Soạn bài Mộ (Chiều tối), Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng) theo sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức (tập 2, Bài 6 “Hồ Chí Minh – Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, trang 18–20). Sách dạy hai bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh trong cùng một văn bản đọc với một hệ thống câu hỏi chung, nên bài soạn dưới đây trả lời đủ 2 câu hỏi trước khi đọc, 2 câu hỏi trong khi đọc, 8 câu hỏi sau khi đọc và phần kết nối đọc – viết.
Tìm hiểu chung về hai bài thơ Mộ và Nguyên tiêu
Hai bài thơ cùng viết bằng chữ Hán, cùng thể thất ngôn tứ tuyệt, nhưng ra đời trong hai hoàn cảnh rất khác: một trong cảnh tù đày, một giữa chiến khu kháng chiến.

Bài thơ Mộ (Chiều tối)
Phiên âm:
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không;
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.
Dịch nghĩa (diễn xuôi): Chim mỏi bay về rừng tìm cây để ngủ; chòm mây lẻ loi chầm chậm trôi ngang bầu trời. Cô gái xóm núi xay ngô; ngô xay vừa xong, lò than đã đỏ rực.
Dịch thơ (Nam Trân):
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;
Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết, lò than đã rực hồng.
Mộ là bài thơ trong tập Nhật kí trong tù (Ngục trung nhật kí), tập thơ chữ Hán Hồ Chí Minh viết từ tháng 8/1942 đến tháng 9/1943, khi Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam ở Quảng Tây (Trung Quốc). Bài thơ được viết vào cuối thu năm 1942, trên một chặng đường Người bị giải đi từ nhà lao này sang nhà lao khác. Xem thêm thông tin ở bài tác giả, tác phẩm Mộ (Chiều tối).
Bài thơ Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng)
Phiên âm:
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.
Dịch nghĩa (diễn xuôi): Đêm nay là đêm rằm tháng Giêng, trăng vừa tròn đầy. Sông xuân, nước xuân nối liền với trời xuân. Nơi sâu thẳm mịt mù khói sóng, bàn bạc việc quân; nửa đêm trở về, trăng chở đầy thuyền.
Dịch thơ (Xuân Thủy):
Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.
Nguyên tiêu được Hồ Chí Minh sáng tác năm 1948 ở chiến khu Việt Bắc, những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. “Nguyên tiêu” là đêm rằm tháng Giêng – đêm trăng tròn đầu tiên của năm mới. Ở Ngữ văn 7 chương trình cũ, bài thơ được học với nhan đề Rằm tháng giêng.
So sánh nhanh hai bài thơ
| Tiêu chí | Mộ (Chiều tối) | Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng) |
|---|---|---|
| Hoàn cảnh | Cuối thu 1942, trên đường chuyển lao ở Quảng Tây | 1948, chiến khu Việt Bắc, kháng chiến chống Pháp |
| Thời điểm | Chiều tối chuyển sang đêm | Đêm rằm tháng Giêng đến nửa đêm |
| Hình tượng | Chim mỏi, chòm mây, cô gái xay ngô, lò than | Trăng tròn, sông – nước – trời xuân, con thuyền |
| Tâm thế nhà thơ | Người tù vượt lên cảnh ngộ, hướng về sự sống | Người chiến sĩ ung dung, hòa hợp với thiên nhiên |
Trước khi đọc
Hai câu hỏi ở trang 18 giúp em khởi động, gắn hai bài thơ với truyền thống thơ ca.
Câu 1: Vị trí của bình minh, hoàng hôn, đêm trăng rằm trong cảm hứng sáng tác (trang 18)
Theo trải nghiệm và vốn văn học của bạn, những thời điểm như buổi bình minh, lúc hoàng hôn, đêm trăng rằm… có vị trí như thế nào trong cảm hứng sáng tạo của các nhà thơ xưa và nay?
Trả lời:
Đây là những thời khắc giao chuyển của thiên nhiên nên rất dễ khơi gợi cảm xúc, vì thế chúng trở thành “đề tài vàng” của thơ ca:
- Hoàng hôn thường gợi nỗi buồn, nỗi nhớ nhà, nhớ quê: Thôi Hiệu nhìn khói sóng lúc chiều tà mà buồn nhớ quê trong Hoàng Hạc lâu; Bà Huyện Thanh Quan bước tới Đèo Ngang khi “bóng xế tà”; Huy Cận trong Tràng giang nhìn “khói hoàng hôn” mà nhớ nhà.
- Đêm trăng rằm gợi vẻ đẹp tròn đầy, sự giao hòa, nỗi nhớ và tâm hồn thi sĩ: Lí Bạch ngẩng đầu nhìn trăng mà nhớ cố hương; trăng là người bạn tri âm trong thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến và trong thơ Hồ Chí Minh.
- Bình minh thường gắn với sự khởi đầu, niềm tin và sức sống mới, như cảnh mặt trời nhô lên trên biển trong Đoàn thuyền đánh cá.
Như vậy, những thời điểm ấy vừa là bối cảnh, vừa là “chất xúc tác” để nhà thơ bộc lộ tâm trạng và cách nhìn cuộc đời.
Câu 2: Hình dung về nội dung sáng tác của nhà thơ lấy lí tưởng cách mạng làm lẽ sống (trang 18)
Trả lời:
Em hình dung thơ của những nhà thơ – chiến sĩ sẽ:
- Nói về lí tưởng độc lập, tự do; cổ vũ tinh thần đấu tranh; phản ánh gian khổ, hi sinh của người cách mạng.
- Thể hiện ý chí kiên định, tinh thần lạc quan, niềm tin vào tương lai của dân tộc.
- Nhưng không chỉ có “thép”: họ vẫn là những con người giàu cảm xúc, yêu thiên nhiên, yêu con người lao động, biết rung động trước một cánh chim, một vầng trăng. Chính sự hòa quyện giữa chất chiến sĩ và chất thi sĩ làm nên sức hấp dẫn của thơ Hồ Chí Minh.
Trong khi đọc
Hai câu hỏi đặt bên lề văn bản, trang 19.
Câu 1: Hình dung cảnh ngộ nhân vật trữ tình trên đường đi đày (bài Mộ, trang 19)
Trả lời:
Người tù bị giải đi bộ suốt ngày trên đường núi, chân mang xiềng xích, bụng đói, người mệt. Chiều xuống, chim đã về rừng, mây đã trôi đi, còn người tù vẫn chưa được dừng chân, chưa biết đêm nay ngủ ở đâu. Không gian núi rừng xứ lạ mênh mông, vắng vẻ càng làm nổi bật sự cô đơn, mất tự do. Vậy mà người tù không kêu than, vẫn dõi theo cánh chim, chòm mây và hướng về một xóm núi có ánh lửa ấm.
Câu 2: Chú ý điệp từ ở câu 2 và mối tương quan không gian – hoạt động con người ở câu 3 (bài Nguyên tiêu, trang 19)
Trả lời:
- Điệp từ ở câu 2: chữ “xuân” lặp lại ba lần (xuân giang, xuân thủy, xuân thiên), kết hợp với chữ “tiếp” (nối liền), làm sắc xuân lan từ sông, sang nước rồi lên tận trời. Không gian vì thế vừa rộng lớn, vừa căng tràn sức sống.
- Câu 3: không gian “yên ba thâm xứ” (nơi khói sóng sâu thẳm) mờ ảo, kín đáo, đối lập với hoạt động rất cụ thể, trọng đại là “đàm quân sự” (bàn việc quân). Không gian thơ mộng che chở cho công việc bí mật của kháng chiến; con người không bị cảnh vật lấn át mà trở thành trung tâm của bức tranh.
Sau khi đọc
Tám câu hỏi ở trang 20 yêu cầu em so sánh, đối chiếu hai bài thơ.
Câu 1: Nhận xét nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong hai câu thơ đầu của mỗi bài (trang 20)
Trả lời:
- Mộ: thiên nhiên được vẽ bằng bút pháp chấm phá của thơ cổ: chỉ hai nét là cánh chim mỏi và chòm mây lẻ loi, đặt trên nền trời chiều rộng lớn. Hình ảnh ít mà gợi nhiều: cánh chim về tổ cho biết thời gian (chiều tối); chữ “quyện” (mỏi) và “cô” (lẻ loi) nhuốm tâm trạng người tù. Cảnh nhỏ bé đặt trong không gian vô tận tạo cảm giác tĩnh lặng, buồn vắng.
- Nguyên tiêu: thiên nhiên hiện ra tròn đầy, lồng lộng. Câu 1 dồn nét tả vào vầng trăng “chính viên” (vừa đúng lúc tròn nhất); câu 2 dùng điệp từ “xuân” và chữ “tiếp” để mở không gian từ sông, nước đến trời. Bút pháp vừa cổ điển (hình ảnh trăng, sông nước ước lệ) vừa tươi tắn, giàu sức sống.
- ⇒ Cả hai đều cô đọng, gợi nhiều hơn tả, nhưng một bên buồn vắng, một bên tràn đầy xuân sắc.
Câu 2: Tác động của thời điểm chiều tối và đêm rằm đến cảm xúc nhà thơ (trang 20)
Dựa vào hoàn cảnh sáng tác của mỗi tác phẩm, hãy chỉ ra tác động của thời điểm chiều tối và đêm trăng rằm tháng Giêng đến cảm xúc và tâm trạng của nhà thơ trong mỗi bài.
Trả lời:
- Chiều tối (Mộ): với người tù đang bị giải đi, chiều tối là lúc mệt mỏi nhất, lúc vạn vật tìm về chốn nghỉ còn mình thì chưa có nơi dừng chân. Thời điểm ấy dễ gợi nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà, khao khát tự do (điều thấp thoáng qua cánh chim về rừng, chòm mây lẻ loi). Nhưng cũng chính lúc trời tối, ánh lửa hồng nơi xóm núi hiện ra rõ nhất, khơi dậy trong nhà thơ niềm vui ấm áp trước sự sống bình dị của con người.
- Đêm rằm tháng Giêng (Nguyên tiêu): đêm trăng tròn đầu năm, mùa xuân tràn ngập đất trời, lại là đêm bàn việc quân giữa lúc kháng chiến còn nhiều gian khó. Thời điểm ấy khơi dậy niềm say mê trước vẻ đẹp thiên nhiên, cảm giác thư thái, ung dung và niềm tin vào thắng lợi của cách mạng.
Câu 3: Sự vận động của thời gian, của hình tượng thơ và cách nhìn của tác giả (trang 20)
Trong hai bài thơ, sự vận động của thời gian, của hình tượng thơ được thể hiện như thế nào? Bạn có cảm nhận gì về cách nhìn của tác giả đối với chiều hướng phát triển của sự vật?
Trả lời:
Bài Mộ:
- Thời gian vận động từ chiều (chim về tổ, mây trôi) sang tối (câu 3 dịch thơ thêm chữ “tối”) và kết lại ở lúc lò than rực hồng.
- Hình tượng vận động từ thiên nhiên (chim, mây trên trời cao) xuống cuộc sống con người (cô gái xay ngô, bếp lửa); từ viễn cảnh đến cận cảnh; từ bóng tối đến ánh sáng. Điệp vòng “ma bao túc – bao túc ma hoàn” còn gợi vòng quay cối xay và nhịp thời gian trôi.
Bài Nguyên tiêu:
- Thời gian vận động từ đầu đêm rằm (trăng vừa lên, vừa tròn) đến nửa đêm (“dạ bán quy lai”).
- Hình tượng vận động từ thiên nhiên thuần khiết (trăng, sông, nước, trời) đến con người hoạt động giữa thiên nhiên (bàn việc quân), rồi kết lại ở sự hòa hợp: con thuyền chở đầy trăng.
Cảm nhận về cách nhìn của tác giả: ở cả hai bài, sự vật luôn vận động theo hướng đi lên – từ tối đến sáng, từ buồn đến vui, từ thiên nhiên đến con người, từ tĩnh đến động. Đó là cách nhìn lạc quan, tin vào sự sống và tương lai; dù trong tù ngục hay giữa kháng chiến gian khổ, nhà thơ vẫn hướng về ánh sáng.
Câu 4: Cả hai bài thơ đều có bút pháp hội họa đặc sắc – bạn có đồng ý không? (trang 20)
Trả lời:
Em đồng ý, vì mỗi bài thơ giống một bức tranh thủy mặc được vẽ bằng ngôn từ:
- Mộ: hai câu đầu là bức tranh chiều núi rừng chỉ vài nét chấm phá (cánh chim, chòm mây) trên nền trời bao la – lối “lấy ít gợi nhiều” của hội họa phương Đông. Hai câu sau là bức tranh sinh hoạt có điểm nhấn màu sắc: giữa nền tối, lò than “hồng” bừng lên như “con mắt” của bức tranh (thủ pháp điểm nhãn).
- Nguyên tiêu: bức tranh có bố cục tầng bậc: trăng tròn ở trên cao, sông – nước – trời nối tiếp nhau trải rộng; khói sóng mờ ảo làm nền cho con thuyền (thủ pháp hư – thực); kết lại bằng hình ảnh ánh trăng tràn ngập khoang thuyền – một nét vẽ vừa thực vừa lãng mạn.
- Màu sắc, ánh sáng, đường nét, bố cục xa – gần đều được chú ý, khiến người đọc “nhìn thấy” bài thơ.
Câu 5: Đối chiếu bản dịch thơ với nguyên văn (trang 20)
Đối chiếu các bản dịch thơ với nguyên văn (thông qua bản dịch nghĩa), chỉ ra những chỗ bản dịch thơ chưa diễn đạt hết sắc thái và hàm nghĩa của nguyên văn.
Trả lời:
| Nguyên văn | Bản dịch thơ | Chỗ chưa sát |
|---|---|---|
| Quyện điểu (chim mỏi) | Chim mỏi | Tương đối sát, nhưng chưa gợi được dáng bay chậm, nặng nề của chữ “quyện”. |
| Cô vân mạn mạn (mây lẻ loi, chầm chậm) | Chòm mây trôi nhẹ | Mất chữ “cô” (lẻ loi – gợi nỗi cô đơn của người tù) và sắc thái chậm chạp, lững lờ của “mạn mạn”; “trôi nhẹ” làm cảnh thành thanh thản. |
| Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc | Cô em xóm núi xay ngô tối | Thêm chữ “tối” làm lộ ý thời gian vốn được gợi kín qua ánh lửa; “cô em” thân mật hơn “thiếu nữ”. |
| Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng | Xay hết, lò than đã rực hồng | Mất điệp vòng “ma bao túc – bao túc ma”; chữ “hồng” nguyên văn là động từ/trạng thái (lò đã đỏ rực lên), bản dịch dễ hiểu thành tính từ chỉ màu, giảm độ “sáng” của nhãn tự. |
| Nguyệt chính viên (trăng vừa đúng lúc tròn nhất) | Rằm xuân lồng lộng trăng soi | Mất ý “chính viên” – khoảnh khắc trăng tròn trọn vẹn; bản dịch nghiêng về tả ánh sáng. |
| Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên | Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân | Điệp ba chữ “xuân” còn hai; chữ “tiếp” (nối liền, vận động) thành “lẫn”. |
| Yên ba thâm xứ (nơi khói sóng sâu thẳm) | Giữa dòng | Mất hẳn hình ảnh khói sóng mờ ảo – cái nền hư ảo, bí mật của cuộc họp. |
| Nguyệt mãn thuyền (trăng đầy thuyền) | Bát ngát trăng ngân đầy thuyền | Thêm “bát ngát”, “ngân” – đẹp, giàu nhạc tính nhưng không có trong nguyên văn, làm giảm vẻ hàm súc. |
Câu 6: Cảm nhận về tâm trạng, đời sống tâm hồn người tù qua hai câu sau bài Mộ (trang 20)
Bức tranh cuộc sống con người ở hai câu sau bài thơ Mộ gợi cho bạn cảm nhận gì về tâm trạng và đời sống tâm hồn của người tù – nhà thơ?
Trả lời:
- Bức tranh rất bình dị: một cô gái xóm núi mải miết xay ngô, xay xong thì bếp lửa đã đỏ. Đó là cảnh lao động, cảnh sum họp gia đình quen thuộc của người dân nghèo.
- Người tù đang mệt, đói, không có tự do, nhưng ánh mắt không hướng vào nỗi khổ của mình mà hướng về cuộc sống của người khác. Ánh lửa hồng đem lại cho người đọc – và cho chính người tù – cảm giác ấm áp.
- Qua đó thấy một tâm hồn nhạy cảm, giàu yêu thương, luôn trân trọng người lao động; một tinh thần lạc quan, ung dung, vượt lên hoàn cảnh; một bản lĩnh cách mạng biết tìm niềm vui ngay giữa gian truân.
Câu 7: Hình ảnh trăng đầy thuyền và mối tương quan chiến sĩ – nghệ sĩ (trang 20)
Hình ảnh ánh trăng đầy thuyền trong hai câu sau bài thơ Nguyên tiêu có thể đưa đến những suy nghĩ gì về mối tương quan giữa người chiến sĩ và người nghệ sĩ ở nhân vật trữ tình?
Trả lời:
- Con thuyền chở người chiến sĩ vừa bàn xong việc quân – công việc hệ trọng của cả dân tộc; ánh trăng tràn đầy khoang thuyền là vẻ đẹp mà người nghệ sĩ cảm nhận được. Hai hình ảnh gắn liền: chuyến thuyền của người chiến sĩ cũng là chuyến thuyền của người thi sĩ.
- Nhân vật trữ tình không hề thấy việc nước và vẻ đẹp thiên nhiên đối lập nhau. Người chiến sĩ càng tự tin vào sự nghiệp thì người nghệ sĩ càng thanh thản đón nhận trăng; ngược lại, tâm hồn nghệ sĩ giúp người chiến sĩ giữ được phong thái ung dung.
- ⇒ Chiến sĩ và nghệ sĩ hòa quyện, bổ sung cho nhau, làm nên vẻ đẹp nhân cách Hồ Chí Minh.
Câu 8: Dấu ấn phong cách cổ điển trong mỗi tác phẩm (trang 20)
Trả lời:
- Chung: viết bằng chữ Hán, thể thất ngôn tứ tuyệt với kết cấu khai – thừa – chuyển – hợp; ngôn ngữ cô đọng, hàm súc; bút pháp chấm phá, lấy ít gợi nhiều; con người hòa hợp với thiên nhiên.
- Mộ: thi liệu quen thuộc của thơ chiều cổ điển (cánh chim về rừng, chòm mây cô độc, trời chiều); bút pháp đối lập hữu hạn – vô hạn; dùng cảnh để tả tình (chữ “quyện”, “cô”).
- Nguyên tiêu: hình ảnh trăng, xuân, sông nước, khói sóng mang tính ước lệ; cụm “yên ba” gợi nhớ khói sóng trong thơ Đường; hình ảnh “nguyệt mãn thuyền” gợi lại cảnh thưởng trăng trên sông của thi nhân xưa. Nhưng thi nhân trong bài không phải ẩn sĩ mà là người đang lo việc quân – nét hiện đại đan xen cổ điển.
Kết nối đọc – viết
Đề bài (trang 20): Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích giá trị đặc sắc của hình ảnh lò than rực hồng (Mộ) hoặc hình ảnh trăng đầy thuyền (Nguyên tiêu).
Đoạn văn tham khảo 1: hình ảnh lò than rực hồng
Hình ảnh lò than rực hồng ở cuối bài Mộ là “nhãn tự” làm sáng cả bài thơ. Ba câu trước, cảnh chiều núi rừng mỗi lúc một tối: chim đã về tổ, mây lẻ loi trôi, cô gái xóm núi cặm cụi xay ngô. Đến câu cuối, chữ “hồng” bất ngờ bừng lên, xua đi bóng tối và cái lạnh nơi xứ lạ. Ánh lửa ấy là dấu hiệu của một bữa cơm, một mái nhà ấm cúng – những điều mà người tù đang bị giải đi không có, nhưng Người vẫn vui với niềm vui của người khác. Về nghệ thuật, hình ảnh tạo nên sự vận động từ tối đến sáng, từ lạnh đến ấm, từ buồn đến vui – một cấu trúc rất Hồ Chí Minh. Lò than rực hồng vì thế vừa là ngọn lửa thật, vừa là ngọn lửa của niềm tin và tình yêu sự sống trong tâm hồn người chiến sĩ.
Đoạn văn tham khảo 2: hình ảnh trăng đầy thuyền
Câu thơ “Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền” khép lại bài Nguyên tiêu bằng một hình ảnh đẹp như tranh. Sau cuộc bàn việc quân giữa nơi khói sóng mịt mù, con thuyền trở về lúc nửa đêm, và ánh trăng rằm như tràn xuống, chở đầy khoang thuyền. Chữ “mãn” (đầy) gợi sự viên mãn: trăng tròn, xuân đầy, việc quân cũng đã bàn xong trong niềm tin thắng lợi. Hình ảnh ấy cho thấy con người không đứng ngoài thiên nhiên mà hòa làm một với thiên nhiên; ánh trăng không chỉ soi đường mà còn như người bạn đồng hành. Đằng sau con thuyền chở trăng là phong thái ung dung, lạc quan của người chiến sĩ và tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ. Cổ điển ở thi liệu nhưng hiện đại ở tinh thần, câu thơ để lại dư âm ngân nga, tươi sáng.
Kết luận
Qua bài soạn, em thấy Mộ và Nguyên tiêu đều là những bài tứ tuyệt chữ Hán cô đọng, kết hợp hài hòa chất cổ điển và tinh thần hiện đại. Một bài đi từ bóng chiều đến ánh lửa hồng, một bài đi từ trăng rằm đến con thuyền chở trăng; cả hai cho thấy tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu con người và phong thái lạc quan của Hồ Chí Minh trong mọi hoàn cảnh.
Xem thêm:
- Tác giả – tác phẩm Mộ (Chiều tối) – Ngữ văn 12 Kết nối tri thức
- Cảm nhận bài thơ Rằm tháng giêng (Nguyên tiêu)
- Vọng nguyệt (Ngắm trăng) – tác giả, tác phẩm, cùng Bài 6
- Cảnh khuya – tác giả, tác phẩm, cùng Bài 6
- Mở bài Rằm tháng giêng (Nguyên tiêu) hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, nâng cao
- Kết bài Rằm tháng giêng (Nguyên tiêu) hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, nâng cao