Theo thống kê Index Translationum của UNESCO, tác phẩm của ông có hơn 4.700 bản dịch ra tiếng nước ngoài, chỉ xếp sau Agatha Christie và đứng trên cả Sếch-xpia. Giuyn Véc-nơ (Jules Verne, 1828 – 1905) là nhà văn Pháp, tác giả bộ tiểu thuyết Những chuyến du hành kỳ thú với Hai vạn dặm dưới đáy biển, Cuộc du hành vào lòng đất, Tám mươi ngày vòng quanh thế giới, người đôi khi được gọi là “cha đẻ của khoa học viễn tưởng”, danh xưng ông chia với H. G. Wells và Hugo Gernsback. Học sinh Việt Nam đọc ông ở lớp 7, qua những trang viết về chiếc tàu ngầm Nau-ti-lúx và thuyền trưởng Nê-mô.
Cậu bé ở cảng Năng-tơ và giai thoại con tàu Co-ra-li

| Tên đầy đủ | Jules Gabriel Verne (Giuyn Ga-bri-en Véc-nơ) |
| Năm sinh – năm mất | 8/2/1828 – 24/3/1905 |
| Quê quán | Sinh ở Năng-tơ (Nantes), miền tây nước Pháp; mất tại A-miêng (Amiens) |
| Thể loại | Tiểu thuyết phiêu lưu, khoa học viễn tưởng; kịch, truyện ngắn, thơ |
| Tác phẩm tiêu biểu | Năm tuần trên khinh khí cầu (1863), Cuộc du hành vào lòng đất (1864), Từ Trái Đất lên Mặt Trăng (1865), Hai vạn dặm dưới đáy biển (1869 – 1870), Tám mươi ngày vòng quanh thế giới (1872) |
| Danh hiệu | Bắc Đẩu Bội tinh hạng hiệp sĩ (1870), hạng sĩ quan (1892) |
| Trong SGK hiện hành | Cuộc chạm trán trên đại dương, Dòng “Sông Đen”, Bạch tuộc, Một trăm dặm dưới mặt đất (Ngữ văn 7) |
Ông sinh ngày 8/2/1828 trên đảo Phây-đô (Île Feydeau), khi ấy là một cồn nhân tạo giữa dòng Loa (Loire) trong lòng thành phố cảng Năng-tơ. Cha là Pi-e Véc-nơ, một luật sư; họ ngoại có nhiều người làm nghề đi biển và chủ tàu. Là con trai cả trong năm anh chị em, ông được gia đình định sẵn sẽ nối nghiệp cha.
Tuổi thơ của ông gắn với bến cảng. Trong hồi ký ngắn Kỷ niệm thời thơ ấu và tuổi trẻ (1890), ông kể về nỗi mê mẩn những con tàu buôn ngược xuôi trên sông Loa. Một người ông chú từng đi vòng quanh thế giới, sau này được ông mượn tên đặt cho một nhân vật.
Có một giai thoại hay được kể: năm 1839, cậu bé mười một tuổi lén xin làm bồi tàu trên chiếc thuyền buồm Co-ra-li (Coralie) để sang Ấn Độ, bị cha đuổi kịp ở bến kế tiếp và phải hứa từ nay “chỉ du lịch trong tưởng tượng”. Câu chuyện đẹp đến mức đáng ngờ. Các nhà nghiên cứu hiện cho rằng nó do người viết tiểu sử đầu tiên của ông, cô cháu Mác-gơ-rít A-lốt đờ La Phuy-ê, thêu dệt hoặc thổi phồng từ một sự việc nhỏ.
Bỏ nghề luật, sống bằng kịch và phòng đọc thư viện
Năm 1848, chàng thanh niên lên Pa-ri học luật đúng như ý cha, đúng lúc thủ đô vừa qua cuộc cách mạng tháng Hai. Ông lấy bằng cử nhân luật đầu năm 1851, nhưng thời gian dành cho các phòng khách văn chương và sân khấu thì nhiều hơn. Nhờ quen con trai A-lếch-xan-đrơ Đuy-ma, vở hài kịch một hồi Những cọng rơm gãy của ông được dựng năm 1850. Sau đó ông làm thư ký cho Nhà hát Trữ tình (Théâtre Lyrique), lương ít ỏi, đổi lại được viết và dựng nhạc kịch.
Tháng 1/1852, người cha đề nghị giao hẳn văn phòng luật ở Năng-tơ cho con trai. Ông từ chối. Từ đó ông tự lo kế sinh nhai, có lúc làm môi giới chứng khoán ở Sở giao dịch Pa-ri sau khi cưới bà Ô-nô-rin, một góa phụ có hai con, năm 1857.
Điều quyết định nhất trong những năm này lại diễn ra trong phòng đọc của Thư viện Quốc gia. Ông đọc sách địa lý, thiên văn, khoa học, ghi chép thành từng phiếu để dùng về sau; thói quen làm phiếu ấy theo ông suốt đời. Các truyện ngắn đầu tay in trên tạp chí Bảo tàng gia đình từ năm 1851, như Một chuyến đi bằng khinh khí cầu, đã cho thấy công thức của ông: phiêu lưu cộng với kiến thức. Sau này chính ông gọi truyện ấy là dấu hiệu đầu tiên của dòng tiểu thuyết mà ông sẽ theo đuổi.
Bản hợp đồng với nhà xuất bản Hét-zen
Năm 1862, ông mang bản thảo một truyện phiêu lưu bằng khinh khí cầu qua châu Phi đến gặp Pi-e Giuyn Hét-zen (Pierre-Jules Hetzel), nhà xuất bản của Ban-dắc, George Sand và Huy-gô. Hét-zen đang chuẩn bị ra một tạp chí cho thanh thiếu niên kết hợp giải trí với giáo dục, và thấy ngay đây là người viết ông cần. Năm tuần trên khinh khí cầu ra mắt đầu năm 1863 và thành công cả ở nước ngoài.
Hét-zen ký với ông một hợp đồng dài hạn: mỗi năm giao ba tập sách, nhà xuất bản mua đứt với giá cố định. Hầu hết tiểu thuyết về sau đều đăng nhiều kỳ trên Tạp chí Giáo dục và Giải trí trước khi in thành sách. Từ năm 1866, Hét-zen gọi chung chúng là Những chuyến du hành kỳ thú (Voyages extraordinaires), với tham vọng kể lại toàn bộ hiểu biết địa lý, địa chất, vật lý, thiên văn của khoa học đương thời dưới dạng truyện. Theo thống kê thường được dẫn, bộ truyện gồm 62 tiểu thuyết và 18 truyện ngắn, viết trong khoảng bốn mươi năm.
Quan hệ này không chỉ có tiền nhuận bút. Hét-zen can thiệp sâu vào bản thảo: bắt viết lại đoạn kết Những cuộc phiêu lưu của thuyền trưởng Hát-tê-rát để nhân vật chính khỏi chết, và từ chối thẳng Pa-ri thế kỷ XX vì cho là quá bi quan. Cuốn này nằm trong ngăn kéo hơn một thế kỷ, đến năm 1989 mới được người chắt tìm thấy và in năm 1994.
Nê-mô suýt là một người Ba Lan: chuyện viết Hai vạn dặm dưới đáy biển
Hai vạn dặm dưới đáy biển đăng nhiều kỳ từ tháng 3/1869 đến tháng 6/1870. Nhan đề chỉ quãng đường con tàu đi dưới các đại dương, không phải độ sâu: hai vạn dặm (lieue) xấp xỉ hai vòng Trái Đất. Người kể chuyện là giáo sư A-rô-nắc, cùng người hầu Công-xây và tay thợ lao Nét Len bị bắt lên chiếc tàu ngầm Nau-ti-lúx của thuyền trưởng Nê-mô.
Trong ý định ban đầu, Nê-mô là một nhà khoa học Ba Lan, gia đình bị quân Nga sát hại trong cuộc khởi nghĩa tháng Giêng năm 1863, nên ông trả thù nước Nga. Hét-zen phản đối vì sợ mất thị trường sách ở Nga, nước khi ấy đang thân với Pháp. Sau nhiều tranh cãi, nhà văn chọn cách để quá khứ của Nê-mô trong bóng tối: người đọc chỉ biết ông là kẻ có tổ quốc bị chiếm và gia đình bị giết. Mãi đến Hòn đảo bí ẩn, thân thế ấy mới được hé lộ theo một hướng khác. Sau lần va chạm này, ông dè dặt hơn hẳn với những gợi ý của nhà xuất bản.
Ba đoạn trích trong sách Ngữ văn 7 đều lấy từ tiểu thuyết này: cuộc săn đuổi “con quái vật” của tàu chiến Mỹ, chuyến đi qua dòng hải lưu Cư-rô-si-ô, và trận đánh nhau với bầy bạch tuộc khổng lồ.
Giuyn Véc-nơ có “tiên tri” tàu ngầm không?
Hay được nói là ông đã “đoán trước” tàu ngầm. Thực ra tàu ngầm đã có từ trước khi ông viết, chỉ là những con tàu thô sơ. Theo các tài liệu về tiểu thuyết, ông lấy cảm hứng từ mô hình tàu ngầm Plông-giơ (Plongeur) của hải quân Pháp trưng bày ở Triển lãm Thế giới năm 1867. Điều khiến Nau-ti-lúx đáng chú ý là cách nó được hình dung: chạy hoàn toàn bằng điện, đủ tiện nghi để sống lâu dài dưới nước, với nhiều đặc điểm mà tàu ngầm hiện đại về sau mới có.
Cách làm việc của ông giải thích phần “tiên đoán” này tốt hơn mọi huyền thoại: đọc kỹ những gì khoa học đã biết rồi kéo dài thêm một bước. Ông viết về đáy biển, lòng đất và Mặt Trăng mà chưa từng đến những nơi ấy; những chuyến đi biển có thật của ông chỉ là các hải trình quanh châu Âu trên mấy chiếc du thuyền mang tên Xanh Mi-sen (Saint-Michel), và một chuyến vượt Đại Tây Dương sang Mỹ năm 1867.
Lúc sinh thời, sự ăn khách lại khiến ông bị giới phê bình xếp vào hàng nhà văn giải trí. Ông chưa bao giờ được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp. Ở các nước nói tiếng Anh, những bản dịch cắt xén và các bộ phim phóng tác lỏng lẻo càng làm ông bị coi là tác giả truyện thiếu nhi. Phải đến những năm 1960 – 1970, các nhà nghiên cứu Pháp như Rô-lăng Bác-tơ mới đọc lại ông như một nhà văn thực thụ.

Những năm ở A-miêng: viên đạn năm 1886 và chiếc ghế hội đồng thành phố
Từ năm 1872, gia đình ông sống ở A-miêng, quê vợ, phía bắc nước Pháp. Tiền bán sách đều đặn, nhưng phần lớn tài sản lại đến từ sân khấu: bản kịch Tám mươi ngày vòng quanh thế giới (1874) và Mi-chen Xtơ-rô-gốp (1876), viết chung với A-đôn-phơ Đơ-nơ-ri, diễn liên tục nhiều năm.
Ngày 9/3/1886, khi ông về đến nhà, người cháu trai Ga-xtông bắn hai phát súng. Một viên trúng chân trái, để lại tật đi khập khiễng suốt đời; người cháu bị đưa vào nhà thương điên. Cùng năm ấy Hét-zen qua đời, rồi đến mẹ ông. Những cuốn viết từ cuối thập niên 1880 trở đi u tối hơn hẳn, ít tin vào khoa học hơn.
Năm 1888, ông được bầu vào hội đồng thành phố A-miêng và ngồi ghế này khoảng mười lăm năm, lo chuyện quy hoạch, trường học, nhà hát. Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh hạng sĩ quan năm 1892 được trao cho ông vì công việc ở hội đồng chứ không phải vì văn chương. Ông mất ngày 24/3/1905 tại nhà riêng ở A-miêng, sau nhiều năm bị bệnh tiểu đường. Người con trai Mi-sen tiếp tục cho in các bản thảo còn lại, và sau này người ta phát hiện Mi-sen đã sửa chúng khá nhiều.
Giuyn Véc-nơ trong sách giáo khoa Ngữ văn 7
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Cuộc chạm trán trên đại dương (trích Hai vạn dặm dưới biển) | Ngữ văn 7 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 7 (Thế giới viễn tưởng) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Dòng “Sông Đen” | Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 9 (Trong thế giới viễn tưởng) | Soạn bài · Tóm tắt |
| Bạch tuộc | Ngữ văn 7 Cánh diều, tập 1 – Bài 3 (Truyện khoa học viễn tưởng) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Một trăm dặm dưới mặt đất (trích Cuộc du hành vào lòng đất) | Ngữ văn 7 Cánh diều, tập 1 – Bài 3 (Tự đánh giá) | — |
Bản dịch Hai vạn dặm dưới biển của Đỗ Ca Sơn dùng trong sách giáo khoa còn được bảo hộ bản quyền, vì vậy các bài trên Văn VN chỉ tóm lược và trích rất ngắn. Muốn nắm nhanh diễn biến, có thể xem tóm tắt Cuộc chạm trán trên đại dương hoặc tóm tắt Bạch tuộc. Bài phân tích Cuộc chạm trán trên đại dương và bài cảm nhận về cuộc chiến với bạch tuộc phù hợp khi làm bài viết.
Khi học, nên để ý điều làm nên chất Véc-nơ trong cả ba đoạn: các con số đo đạc cụ thể (tốc độ, chiều dài, độ sâu), những tên gọi khoa học được liệt kê dày đặc, và một người kể chuyện là nhà khoa học vừa kinh ngạc vừa cố giữ bình tĩnh để quan sát. Thời trẻ ông từng mê kịch của Vích-to Huy-gô đến mức thuộc lòng nhiều trang; tác phẩm của Huy-gô mà các em học ở lớp 10 là Người cầm quyền khôi phục uy quyền.