Mùa xuân năm Ất Tỵ 1905, trước khi rời đất nước sang Nhật Bản, một nhà nho xứ Nghệ để lại cho bạn bè bài thơ mở đầu bằng ý “làm trai phải lạ ở trên đời”. Phan Bội Châu (1867 – 1940) là nhà yêu nước lớn đầu thế kỷ XX, người khởi xướng phong trào Đông Du, đồng thời là tác giả của hàng trăm bài thơ, văn chính luận, truyện, sử viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Với ông, văn chương trước hết là phương tiện để gọi người cùng đứng lên, và những trang viết ấy theo ông từ trường thi Nghệ An tới nhà ngục Quảng Đông, rồi về căn nhà tranh bên bến Ngự ở Huế.
Đầu xứ San và tấm bảng Giải nguyên năm 1900

| Tên khai sinh | Phan Văn San |
| Hiệu, biệt hiệu | Hải Thụ, sau đổi là Sào Nam; ngoài ra còn ký Thị Hán, Sào Nam Tử… |
| Năm sinh – năm mất | 26/12/1867 – 29/10/1940 |
| Quê quán | Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (quê nội làng Đan Nhiễm, quê ngoại làng Sa Nam) |
| Thể loại | Thơ chữ Hán và chữ Nôm, hát nói, văn chính luận, sử, truyện, tiểu thuyết chữ Hán |
| Tác phẩm tiêu biểu | Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, Ngục trung thư, Trùng Quang tâm sử, Phan Bội Châu niên biểu, Xuất dương lưu biệt |
| Học vị | Giải nguyên trường thi Hương Nghệ An, khoa Canh Tý (1900) |
| Trong SGK hiện hành | Bài ca chúc Tết thanh niên (Ngữ văn 9 KNTT); Lưu biệt khi xuất dương (Ngữ văn 12 Cánh diều) |
Cậu bé Phan Văn San nổi tiếng thông minh từ nhỏ: sáu tuổi học ba ngày đã thuộc Tam tự kinh, mười ba tuổi đỗ đầu huyện, mười sáu tuổi đỗ đầu xứ nên người làng gọi là “đầu xứ San”. Khoảng năm mười bảy tuổi, khi nghe tin quân Pháp đánh Bắc Kỳ, ông viết bài hịch Bình Tây thu Bắc hưởng ứng phong trào chống Pháp. Năm 1885, ông lập đội “Sĩ tử Cần Vương” chừng sáu chục người, nhưng chưa kịp hành động thì bị càn quét, phải giải tán.
Đường khoa cử của ông có một khúc gãy lạ. Năm 1897, ông bị bắt lỗi mang sách vào trường thi, thật ra là sách do bạn bỏ vào tráp, và bị án cấm thi suốt đời. Ông vào Huế dạy học, được xóa án, và đến khoa Canh Tý 1900 thì đỗ Giải nguyên trường Nghệ. Đỗ đầu nhưng ông không ra làm quan: tấm bảng vàng chỉ là tấm giấy thông hành để đi lại, kết giao với sĩ phu khắp nơi. Còn cái tên Phan Bội Châu và tên hiệu Sào Nam (lấy từ ý “chim Việt làm tổ cành Nam”) có nhiều cách giải thích; bài Phan Bội Châu và ý nghĩa những cái tên kể lại khá chi tiết.
Bài thơ từ biệt trước chuyến xuất dương năm 1905
Năm 1904, ở Quảng Nam, Phan Bội Châu cùng Nguyễn Hàm (Tiểu La) và khoảng hai chục đồng chí lập Duy Tân hội, tôn Kỳ ngoại hầu Cường Để làm hội chủ. Đầu năm 1905, ông cùng Đặng Tử Kính, Tăng Bạt Hổ bí mật sang Trung Quốc rồi Nhật Bản để tìm sự giúp đỡ. Trước lúc đi, ông làm bài thơ chữ Hán Xuất dương lưu biệt theo thể thất ngôn bát cú. Hai câu kết:
Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.
Nghĩa là: mong theo ngọn gió dài vượt biển Đông mà đi, nghìn lớp sóng bạc cùng tung bay. Cả bài là một lời tự khẳng định: đã sinh ra làm trai thì không thể để trời đất tự xoay vần, sách thánh hiền mà tụng đọc khi nước đã mất cũng chỉ là ngớ ngẩn. Văn bản trong Ngữ văn 12 Cánh diều in kèm bản dịch thơ của Tôn Quang Phiệt; phân tích kỹ hơn có ở bài Lưu biệt khi xuất dương: tác giả, tác phẩm. Bài thơ thuộc thể thất ngôn bát cú Đường luật, nhưng giọng thì khác hẳn những bài vịnh cảnh quen thuộc của thơ cũ.
Viết sách để thức tỉnh quốc dân
Ở Nhật, Phan Bội Châu gặp Lương Khải Siêu, nhà cải cách Trung Quốc đang lưu vong. Theo Wikipedia tiếng Việt và tiếng Anh, chính Lương Khải Siêu khuyên ông chưa vội lo vũ khí mà hãy dùng ngòi bút làm cho người trong nước thấy nỗi nhục mất nước. Kết quả là Việt Nam vong quốc sử (1905), được Lương Khải Siêu cho in, bí mật đưa về nước và chuyền tay trong giới nho sĩ.
Từ đó, mỗi giai đoạn hoạt động của ông đều để lại sách:
| Năm | Tác phẩm | Ghi chú |
|---|---|---|
| 1905 | Việt Nam vong quốc sử | Chữ Hán, viết ở Nhật |
| 1906 | Hải ngoại huyết thư | Chữ Hán, Lê Đại dịch ra quốc ngữ để truyền bá |
| 1913 – 1914 | Ngục trung thư | Viết trong ngục Quảng Đông, kể lại đời mình |
| 1918 | Việt Nam nghĩa liệt sử | In ở Thượng Hải, hơn 50 truyện về các liệt sĩ |
| — | Trùng Quang tâm sử | Tiểu thuyết chữ Hán về cuộc khởi nghĩa chống Minh |
| Thời ở Huế | Phan Bội Châu niên biểu; Khổng học đăng; Xã hội chủ nghĩa… | Niên biểu là tự truyện, viết bí mật |
Nhiều tác phẩm của ông viết bằng chữ Hán để nhắm tới giới sĩ phu, nhưng các bài ca, bài vè bằng chữ Nôm thì để quần chúng đọc và hát. Lối viết ấy rất “thời sự”: dồn dập, giàu cảm xúc, nhiều câu hỏi xoáy vào người đọc.
Đông Du: khoảng 200 thanh niên sang Nhật học
Chuyến đi năm 1905 khiến Phan Bội Châu đổi hướng: từ cầu viện vũ khí sang cầu học. Ông viết thư kêu gọi thanh niên trong nước sang Nhật học quân sự, khoa học. Trong mấy năm 1905–1908, phong trào Đông Du đưa được khoảng 200 học sinh Việt Nam sang Nhật. Đến năm 1908, Pháp và Nhật bắt tay nhau, học sinh Việt bị trục xuất; tháng 3/1909, chính ông và Cường Để cũng phải rời Nhật.
Báo Nghệ An kể một chi tiết cảm động của giai đoạn này: lúc khó khăn nhất, ông được bác sĩ Asaba Sakitarō giúp đỡ; nhiều năm sau quay lại Nhật thì ân nhân đã mất, ông dựng một tấm bia tạ ơn. Tấm bia ấy nay vẫn còn.
Cùng thời, Phan Châu Trinh, người đồng chí cũng xuất dương sang Nhật, lại không tán thành con đường dựa vào nước ngoài và bạo động; ông chủ trương khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Hai nhà chí sĩ cùng mục đích mà khác đường, một chuyện hay được đem ra so sánh khi học lịch sử và văn học giai đoạn này. Bạn đọc có thể đọc thơ của Phan Châu Trinh qua bài Đập đá ở Côn Lôn.
Ngục Quảng Đông và câu thơ “Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu”
Năm 1912, ở Quảng Đông, ông lập Việt Nam Quang phục hội với tôn chỉ đánh đuổi Pháp, lập nước cộng hòa. Năm sau, Pháp và Nam triều kết án tử hình vắng mặt ông. Cuối năm 1913, theo yêu cầu của Pháp, quân phiệt Quảng Đông bắt giam ông, mãi đến năm 1917 mới thả.
Ngay đêm đầu vào ngục, ông làm một bài thơ Nôm bất chấp hoàn cảnh, về sau chép trong Ngục trung thư:
Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu,
Chạy mỏi chân thì hãy ở tù.
Chữ “hãy” nhẹ tênh, coi nhà tù như một chặng nghỉ chân. Toàn văn và lời bình có ở bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác.

Vụ bắt cóc năm 1925 và truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc
Ngày 30/6/1925, mật thám Pháp bắt cóc Phan Bội Châu ở ga Bắc Thượng Hải, giải về Hà Nội. Cuối năm ấy, Tòa Đề hình xử ông án khổ sai chung thân. Khắp nước dấy lên phong trào đòi thả: học sinh bãi khóa, thợ bãi công, nhà buôn bãi thị. Trước sức ép đó, Toàn quyền Va-ren (Alexandre Varenne) phải ân xá, nhưng đưa ông về an trí ở Huế.
Ở xa, Nguyễn Ái Quốc viết truyện ngắn trào phúng Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, đăng trên báo Le Paria. Trong truyện, người tù được gọi là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập” của hai mươi triệu người đang trong vòng nô lệ. Văn bản này nay ở Ngữ văn 12 Kết nối tri thức và Chân trời sáng tạo; bài Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu: tác giả, tác phẩm tóm tắt từng phần. Mối quan hệ giữa hai người còn có từ trước: Phan Bội Châu vốn là bạn đồng hương của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Hồ Chí Minh.
Mười lăm năm làm “ông già Bến Ngự”
Từ năm 1926 đến khi mất, Phan Bội Châu bị giam lỏng ở Huế, trong căn nhà tranh bên bến Ngự. Người Huế gọi ông thân mật là “ông già Bến Ngự”. Bị theo dõi nhưng ông vẫn tiếp khách, giảng sách, làm thơ văn và khảo cứu: Khổng học đăng, Phật học đăng, cuốn Xã hội chủ nghĩa, và quan trọng nhất là tự truyện Phan Bội Châu niên biểu, sau này được Tôn Quang Phiệt và Phạm Trọng Điềm dịch ra tiếng Việt.
Những năm này ông viết nhiều thơ Nôm cho lớp trẻ. Bài ca chúc Tết thanh niên, viết theo thể hát nói, mở đầu bằng tiếng gọi “Dậy! Dậy! Dậy!”, nhắc tới “hai mươi năm lẻ” bôn ba của chính ông và giục giã thanh niên gánh vác việc nước. Bài Bài ca chúc Tết thanh niên: tác giả, tác phẩm có toàn văn và bố cục.
Căn nhà ở Bến Ngự cũng đi vào văn của người khác: nhà văn Nguyễn Vỹ kể lại những lần đến thăm cụ Phan trong Tuấn – chàng trai nước Việt, đoạn trích nay có trong sách giáo khoa. Ông mất ngày 29/10/1940 tại Huế. Khu lưu niệm và lăng mộ của ông ở Huế, cùng khu lưu niệm ở quê Nam Đàn (di tích quốc gia đặc biệt từ năm 2016), vẫn là nơi nhiều người tìm đến.
Phan Bội Châu trong sách giáo khoa Ngữ văn
| Văn bản | Sách – bài học | Bài trên Văn VN |
|---|---|---|
| Bài ca chúc Tết thanh niên | Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 8 (Tiếng nói của lương tri) | Soạn bài · Phân tích |
| Lưu biệt khi xuất dương | Ngữ văn 12 Cánh diều, tập 1 – Bài 4 (thực hành đọc hiểu) | Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương |
| Ngôi nhà tranh của cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự (Nguyễn Vỹ, văn bản viết về ông) | Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 9 | Soạn bài · Tóm tắt |
| Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (Nguyễn Ái Quốc) | Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 6; Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 8 | Soạn bài (KNTT) |
Một điểm thú vị: học sinh không chỉ đọc thơ văn của Phan Bội Châu mà còn đọc hai văn bản người khác viết về ông, một truyện ngắn trào phúng và một đoạn truyện kí. Đọc cạnh nhau, ta thấy một nhân vật lịch sử được nhìn từ ba phía: tự ông, người cùng thời ở Paris, và một chàng trai Huế đến thăm căn nhà tranh.