Nam, liền đinh ninh đó là vua Khải Định đang sang Pháp. Tưởng anh không biết tiếng Pháp, họ bàn tán thoải mái về “hắn”: nhớ lại cái khăn quấn đầu, những chiếc nhẫn đầy ngón tay, bộ lụa là, hạt cườm; so “hắn” với các vụ án giật gân đã hết hấp dẫn, với những tiết mục của dạ hội thuộc địa, thậm chí đùa rằng nhà hát múa rối đang tính thuê “hắn” về diễn.
Khi cặp trai gái rời toa, “tôi” vừa buồn cười vừa nhớ lại những chuyện vi hành nghe bác kể thuở nhỏ: vua Thuấn giả làm dân cày để biết lòng dân, vua Pi-e của nước Nga sang Anh làm thợ. Từ đó anh đặt ra hàng loạt câu hỏi mỉa mai về mục đích chuyến đi của Khải Định. Phần cuối thư kể cảnh người An Nam ở Pháp bị thiên hạ chỉ trỏ và bị mật thám theo sát từng bước, được nhân vật “tôi” giả vờ ca ngợi như một sự “đón tiếp” chu đáo.
Văn bản trong sách là bản dịch của Phạm Huy Thông. Để đọc theo từng câu hỏi trong sách, xem bài soạn ở cuối trang.
Thông tin tác giả Nguyễn Ái Quốc
Nguyễn Ái Quốc là một trong những tên gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969), tên khai sinh Nguyễn Sinh Cung, quê làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời bến Nhà Rồng ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Cái tên Nguyễn Ái Quốc xuất hiện ở Pa-ri năm 1919, gắn với bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Véc-xai.
Trong những năm 1920 ở Pháp, bên cạnh hoạt động cách mạng, Người viết báo, viết truyện và kịch bằng tiếng Pháp. Các tác phẩm như Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Vi hành, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, vở kịch Con rồng tre đều nhắm vào thực dân và vua quan bù nhìn. Về sau, văn nghiệp của Người còn có văn chính luận (Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên ngôn Độc lập), thơ chữ Hán (Nhật kí trong tù) và thơ tiếng Việt viết ở chiến khu.
Ở mảng truyện và kí, Nguyễn Ái Quốc có lối viết rất hiện đại: tình huống bất ngờ, kết cấu linh hoạt, giọng trào phúng hóm hỉnh mà sắc lạnh, lời ít ý nhiều. Muốn tìm hiểu đầy đủ cuộc đời và các chặng sáng tác, em đọc bài Tác giả Hồ Chí Minh và bài Phong cách sáng tác của Hồ Chí Minh.
Thông tin tác phẩm Vi hành
Vi hành được đăng ở đâu?
Truyện viết bằng tiếng Pháp, đăng trên báo Nhân đạo (L’Humanité), cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp, số ra ngày 19/2/1923. Bản tiếng Việt quen thuộc là bản dịch của Phạm Huy Thông, in trong tập Truyện và kí (Nhà xuất bản Văn học, 1974).
Hoàn cảnh sáng tác
Năm 1922, chính phủ Pháp đưa Khải Định sang Mác-xây dự hội chợ triển lãm (đấu xảo) các thuộc địa. Chuyến đi của một ông vua lệ thuộc, xa hoa, giữa lúc dân trong nước đói khổ, khiến Nguyễn Ái Quốc viết liền một loạt tác phẩm vạch mặt y. Vi hành ra đời trong loạt bài ấy, khi Khải Định đang ở Pháp.
Thể loại, phương thức biểu đạt, ngôi kể
- Thể loại: truyện ngắn trào phúng, viết dưới hình thức một bức thư (phụ đề: trích những bức thư gửi cô em họ, do tác giả “tự dịch từ tiếng An Nam” – một cách hư cấu để tăng vẻ chân thực).
- Phương thức biểu đạt: tự sự là chính, kết hợp miêu tả, biểu cảm và nghị luận.
- Ngôi kể: ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”.
Tình huống truyện Vi hành là gì?
Truyện dựng trên một sự nhầm lẫn: đôi trai gái Pháp tưởng người An Nam ngồi cùng toa là Khải Định; rồi đến lượt chính phủ Pháp cũng coi mọi người An Nam như vua để sai người “hộ giá”. Nhờ sự nhầm lẫn, Khải Định không cần xuất hiện mà vẫn hiện nguyên hình qua lời người ngoài cuộc, còn người kể có cớ để nói về thân phận người dân thuộc địa.
Bố cục Vi hành có mấy phần?
Có thể chia làm 3 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến câu đùa chuyện nhà hát múa rối muốn thuê “hắn”): lời bàn tán của hai người Pháp trẻ trên tàu điện ngầm.
- Phần 2 (từ “Tàu đỗ, cặp trai gái bước xuống…” đến đoạn “tôi” trở thành hoàng thượng bất đắc dĩ): nhân vật “tôi” so sánh, bình luận về chuyến “vi hành” của Khải Định.
- Phần 3 (còn lại): cảnh “đón tiếp” và sự theo dõi của mật thám với người An Nam ở Pháp.
Có tài liệu chia 2 phần (cuộc trò chuyện trên tàu; lời bình của “tôi”), cách chia nào cũng cần bám theo nội dung.
Giá trị nội dung
- Vạch trần bản chất bù nhìn, lố bịch của Khải Định: một ông vua bị chính người Pháp coi như trò mua vui.
- Tố cáo chính quyền thực dân: dùng vua bù nhìn để cai trị, đầu độc dân bằng rượu và thuốc phiện, dựng chiêu bài “khai hóa” giả dối, cho mật thám rình rập người Việt yêu nước ngay trên đất Pháp.
- Thể hiện lòng yêu nước, ý thức về danh dự dân tộc và tinh thần chiến đấu của Nguyễn Ái Quốc.
Giá trị nghệ thuật
- Tình huống nhầm lẫn độc đáo, vừa gây cười vừa tạo cái nhìn khách quan.
- Hình thức thư từ linh hoạt, dung nạp được nhiều giọng điệu: kể chuyện, trữ tình, giễu cợt, chính luận.
- Lối nói ngược, giọng hóm hỉnh mà sắc lạnh; phép so sánh, liên tưởng thú vị (vua Thuấn, vua Pi-e).
- Chi tiết chọn lọc, câu văn ngắn gọn, đa nghĩa; bút pháp trào phúng mang tính hiện đại.
Ý nghĩa nhan đề Vi hành
“Vi hành” nghĩa là vua chúa cải trang, đi kín đáo để tự mắt thấy tai nghe đời sống của dân. Đặt nhan đề này cho chuyến đi của Khải Định, tác giả mỉa mai từ ngay tên truyện: cuộc “vi hành” ấy chẳng để hiểu dân mà để mua vui cho thiên hạ, phục vụ việc riêng. Nhan đề còn có nghĩa thứ hai: chính người An Nam bình thường như nhân vật “tôi” mới là kẻ bất đắc dĩ “vi hành”, vì đi đâu cũng có mật thám theo sau.
Sơ đồ tư duy Vi hành

Tóm tắt Vi hành
Mẫu 1 – Tóm tắt Vi hành ngắn nhất
Trên tàu điện ngầm ở Pa-ri, đôi trai gái người Pháp nhầm nhân vật “tôi” với vua Khải Định và chế giễu “hắn” như một trò giải trí. Kể lại chuyện ấy trong lá thư gửi cô em họ, “tôi” so sánh Khải Định với các vị vua vi hành vì dân trong lịch sử, đồng thời mỉa mai cảnh người An Nam ở Pháp bị mật thám theo dõi khắp nơi.
Mẫu 2 – Tóm tắt Vi hành đầy đủ
Trong thư gửi cô em họ, nhân vật “tôi” kể rằng lúc đi tàu điện ngầm, anh bị một đôi nam nữ Pháp tưởng là Khải Định. Họ thản nhiên bàn về bộ dạng của “hắn”: mũi tẹt, mắt xếch, khăn quấn, nhẫn đeo đầy tay, người khoác lụa là, hạt cườm; họ coi “hắn” là món giải trí mới khi các vụ án giật gân đã nhạt, còn đùa rằng nhà hát múa rối muốn thuê “hắn”. Họ xuống tàu, “tôi” nhớ chuyện vua Thuấn, vua Pi-e cải trang đi tìm hiểu dân và tự hỏi Khải Định sang Pháp để làm gì, phải chăng để học cách làm cho dân say rượu, nghiện thuốc phiện hơn. Cuối thư, anh kể rằng người An Nam nào ở Pháp cũng được coi như vua, được dân chúng chỉ trỏ và được chính phủ cử người “hộ giá” bám sát như hình với bóng, rồi mỉa mai rằng mình rất tự hào vì có một vị hoàng đế.
Lời kết
Nắm chắc hoàn cảnh ra đời, tình huống nhầm lẫn và giọng nói ngược là chìa khóa để học Vi hành. Từ ba điểm ấy, em có thể giải thích vì sao một truyện ngắn chỉ vài trang lại đả kích được cùng lúc cả ông vua bù nhìn lẫn chính quyền thực dân.
Xem thêm:
- Soạn bài Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: Cuộc đời và sự nghiệp – Ngữ văn 12 Cánh diều
- Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (Nguyễn Ái Quốc): Tác giả, tác phẩm
- Những bài thơ Hồ Chí Minh hay nhất
- Soạn bài Vi hành (Nguyễn Ái Quốc) – Ngữ văn 12 Cánh diều & Ngữ văn 11 cũ
- Tóm tắt Vi hành (Nguyễn Ái Quốc) ngắn gọn, đầy đủ – 7 mẫu hay nhất