Quảng bá giá trị của sách là bài Viết khép lại năm lớp 9 trong Ngữ văn 9 Kết nối tri thức: mục Thách thức thứ hai của Bài 10 Văn học – lịch sử tâm hồn (Tập 2, trang 125–128) yêu cầu viết bài quảng cáo về một cuốn sách dưới hình thức văn bản đa phương thức. Trang này có yêu cầu của SGK, dàn ý, phần giải thích ngắn về văn bản đa phương thức và 10 bài mẫu quảng cáo 10 cuốn sách Việt Nam và nước ngoài, mỗi mẫu một dạng sản phẩm: trang tạp chí, tờ rơi gấp ba, bảng tin, báo tường, thẻ đánh dấu trang, áp phích truyện tranh, bài đăng trang mạng, kịch bản video, trang chiếu và đồ họa thông tin. Năm xuất bản cùng các thông tin về sách đã được đối chiếu ở ít nhất hai nguồn; thư viện, lớp, câu lạc bộ, ngày hội và người thực hiện trong các mẫu đều là giả định.

Yêu cầu của kiểu bài quảng cáo sách dưới hình thức văn bản đa phương thức
Đề trong SGK đặt em vào vai một độc giả yêu sách ở chặng cuối dự án đọc: không phải người bán sách, mà là người muốn bạn bè cùng thấy điều bổ ích, thú vị mình đã nhận được từ một cuốn sách. Sản phẩm phải kết hợp chữ với những phương tiện phi ngôn ngữ như hình ảnh, sơ đồ, màu sắc, bố cục, biểu tượng, có khi cả âm thanh. Bài tham khảo trong sách quảng cáo cuốn Chuyện lạ Phi châu của Hảo Phạm Fiori, với nhan đề, ảnh minh họa, các dòng thông tin về tác giả, nội dung, nghệ thuật và thông tin phát hành.
| Tiêu chí | Bài làm đạt khi |
|---|---|
| Thông tin về sách | Đúng, cụ thể, đủ: tên sách, tác giả, nhà xuất bản (hoặc nơi in lần đầu, năm in), đặc điểm nội dung và nghệ thuật. Mọi con số phải kiểm được; không bịa giá, số trang, số bản bán, lời khen của người nổi tiếng. |
| Nhan đề quảng cáo | Có tên sách và một điểm nổi bật nhất của nó, đủ để người lướt qua dừng lại. |
| Giá trị của sách | Nói được vì sao cuốn sách đáng đọc: nó cho người đọc hiểu gì về con người, về một thời, về chính mình. Đây là phần tạo khác biệt giữa quảng bá sách và quảng cáo một món hàng. |
| Ngôn ngữ | Rõ, gọn, có sức gợi; mỗi ý gói trong một câu; không để lộ đoạn kết của truyện. |
| Phương tiện phi ngôn ngữ | Hình ảnh, màu, bố cục, âm thanh hợp với nội dung và giọng của cuốn sách, bổ sung cho chữ chứ không chỉ để trang trí. |
| Sức thuyết phục | Kéo được ánh mắt người xem và khiến họ tin: có chi tiết thật trong sách, có thông tin chính xác, có lời mời cụ thể (đọc ở đâu, mượn thế nào). |
Các bước SGK hướng dẫn:
- Trước khi viết. Chọn sách: một cuốn mới ra cần được chú ý, hoặc một tác phẩm kinh điển cần được giới thiệu tới bạn đọc trẻ. Đọc kĩ cuốn sách, tìm hình ảnh hợp với phần lời.
- Tìm ý. Tự hỏi và tự đáp: cuốn sách tên gì, nổi bật nhất ở điểm nào; ai viết, người viết có gì đáng nói; cuốn sách được viết vào lúc nào, hoàn cảnh ấy có gì đặc biệt; điều gì làm nó cuốn hút, xét cả nội dung lẫn cách viết; in năm nào, tìm đọc ở đâu.
- Lập dàn ý theo bố cục riêng của văn bản quảng cáo (xem dàn ý dưới đây).
- Viết. Được phép sắp xếp lại thứ tự các ý, miễn là vẫn có nhan đề, hình minh họa, phần nói về tác giả và phần ghi nơi, năm xuất bản.
- Chỉnh sửa. Soát lại nhan đề, các dòng thông tin, sự phù hợp của hình ảnh, âm thanh và độ chính xác của thông tin xuất bản.
Dàn ý bài quảng cáo sách dưới hình thức văn bản đa phương thức
1. Phần mở: gây chú ý
– Nhan đề quảng cáo: tên sách kèm đặc điểm nổi bật (có thể thêm một câu hỏi hoặc khẩu hiệu ngắn).
– Hình ảnh chủ đạo: ảnh bìa, một cảnh, một đồ vật gợi đúng không khí cuốn sách.
2. Phần thân: các dòng thông tin
– Dòng thông tin 1: tác giả và hoàn cảnh cuốn sách được viết (vài nét đáng chú ý, không chép tiểu sử).
– Dòng thông tin 2: nội dung và nghệ thuật: đề tài, nhân vật, diễn biến chính (dừng trước biến cố lớn), giọng văn, cách kể.
– Dòng thông tin 3: giá trị của sách với người đọc, nhất là với tuổi của em: sách giúp hiểu điều gì, vì sao nên đọc lúc này.
– Hình ảnh, sơ đồ, biểu tượng đi kèm từng dòng (mỗi dòng một hình là đủ).
3. Phần cuối: thông tin xuất bản và lời mời
– Phần xuất bản: người viết, nơi in, năm in lần đầu; với bản đang có trong tay, chép theo trang bản quyền của chính cuốn sách.
– Nơi tìm đọc, cách mượn hoặc mua.
– Lời kêu gọi ngắn; thêm hình hoặc âm thanh khi thật cần.
Dàn ý chi tiết áp dụng cho Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi (làm thành tờ rơi):
– Nhan đề: tên sách kèm ý một cậu bé lạc nhà được cả miền Tây cưu mang; hình chiếc xuồng giữa rạch.
– Dòng 1: Đoàn Giỏi, Nhà xuất bản Kim Đồng in lần đầu năm 1957; bối cảnh Nam Bộ những năm Pháp đánh trở lại.
– Dòng 2: An kể chuyện ở ngôi thứ nhất; những chặng lưu lạc; những người dân thường cưu mang An; cảnh kênh rạch, rừng U Minh, đất mũi.
– Dòng 3: giá trị: tình người, lòng yêu nước của dân thường, hiểu biết về một vùng đất.
– Cuối: thông tin xuất bản, nơi mượn, lời mời. Bản viết hoàn chỉnh ở Mẫu 2.
Văn bản đa phương thức là gì và dùng thế nào khi quảng bá sách
Văn bản đa phương thức là văn bản truyền tải thông tin bằng nhiều phương tiện cùng lúc: chữ viết đi với hình ảnh, màu sắc, cách sắp xếp trên trang, kí hiệu, đôi khi cả âm thanh và chuyển động. Mỗi phương tiện gánh một phần việc; chữ nói điều cần chính xác (tên sách, tác giả, năm in, ý nghĩa), còn hình và bố cục nói điều cần cảm nhận ngay (không khí, giọng điệu, cảm xúc).
| Dạng sản phẩm | Hợp với | Lưu ý |
|---|---|---|
| Trang tạp chí, tờ rơi, bảng tin, báo tường | Người đọc có thời gian đứng lại xem | Chia khung rõ, mỗi khung một ý; chữ chính đủ to để đọc từ xa. |
| Thẻ đánh dấu trang, áp phích | Người lướt qua vài giây | Một hình lớn, một câu ngắn; thông tin chi tiết để mặt sau hoặc chân trang. |
| Bài đăng mạng, video ngắn | Bạn bè cùng tuổi trên điện thoại | Dòng đầu quyết định người ta có đọc tiếp không; video tính theo giây; chỉ dùng hình, nhạc tự làm hoặc được phép dùng. |
| Trang chiếu, đồ họa thông tin | Buổi thuyết trình, góc triển lãm | Chữ trên trang chỉ là từ khóa; con số phải có nguồn; sắp xếp theo hướng mắt nhìn. |
Khi làm bài trên giấy trong giờ kiểm tra, em không cần vẽ đẹp. Hãy mô tả phần hình trong ngoặc vuông, ví dụ [Ô hình ảnh: chiếc xuồng ba lá giữa rạch], ghi rõ vị trí của từng khung, màu chủ đạo, rồi viết hoàn chỉnh phần chữ. Cuối bài nên có vài câu giải thích vì sao em chọn hình ảnh và cách bày ấy: đây là chỗ cho thấy em hiểu văn bản đa phương thức, không chỉ trang trí cho đẹp. Các mẫu dưới đây làm đúng như vậy.
Quảng cáo sách trên giấy: trang tạp chí, tờ rơi, bảng tin, báo tường, thẻ, áp phích
Mẫu 1: Vang bóng một thời – trang tạp chí về những thú chơi xưa
Sản phẩm: một trang khổ A4 trong tập san Lịch sử tâm hồn do lớp 9B tự làm cuối dự án đọc (tập san và lớp là giả định).
[Ô hình ảnh lớn chiếm nửa trên trang: một chén trà bốc hơi trên khay gỗ cũ, phía sau mờ mờ một bức chữ Hán viết thảo. Tông nâu trầm, nền giả giấy dó.]
VANG BÓNG MỘT THỜI – CHẬM LẠI ĐỂ THẤY NGƯỜI XƯA SỐNG ĐẸP THẾ NÀO
Khẩu hiệu, chữ nghiêng màu son: Có những thú chơi đã mất, nhưng cách người ta nâng niu nó thì vẫn còn trên trang giấy.
Dòng thông tin 1 – Tác giả và thời điểm ra đời. Nguyễn Tuân viết những thiên truyện này vào cuối thập niên 1930, đăng dần trên báo, rồi nhà Tân Dân in thành sách năm 1940. Đây là cuốn sách làm nên tên tuổi ông. Giữa lúc lối sống Tây học lấn át, khi nhà Nho đã thành lớp người lỗi thời, ông quay lại nhìn họ không phải để than tiếc suông mà để giữ lại trên giấy những gì đẹp nhất của họ.
Dòng thông tin 2 – Ba thú chơi, ba khung tranh. [Ba khung nhỏ xếp ngang, mỗi khung một hình vẽ nét mực đen và hai câu chú thích.]
- Khung ấm trà: [hình ấm đất nhỏ, làn khói mảnh] Pha trà buổi sớm được kể kĩ như một nghi lễ, từ chén nước đến lúc ngồi đợi sương tan. Đọc xong, em sẽ thấy cốc trà túi lọc của mình vội vàng quá.
- Khung thả thơ: [hình tờ giấy treo trên dây, một chữ bị che kín] Người xưa đem thơ ra làm trò chơi đoán chữ, hơn thua nhau ở độ tinh ý với từng con chữ. Một trò giải trí mà phải thuộc thơ, hiểu thơ mới chơi nổi.
- Khung nét chữ: [hình bó đuốc, tấm lụa trắng, ngọn bút lông] Truyện Chữ người tử tù, thiên quen thuộc nhất của tập, đặt cảnh xin chữ, cho chữ vào nơi tối tăm nhất là nhà ngục. Người viết và người xin đứng ở hai phía của pháp luật, nhưng gặp nhau ở lòng quý cái đẹp.
Dòng thông tin 3 – Vì sao một bạn mười lăm tuổi nên đọc. Tuổi chúng mình quen lướt nhanh, xem nhanh, ăn nhanh. Cuốn sách này dạy điều ngược lại: cái đẹp cần thời gian và sự kính trọng. Câu văn Nguyễn Tuân cũng là một thú chơi; ông chọn chữ như người xưa chọn trà, đọc to lên mới nghe ra tiếng Việt có những từ sang trọng mà mình chưa dùng bao giờ. Và nếu Bài 10 gọi văn học là lịch sử tâm hồn, thì đây đúng là một cuốn sử: không ghi trận đánh hay triều đại, chỉ ghi cách một lớp người từng sống, từng chơi, từng giữ phẩm giá của mình.
[Ô viền nâu góc dưới trái – Thông tin xuất bản:] Tập truyện, tùy bút của Nguyễn Tuân; in lần đầu: nhà Tân Dân, năm 1940; về sau được tái bản nhiều lần. Bản trong tủ sách lớp: chép đúng nhà xuất bản và năm in ở trang bản quyền trước khi in tập san.
[Ô viền nâu góc dưới phải – Tìm đọc:] Kệ Văn học Việt Nam trước 1945 ở thư viện trường; đọc tại chỗ trong giờ ra chơi hoặc mượn về ba ngày.
Lời mời, chữ son cỡ lớn ở chân trang: Mỗi tối đọc một truyện, chậm như uống một chén trà.
Vì sao trình bày như vậy: Trang này dùng ít màu và nhiều khoảng trống, vì sản phẩm phải giống chính cuốn sách, chậm và trang nhã. Ảnh chén trà để lớn nhất vì đó là hình ảnh gần gũi nhất với người đọc trẻ; ba khung tranh nét mực tách ba thú chơi, để người xem lướt mắt vẫn nhớ được nội dung. Nhan đề không dừng ở tên sách mà nói luôn điều sách mang lại. Thông tin xuất bản nằm trong ô riêng, chỉ ghi điều đã kiểm được, để những lời khen phía trên có chỗ dựa.
Mẫu 2: Đất rừng phương Nam – tờ rơi gấp ba cho tuần lễ sách
Bối cảnh: tờ rơi khổ A4 gấp làm ba, phát ở quầy câu lạc bộ đọc sách trong tuần lễ sách thiếu nhi của trường (câu lạc bộ và tuần lễ là giả định). Người thực hiện: Mạc Thùy Dương, lớp 9A.
Mặt ngoài 1 – Bìa trước. [Nền xanh lá đước đậm. Hình chiếc xuồng ba lá trôi giữa con rạch, hai bờ là rừng tràm. Góc trên vẽ một chiếc la bàn nhỏ, biểu tượng lặp lại ở mọi mặt.] Nhan đề chữ vàng: ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM – MỘT CẬU BÉ LẠC NHÀ, CẢ MIỀN TÂY DANG TAY ĐÓN. Dòng nhỏ bên dưới: Bạn đã bao giờ bị lạc chưa?
Mặt trong 1 – An là ai? [Hình vẽ một cậu bé gầy, chân đất, ngồi ở mũi xuồng.] Khoảng cuối thập niên 1940, giặc Pháp đánh trở lại Nam Bộ, cậu bé An lạc cha mẹ giữa đường chạy giặc. Từ một xóm chợ xa lạ, An bắt đầu một chuyến lưu lạc dài qua kênh rạch chằng chịt và những khu rừng ngập nước miền Tây. Chính An là người kể, xưng tôi, nên người đọc được thấy mọi thứ lần đầu cùng cậu.
Mặt trong 2 – Bản đồ chuyến đi. [Bản đồ vẽ tay, đường chấm đỏ nối các chặng: xóm chợ nhỏ, rừng U Minh, miền đất mũi Năm Căn. Mỗi chặng một biểu tượng: tổ ong, con rắn, đám lửa rừng, con cá sấu.] Đi cùng An, bạn sẽ theo người lớn câu rắn, vào rừng lấy mật, chạy giữa một trận rừng cháy, rồi nhập vào phường săn cá sấu. Đoàn Giỏi tả cảnh vật kĩ đến mức gấp sách lại, bạn gọi được tên vài loài cây, loài chim mà trước đó chưa từng nghe.
Mặt trong 3 – Những người dang tay. [Bốn ô chân dung vẽ chì xếp dọc.] Ông lão bán rắn nhận An làm con nuôi; người má nuôi nghèo mà thương An như con đẻ; thằng Cò lanh lợi thành anh em; chú Võ Tòng sống một mình giữa rừng với tấm lòng gan góc. Họ nghèo, ít chữ, nói năng bộc trực, nhưng giữa cảnh loạn lạc vẫn sẵn lòng cưu mang một đứa trẻ không quen biết.
Mặt ngoài 2 – Ba điều cuốn sách để lại cho người đọc mười lăm tuổi. [Ba biểu tượng tròn: chiếc lá, bàn tay, ngôi sao.] Chiếc lá: hiểu một vùng đất qua cảnh vật, tiếng nói, nếp sống của nó. Bàn tay: thấy tình người của những người dân thường. Ngôi sao: thấy lòng yêu nước không nằm ở khẩu hiệu, mà ở cách người ta sống và đùm bọc nhau.
Mặt ngoài 3 – Bìa sau. Tiểu thuyết của nhà văn Đoàn Giỏi, Nhà xuất bản Kim Đồng in lần đầu năm 1957. Vài chương đã được chọn vào sách Ngữ văn qua nhiều thế hệ, trong đó có đoạn Sông nước Cà Mau. Bộ phim truyền hình Đất phương Nam từng dựa vào truyện này; đọc sách trước rồi xem phim để thấy mỗi bản kể theo một cách. Mượn sách: quầy câu lạc bộ, giờ ra chơi các ngày trong tuần lễ; ghi tên vào sổ, trả sau một tuần.
Lời giải thích của người làm tờ rơi: Tờ rơi gấp ba có sáu mặt nên mỗi mặt chỉ gánh một ý, người cầm mở từng nếp như đi qua từng chặng đường. Màu xanh đước và hình chiếc xuồng báo ngay đây là chuyện sông nước Nam Bộ. Bản đồ vẽ tay thay cho một đoạn tóm tắt dài: nhìn đường chấm đỏ là hiểu đây là truyện về một chuyến lưu lạc. Chiếc la bàn ở góc mỗi mặt nhắc chủ đề tìm đường. Mặt cuối dành cho thông tin xuất bản và cách mượn, đúng thứ người đọc cần khi đã muốn cầm sách.
Mẫu 3: Búp sen xanh – bảng tin chi đội chào tháng Năm
Bảng tin khổ 1,2 m × 0,8 m treo ở hành lang tầng hai suốt tháng 5, do chi đội lớp 9C thực hiện (lớp, chi đội và bảng tin là giả định).
[Băng rôn ngang trên cùng, nền xanh lá sen, chữ trắng:] THÁNG NĂM ĐỌC BÚP SEN XANH – GẶP BÁC THỜI CÒN LÀ CẬU BÉ XỨ NGHỆ
[Giữa bảng: một bông sen hồng cắt giấy nổi, cánh mở dần từ trái sang phải; dưới bông sen là ảnh chụp bìa sách.]
Cột trái – Cậu bé làng quê. [Dải ảnh tư liệu: lũy tre, mái nhà tranh, cánh đồng lúa.] Tiểu thuyết của nhà văn Sơn Tùng mở ra ở làng quê Nghệ An đầu thế kỉ trước, nơi cậu bé Nguyễn Sinh Cung lớn lên giữa câu hò ví dặm và tình thương của gia đình. Người đọc gặp Bác không phải qua tấm ảnh chân dung trang trọng, mà qua một đứa trẻ hay hỏi, hay để ý, thương những người nghèo quanh mình.
Cột giữa – Kinh thành Huế. [Hình vẽ cổng thành, dòng sông Hương.] Rồi cậu bé theo gia đình vào Huế. Kinh thành cổ kính, những lớp học mới, những cảnh đời dưới ách thực dân làm chàng trai trẻ day dứt một câu hỏi: phải làm gì cho dân, cho nước? Sách dừng ở tuổi đôi mươi, khi câu hỏi ấy bắt đầu thành quyết định của cả một đời.
Cột phải – Vì sao đáng đọc. [Ba bông sen nhỏ, mỗi bông mang một dòng chữ.] Bông thứ nhất: đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, kể quãng đời từ thơ ấu đến tuổi trẻ. Bông thứ hai: hiểu một con người lớn từ những điều rất nhỏ như gia đình, quê hương, sách vở. Bông thứ ba: ở tuổi mười lăm, chúng mình cũng đang tự hỏi sẽ làm gì với cuộc đời mình; đọc để thấy một người trẻ đã trả lời câu hỏi ấy ra sao.
Ô dưới cùng – Thông tin sách. Tác giả: nhà văn Sơn Tùng. Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành, đã tái bản rất nhiều lần. Tủ sách chi đội có hai cuốn, đăng kí mượn với bạn phụ trách tủ sách.
[Góc phải dưới: ô Hái sen. Mỗi bạn đọc xong viết một câu cảm nghĩ lên mảnh giấy hình cánh sen, gắn quanh bông sen lớn. Hết tháng, bông sen nở kín.]
Lời hẹn trên dải băng chân bảng: Mỗi bạn một cánh sen trước ngày 19 tháng 5.
Lí do chọn cách bày này: Bảng tin treo ở hành lang, người đi qua chỉ dừng vài giây, nên băng rôn phải nói đủ hai ý: đọc sách gì và gặp được điều gì. Ba cột đi theo ba chặng đời trong sách, mắt người xem đi từ trái sang phải như đi theo bước chân nhân vật. Hình sen được chọn vì nó gắn với tên sách và với làng Sen quê nội của Bác; ô Hái sen biến người xem thành người tham gia, nên bảng tin đổi khác mỗi ngày và kéo người ta quay lại.
Mẫu 4: Thép đã tôi thế đấy – ô quảng cáo trên báo tường (ngắn)
Một ô chữ nhật cỡ nửa tờ A3 trên tờ báo tường chủ đề Ý chí của lớp 9D (lớp và số báo là giả định).
[Nền xám thép, viền đen dày. Hình vẽ một thanh thép đỏ rực trên đe, búa nện xuống, tia lửa bắn ra thành chữ.]
BẠN CÓ DÁM SỐNG KHÔNG HOÀI PHÍ?
THÉP ĐÃ TÔI THẾ ĐẤY – CUỐN SÁCH VIẾT BẰNG Ý CHÍ
Nhà văn Ô-xtơ-rốp-xki bắt tay viết cuốn tiểu thuyết này khi đã mất thị lực và nằm liệt giường. Pa-ven Coóc-sa-ghin, nhân vật chính, mang nhiều nét đời của chính tác giả: một cậu bé nhà nghèo lớn lên thành người lính, bị thương, rồi bệnh tật dồn tới, nhưng không chịu sống thừa một ngày nào.
[Ô trích nền đen, chữ trắng:] “Đời người chỉ sống có một lần.” – lời Pa-ven trong bản dịch tiếng Việt.
Ba lí do đọc ở tuổi 15: biết rằng hoàn cảnh không quyết định tất cả; thấy một người trẻ dám sửa mình sau mỗi lần vấp; tự hỏi mình đang tiêu thời gian vào việc gì.
Nói thật trước khi bạn mượn: sách dày và gắn chặt với nước Nga thời nội chiến, phần đầu hơi chậm. Qua được phần ấy, bạn sẽ khó dừng.
Tìm đọc: tủ sách Đội, phòng truyền thống. Khẩu hiệu cuối ô: Đọc để tôi mình thành thép.
Ghi chú về cách làm: Ô quảng cáo trên báo tường nhỏ và chen giữa nhiều bài khác, nên màu xám thép và viền đen giúp nó tách hẳn ra. Hình thanh thép trên đe minh họa đúng nhan đề; câu hỏi in to đặt trước tên sách để người xem phải dừng lại tự trả lời. Câu trích duy nhất nằm trong ô nền đen như một dòng khắc.
Mẫu 5: Rô-bin-xơn Cru-xô – bộ thẻ đánh dấu trang và áp phích nhỏ (ngắn)
Bộ ba thẻ đánh dấu trang cỡ 5 cm × 18 cm kẹp sẵn vào các cuốn trên kệ Phiêu lưu, kèm một áp phích A3 dán cạnh kệ. Thiết kế và vẽ: Tạ Khôi Nguyên, lớp 9E (giả định).
Thẻ màu cát. Mặt trước: [hình dấu chân trên bãi cát] 1 người. 1 hòn đảo. 28 năm. Mặt sau: Đa-ni-en Đi-phô viết Rô-bin-xơn Cru-xô năm 1719. Hơn ba thế kỉ sau, những câu chuyện sống sót một mình nơi hoang vắng vẫn được gọi theo tên nhân vật này.
Thẻ màu lá. Mặt trước: [hình cái rìu, chiếc lều, cột gỗ khắc vạch đếm ngày] Không ai đến cứu? Tự làm lấy. Mặt sau: Từ những thứ vớt được ở con tàu đắm, Rô-bin-xơn học làm ra từng thứ mình cần, từ chỗ ở tới cái ăn. Cuốn sách là một bài học dài về lao động và lòng kiên nhẫn.
Thẻ màu biển. Mặt trước: [hai bóng người trên bờ biển] Rồi một ngày, có Thứ Sáu. Mặt sau: Sau nhiều năm cô độc, Rô-bin-xơn có một người bạn. Đọc với con mắt hôm nay, bạn sẽ thấy cách hai người đối xử với nhau còn mang dấu vết thời đại của tác giả, một chuyện đáng đem ra bàn ở câu lạc bộ.
Áp phích A3: [Nửa trên: hòn đảo nhìn từ trên cao. Nửa dưới: ba thẻ in thu nhỏ.] Nhan đề: RÔ-BIN-XƠN CRU-XÔ – CUỐN SÁCH DẠY BẠN KHÔNG BỎ CUỘC. Dòng nhỏ: kệ Phiêu lưu, ngăn thứ hai; rút một thẻ, mượn một cuốn.
Vì sao làm thẻ: Thẻ đánh dấu trang nằm trong tay người đọc suốt lúc đọc, nên mặt trước chỉ mang một con số hoặc một câu ngắn, mặt sau mới là thông tin. Ba màu cát, lá, biển đi theo ba chặng của truyện. Áp phích gom ba thẻ lại và chỉ đường tới kệ sách.
Mẫu 6: Những cuộc phiêu lưu của Tom Xoay-ơ – áp phích kiểu truyện tranh
Áp phích A2 dán ở cửa thư viện trong tháng hè đọc sách, do một nhóm ba bạn lớp 9 vẽ (thư viện và nhóm là giả định). Bố cục bốn khung như một trang truyện tranh, chữ in hoa trong bóng thoại.
Tít lớn trên cùng, chữ vàng viền đen, nghiêng như đang chạy: TOM XOAY-Ơ – CẬU BÉ NGHỊCH NHẤT BÊN BỜ MI-XI-XI-PI
Khung 1. [Cậu bé tóc rối cầm chổi quét vôi đứng trước một hàng rào dài, mặt chán ngán. Mặt trời ngày thứ Bảy chói chang.] Bóng thoại: – Cả ngày nghỉ mà phải quét hết chỗ này ư? Chú thích nhỏ ở góc: dì Pô-li phạt Tom.
Khung 2. [Tom vờ say sưa quét vôi; mấy bạn nhỏ xếp hàng, tay cầm quả táo, con diều, hòn bi.] Bóng thoại của một bạn: – Cho tớ quét thử một tí được không? Bóng thoại của Tom: – Việc này đâu phải ai cũng làm được! Chữ tượng thanh in to: QUẸT! QUẸT!
Khung 3. [Ba cậu bé trên chiếc bè giữa dòng sông rộng, lá cờ vẽ đầu lâu bay phần phật.] Chú thích: Tom, Huck và Joe chán học, trốn ra đảo làm cướp biển. Bóng thoại của Huck: – Ở đây chẳng ai bắt đi học, cũng chẳng ai bắt rửa mặt!
Khung 4. [Toàn cảnh thị trấn nhỏ ven sông, mọi người nháo nhác đi tìm.] Chú thích: Trong khi ấy, cả thị trấn tưởng ba cậu đã chết đuối… Chữ to: CHUYỆN GÌ XẢY RA TIẾP THEO?
Dải thông tin chân áp phích: Tiểu thuyết của nhà văn Mỹ Mác Tuên, in lần đầu năm 1876. Truyện diễn ra ở một thị trấn hư cấu bên sông Mi-xi-xi-pi khoảng những năm 1840. Có Tom tinh quái, Huck tự do như gió, cô bạn Bếch-ki, có hang động, kho báu và cả một vụ án khiến Tom mất ngủ.
Ô xanh bên phải – Vì sao đáng đọc ở tuổi 15: Tom nghịch nhưng không xấu; cuốn sách cho thấy một đứa trẻ lớn lên qua những lần phải chọn giữa nỗi sợ và lẽ phải. Mác Tuên kể bằng giọng hóm hỉnh, đến người lớn trong truyện cũng bị ông trêu nhẹ nhàng. Đọc để cười, rồi để nhớ mình từng là một đứa trẻ như thế.
Khung nhỏ ở góc dưới: [Một cây chổi quét vôi chìa ra ngoài khung, như mời người xem cầm lấy.] Bóng thoại: – Đến lượt bạn! Sách ở kệ Văn học nước ngoài, mượn được cả hè.
Ý đồ của nhóm vẽ: Truyện tranh là thứ các bạn nhỏ đọc nhanh nhất, nên áp phích kể ba tình huống nổi tiếng của sách bằng hình, bóng thoại và tiếng động in to. Khung 4 cố ý dừng ở một câu hỏi, không lộ chuyện về sau. Thông tin xuất bản dồn xuống chân trang để không cắt mạch tranh. Cây chổi chìa ra khỏi khung nhắc lại hàng rào ở khung đầu, khép áp phích thành một vòng tròn.
Quảng cáo sách trên màn hình: bài đăng, video, trang chiếu, đồ họa thông tin
Mẫu 7: Những ngày thơ ấu – bài đăng trang mạng của thư viện trường
Bài đăng trên trang mạng xã hội của thư viện một trường THCS nhân tuần có ngày 20 tháng 10 (trang và trường là giả định). Người viết: Lã Minh Thư, cộng tác viên thư viện, lớp 9G.
[Đầu bài: ảnh đại diện hình cuốn sách mở, tên trang Thư viện Cánh Cửa, giờ đăng 19:30.]
SÁCH CỦA TUẦN: NHỮNG NGÀY THƠ ẤU – CUỐN HỒI KÍ VIẾT BẰNG NƯỚC MẮT VÀ LÒNG THƯƠNG MẸ
Tuần này có ngày 20 tháng 10. Nhiều bạn sẽ tặng mẹ một bông hoa. Thư viện muốn gợi ý thêm một món quà khác: đọc một cuốn sách về người mẹ, để hiểu mẹ cả vào những ngày không có hoa.
Những ngày thơ ấu là hồi kí của nhà văn Nguyên Hồng về tuổi nhỏ của chính ông, in báo từ năm 1938, đến năm 1940 thì thành sách, gồm chín chương. Cậu bé Hồng lớn lên trong một gia đình không hạnh phúc: cha nghiện ngập rồi mất, mẹ phải bỏ quê đi nơi khác kiếm ăn, cậu ở với họ hàng và nghe đủ lời cay độc nhắm vào mẹ mình.
Có thể bạn đã học chương Trong lòng mẹ, chương thứ tư của cuốn sách. Đọc trọn cả cuốn, bạn mới thấy khoảnh khắc cậu bé đuổi theo chiếc xe, được ngồi trong lòng mẹ ấy đã phải đổi bằng bao nhiêu đêm cô đơn trước đó. Nguyên Hồng viết thật đến mức có chỗ người đọc muốn gấp sách lại, rồi lại mở ra vì không nỡ để cậu bé một mình.
Mười lăm tuổi đọc cuốn này để làm gì? Để học cách nhìn kĩ người khác: sau một bạn ít nói trong lớp có thể là một ngôi nhà nhiều nỗi buồn. Và vì nó cho thấy tình yêu với mẹ có thể đứng vững trước mọi lời gièm pha.
Sách có hai bản ở kệ Văn học Việt Nam. Bạn nào mượn trong tuần này sẽ được tặng một tấm thiệp do câu lạc bộ vẽ tay để viết gửi mẹ.
[Ảnh ghép ba tấm, mỗi tấm một chú thích: bìa sách đặt trên chiếc khăn tay thêu; một trang sách mở dưới ánh đèn bàn vàng ấm; chồng thiệp vẽ tay chờ phát.]
[Dòng thẻ chủ đề cuối bài: #SachCuaTuan #DocCungMe]
[Bình luận ghim của trang:] Lưu ý nhỏ: sách có nhiều đoạn buồn và cảnh gia đình nặng nề. Nếu đọc xong bạn muốn tâm sự, cô thủ thư và nhóm cộng tác viên luôn có mặt ở thư viện vào giờ ra chơi.
Cách bài đăng được dựng: Trên mạng, người lướt thường chỉ đọc dòng đầu, nên tiêu đề viết hoa nêu cả tên sách lẫn điều sách chạm tới. Bài mở bằng một dịp có thật trong tuần để cuốn sách cũ có lí do xuất hiện. Ảnh chọn tông ấm, đồ vật gợi tình mẹ, tránh ảnh khóc lóc. Bình luận ghim là chỗ thư viện nói thật về những đoạn nặng nề, giúp người đọc chuẩn bị tâm thế và tin bài đăng hơn.
Mẫu 8: Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh – kịch bản video ngắn 60 giây
Video dọc 60 giây đăng trên kênh của câu lạc bộ đọc sách, chiếu lại trên màn hình ở góc thư viện (kênh và câu lạc bộ là giả định). Lồng tiếng: Quách Gia Bảo, lớp 9H. Quay bằng điện thoại, cảnh minh họa do thành viên câu lạc bộ đóng; không dùng cảnh và nhạc của bộ phim chuyển thể.
| Cảnh | Hình ảnh | Lời (lồng tiếng / chữ trên màn hình) | Âm thanh |
|---|---|---|---|
| 1 (0–6 giây) | Cận cảnh bãi cỏ ven đường làng, máy quay hạ sát những bông hoa dại vàng li ti. | Chữ trên màn hình: Lần cuối bạn ngồi yên nhìn một bông hoa là khi nào? | Tiếng gió, tiếng chim sẻ. |
| 2 (6–14 giây) | Hai bàn tay lật bìa sách; trang đầu hiện rõ tên sách, tên tác giả. | Lồng tiếng: Đây là một cuốn sách của Nguyễn Nhật Ánh, nơi hoa vàng và cỏ xanh không chỉ là cảnh vật. | Một hợp âm ghi-ta mộc do bạn trong câu lạc bộ tự đàn. |
| 3 (14–24 giây) | Hai cậu bé đóng vai anh em đi trên bờ ruộng; đứa lớn đi trước, đứa nhỏ lom khom tìm gì đó dưới đất. | Lồng tiếng: Thiều là anh, hay ghen và hay giận. Tường là em, hiền đến mức thương cả những con vật ai cũng sợ. | Ghi-ta tiếp tục, nhịp chậm. |
| 4 (24–34 giây) | Một cô bé ngồi bên hiên đọc sách; hai cậu bé nép sau gốc cây nhìn sang. | Lồng tiếng: Rồi có cô bé hàng xóm tên Mận. Và tình anh em bắt đầu có một vết nứt rất nhỏ. | Ghi-ta ngừng một nhịp, chỉ còn tiếng ve. |
| 5 (34–44 giây) | Chuỗi cảnh cắt nhanh: ngọn đèn dầu, mái nhà cũ, một bàn tay đặt lên vai một người khác. | Chữ trên màn hình hiện lần lượt: Ghen tị. Hối hận. Thứ tha. | Tiếng ghi-ta trở lại, cao dần. |
| 6 (44–53 giây) | Gia Bảo ngồi ở góc thư viện, cầm cuốn sách, nói thẳng vào máy quay. | Lời người giới thiệu: Mình đọc cuốn này năm lớp 8, đọc tới những chương cuối thì phải ngồi im một lúc. Cuốn sách làm mình muốn gọi cho em trai, dù hôm trước vừa cãi nhau. | Âm nền tắt, chỉ còn giọng nói. |
| 7 (53–60 giây) | Màn hình chữ trên nền cỏ xanh. | Chữ: Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh – Nguyễn Nhật Ánh – Nhà xuất bản Trẻ, in lần đầu năm 2010. Có ở kệ sách tuổi mới lớn, thư viện trường. | Hợp âm ghi-ta cuối, ngân dài. |
Ghi chú cho người dựng video: cuốn sách đã được đạo diễn Victor Vũ chuyển thể thành phim năm 2015, nhưng video này chỉ dùng cảnh tự quay và nhạc tự đàn để không vi phạm bản quyền. Toàn bộ lời lồng tiếng chưa tới một trăm chữ, vì sáu mươi giây trôi rất nhanh; phần còn lại để hình và tiếng động kể.
Nếu không quay được cảnh ngoài trời: nhóm có thể thay cảnh 3 và cảnh 4 bằng mấy bức tranh màu nước tự vẽ, chụp lại rồi cho máy lia chậm qua từng bức; lời lồng tiếng giữ nguyên. Cái cần giữ là mỗi cảnh vẫn đúng một ý, và cảnh cuối vẫn hiện rõ tên sách, tác giả, nơi tìm đọc.
Vì sao kịch bản dựng như thế: Kịch bản chia theo giây để chắc video không quá một phút, mỗi cảnh chỉ một ý. Câu hỏi mở đầu kéo người xem vào tâm trạng chậm, hợp với giọng kể của cuốn sách. Ba chữ ghen tị, hối hận, thứ tha nói được mạch cảm xúc mà không kể lộ biến cố. Cảnh người thật nói lời thật đặt gần cuối để tạo niềm tin; khung cuối có đủ tên sách, tác giả, nhà xuất bản và nơi tìm đọc như SGK yêu cầu.
Mẫu 9: Nhà giả kim – bài thuyết trình năm trang chiếu
Bài trình chiếu năm trang dùng ở phiên Ngày hội với sách của khối 9, kèm lời thuyết trình chừng ba phút. Người trình bày: Hứa Ngọc Diệp, lớp 9K (ngày hội và người trình bày là giả định).
Trang chiếu 1 – Tiêu đề. [Nền vàng cát. Ảnh sa mạc, ba kim tự tháp mờ xa; một dải đường mảnh chạy từ góc trái dưới lên.] Chữ trên trang: NHÀ GIẢ KIM – KHO BÁU Ở CUỐI CON ĐƯỜNG, HAY Ở CHÍNH CON ĐƯỜNG? Dòng nhỏ: Paulo Coelho.
Lời nói: Chào các bạn. Hôm nay mình không mời các bạn đọc một cuốn sách để biết thêm kiến thức. Mình mời các bạn đọc một cuốn sách để hỏi lại chính mình một câu.
Trang chiếu 2 – Cuốn sách và tác giả. [Bên trái: ảnh bìa. Bên phải: ba ô thông tin có biểu tượng lá cờ, quyển sách, cây bút.] Chữ: Paulo Coelho, nhà văn Bra-xin • Viết bằng tiếng Bồ Đào Nha • In lần đầu năm 1988 • Được dịch ra rất nhiều thứ tiếng.
Lời nói: Đây là cuốn nổi tiếng nhất của Coelho. Sách mỏng, câu văn ngắn, đọc hai buổi tối là xong, nên rất hợp với những bạn đang ngại sách dày.
Trang chiếu 3 – Hành trình. [Bản đồ đơn giản: chấm đỏ ở miền nam Tây Ban Nha, mũi tên vượt biển sang châu Phi, băng qua sa mạc tới Ai Cập. Mỗi chặng một biểu tượng: con cừu, túi tiền, lạc đà, ngọn lửa.] Chữ: Santiago, cậu chăn cừu xứ An-đa-lu-xi-a, hai lần mơ cùng một giấc mơ về kho báu ở Kim tự tháp.
Lời nói: Santiago bán đàn cừu và lên đường. Mới sang tới châu Phi, cậu đã bị lừa mất sạch tiền, phải làm lại từ đầu, rồi theo một đoàn lữ hành vượt sa mạc và gặp những người dạy cậu đọc các dấu hiệu của cuộc đời. Mình sẽ không nói kho báu nằm ở đâu, vì đó là phần hay nhất.
Trang chiếu 4 – Điều cuốn sách nói với tuổi mười lăm. [Ba thẻ màu xếp bậc thang, mỗi thẻ một chữ to.] Chữ: Ước mơ: dám gọi tên điều mình muốn. Dấu hiệu: để ý những gì cuộc sống đang chỉ cho mình. Nỗi sợ: sợ thất bại thường làm ta dừng lại sớm hơn chính thất bại.
Lời nói: Năm nay chúng mình phải chọn trường, chọn hướng đi. Đọc Nhà giả kim, mình không tìm được đáp án, nhưng bớt sợ việc phải chọn. Nói thật, có bạn trong lớp thấy sách nhiều lời khuyên quá, giọng như truyện ngụ ngôn. Mình nghĩ cứ đọc như đọc một truyện cổ tích dành cho người lớn: chỗ nào chạm vào mình thì giữ lại, chỗ nào chưa thì để đó, vài năm nữa đọc lại.
Trang chiếu 5 – Câu hỏi cho khán giả. [Nền trắng, giữa trang chỉ có một câu hỏi lớn; góc dưới ghi nơi mượn sách.] Chữ: Kho báu của bạn là gì? Dòng nhỏ: Sách có ở quầy ngày hội và trên giá sách dịch của thư viện.
Lời nói: Mình xin để câu hỏi này lại trên màn hình. Bạn nào trả lời được, hoặc muốn đi tìm câu trả lời, mời ghé quầy sách. Cảm ơn các bạn đã lắng nghe.
Phương tiện phi ngôn ngữ đã chọn và lí do: Trang chiếu chỉ giữ từ khóa và hình, lời giải thích dồn vào phần nói, để khán giả không phải đọc chữ dày đặc. Màu cát và bản đồ hành trình đi theo không khí sa mạc của sách. Trang 4 dùng ba thẻ bậc thang vì đó là ba ý người nghe cần mang về. Thông tin xuất bản đặt ở trang 2, lúc người nghe còn tập trung nhất. Trang cuối là một câu hỏi chứ không phải lời cảm ơn, để cuộc trò chuyện còn tiếp ở quầy sách.
Mẫu 10: Chiến binh cầu vồng – đồ họa thông tin
Đồ họa thông tin khổ dọc 60 cm × 150 cm treo ở góc Sách thế giới của thư viện trong tháng 11, tháng có Ngày Nhà giáo Việt Nam; người làm là một nhóm học sinh lớp 9 (tên thư viện, nhóm làm đều giả định).
Tít trên cùng, chữ bảy sắc cầu vồng: CHIẾN BINH CẦU VỒNG – NGÔI TRƯỜNG NGHÈO NHẤT ĐẢO VÀ NHỮNG ƯỚC MƠ LỚN NHẤT
Khối 1 – Bốn con số. [Bốn vòng tròn màu cam, số in to, chú thích nhỏ bên dưới.]
- 2005: năm tiểu thuyết ra mắt ở In-đô-nê-xi-a.
- 6 tháng: thời gian An-đrê-a Hi-ra-ta viết xong cuốn sách, dựa trên tuổi thơ của chính mình.
- 5 triệu: số bản bán ra ở In-đô-nê-xi-a, chưa kể sách in lậu.
- 2008: năm truyện được dựng thành phim điện ảnh.
Khối 2 – Bản đồ. [Hình đảo Bê-li-tung nhỏ xíu ngoài khơi Xu-ma-tra, chấm đỏ đánh dấu; các biểu tượng mỏ thiếc và thuyền đánh cá.] Chú thích: Đảo giàu mỏ thiếc, nhưng nhiều gia đình sống nghèo bằng nghề làm thuê và đánh cá. Trường của công ty mỏ học phí quá cao, con nhà nghèo chỉ còn trông vào một ngôi trường làng cũ nát mang tên Muhammadiyah.
Khối 3 – Sơ đồ nhân vật. [Hình ngôi trường gỗ ở giữa, mũi tên tỏa ra những gương mặt vẽ đơn giản.]
- Thầy Harfan và cô Mus: hai người thầy tận tụy, giữ cho ngôi trường nhỏ không phải đóng cửa.
- Ikal: người kể chuyện, mơ làm thầy giáo.
- Lintang: con nhà đánh cá ở vùng biển, mê Toán, khát khao làm nhà toán học cho cha mẹ tự hào.
- Các bạn khác: Mahar say mê âm nhạc và nghệ thuật, Sahara muốn đấu tranh cho quyền của con gái, cùng nhiều cậu bé mỗi người một tính cách.
Khối 4 – Bảng so sánh hai ngôi trường.
| Tiêu chí | Trường của công ty mỏ | Trường làng Muhammadiyah |
|---|---|---|
| Ai được học | Những nhà trả nổi học phí | Trẻ con nhà nghèo, nhiều em phải chọn giữa đi học và đi làm |
| Điều giữ trường tồn tại | Tiền của công ty | Lòng kiên trì của thầy cô và học trò |
| Điều người đọc nhớ | Một hàng rào ngăn cách | Tình thầy trò, tình bạn và niềm tin vào việc học |
Dải thời gian dưới bảng: [Một đường kẻ ngang có ba mốc tròn nối nhau.] Tuổi thơ của tác giả ở Bê-li-tung, năm 2005 sách ra đời, năm 2008 câu chuyện lên màn ảnh. Ba mốc đặt cạnh nhau cho thấy một kí ức tuổi nhỏ ở hòn đảo xa đã đi được bao xa.
Khối 5 – Điều người đọc tuổi 15 mang về. [Bút chì, quả địa cầu, trái tim vẽ nét đơn.] Bút chì: để thấy được ngồi trong lớp học là điều nhiều bạn cùng tuổi ở nơi khác phải giành lấy. Địa cầu: để làm quen với văn học một nước láng giềng Đông Nam Á, thứ ít khi có mặt trên kệ sách của mình. Trái tim: để nhớ ơn những người thầy đã chọn ở lại với học trò nghèo.
Khối cuối – Tìm đọc. [Ô chữ nhật có mã QR dẫn tới trang đặt mượn sách của thư viện (giả định), bên cạnh ảnh bìa bản tiếng Việt.] Chữ: Mượn tại quầy hoặc quét mã để giữ chỗ. Đọc xong, viết một lời cảm ơn gửi thầy cô của bạn và dán lên tấm bảng cầu vồng ngay cạnh đây.
Vì sao chọn đồ họa thông tin: Dạng này hợp với một cuốn sách có nhiều lớp nghĩa: người xem đi từ trên xuống, từ con số dễ nhớ tới bản đồ, rồi tới con người và điều đáng nghĩ. Các con số đều là dữ kiện đã kiểm, không thêm số phỏng đoán. Bảng so sánh hai ngôi trường giúp nhìn ra chủ đề giàu nghèo mà không cần một đoạn tóm tắt dài. Bảy màu cầu vồng chỉ dùng cho tít và đường viền; phần chữ giữ nền trắng cho dễ đọc.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi | Sửa thế nào |
|---|---|
| Viết thành một bài văn giới thiệu sách thuần chữ, không có yếu tố phi ngôn ngữ nào | Mô tả rõ hình ảnh, màu, vị trí từng khung trong ngoặc vuông; cuối bài giải thích vì sao chọn chúng. |
| Quảng cáo như bán hàng: giá, khuyến mãi, số điện thoại đặt mua | Đề yêu cầu quảng bá giá trị của sách. Lời mời nên là đọc, mượn, tìm đọc ở đâu; nếu ghi nơi mua thì chỉ ghi điều có thật. |
| Bịa thông tin: năm xuất bản, số trang, số bản bán, giải thưởng, lời khen của người nổi tiếng | Mở trang bản quyền của cuốn sách mà xem, hoặc tra ít nhất hai nguồn đáng tin; dữ kiện nào còn ngờ thì gạch đi. Một quảng cáo có một con số sai sẽ mất hết niềm tin. |
| Hình ảnh trang trí, không liên quan nội dung (hoa lá, khung viền chung chung) | Chọn hình nói được điều về cuốn sách: chiếc xuồng cho truyện sông nước, chén trà cho thú chơi xưa, dấu chân trên cát cho chuyện đảo hoang. |
| Nhồi quá nhiều chữ vào một khung | Mỗi khung một ý, mỗi ý một câu; chữ chi tiết để ở mặt sau, chân trang hoặc phần lời nói. |
| Kể hết truyện, lộ kết thúc | Kết ở một câu hỏi bỏ ngỏ hay một tình huống còn treo (xem Mẫu 6, Mẫu 8, Mẫu 9). |
| Dùng ảnh, nhạc, cảnh phim của người khác trong video | Tự chụp, tự quay, tự đàn hoặc dùng tư liệu được phép dùng; ghi nguồn ảnh tư liệu. |
| Thiếu thông tin xuất bản hoặc thiếu tên tác giả | SGK coi nhan đề, hình minh họa, thông tin tác giả và thông tin xuất bản là bắt buộc; soát lại trước khi nộp. |
Mẹo cộng điểm: chọn hình thức sản phẩm hợp với cuốn sách và với nơi nó xuất hiện (bảng tin hành lang khác bài đăng điện thoại); đặt một câu hỏi hoặc khẩu hiệu ngắn ngay dưới nhan đề; có một dòng nói thẳng sách hợp với ai và vì sao đáng đọc ở tuổi mười lăm; thẳng thắn chỉ ra chỗ sách còn khó với người đọc (như Mẫu 4, Mẫu 9), lời khen nhờ thế đáng tin hơn.
Gợi ý bài nói: Về đích – Ngày hội với sách
Bài 10 khép lại bằng hoạt động Nói và nghe Về đích: Ngày hội với sách: em cùng bạn phỏng vấn một người về sách và thói quen đọc, về điều một cuốn sách gợi ra, hoặc về những gì cả nhóm đã đọc, đã viết suốt dự án. Sản phẩm quảng cáo của em có thể làm điểm tựa cho cuộc phỏng vấn ấy:
- Chọn người được phỏng vấn gắn với cuốn sách em quảng bá: một bạn đã đọc, cô thủ thư, một người lớn trong nhà từng đọc cuốn ấy khi còn trẻ.
- Soạn năm, sáu câu hỏi, đi từ câu chung tới câu chi tiết: lần đầu đọc sách khi nào, chi tiết nào còn nhớ, cuốn sách thay đổi điều gì ở họ, họ có giới thiệu cho ai không.
- Đặt tờ rơi, áp phích hoặc trang chiếu của em ngay bên cạnh để người nghe vừa nghe vừa nhìn.
- Lắng nghe để hỏi thêm khi câu trả lời còn chung chung (ví dụ: chỗ nào trong sách làm bạn nghĩ vậy?).
- Kết thúc bằng một câu tóm lại điều rút ra từ cuộc trò chuyện và lời cảm ơn.
Đoạn mở đầu cuộc phỏng vấn tham khảo: Chào các bạn, chào cô. Trên tay mình là tờ rơi về Đất rừng phương Nam mà nhóm vừa làm. Hôm nay mình mời cô thủ thư, người đã đọc cuốn này từ hồi bằng tuổi chúng mình, kể xem ba chục năm sau cô còn nhớ gì về cậu bé An. Cô ơi, cô đọc cuốn này lần đầu trong hoàn cảnh nào ạ?
Chọn mẫu nào để luyện?
Nếu đề kiểm tra chỉ cho một tiết, hãy luyện theo Mẫu 4 và Mẫu 5: sản phẩm nhỏ, ít khung, nhưng vẫn đủ nhan đề, hình, tên người viết, nơi và năm in, cùng một lời mời. Muốn làm một trang giấy đầy đủ các dòng thông tin như dàn ý SGK, xem Mẫu 1, Mẫu 2 và Mẫu 3. Mẫu 6 hợp khi em định quảng bá sách cho các bạn nhỏ hơn. Nhóm làm sản phẩm trình chiếu hoặc đăng mạng cho Ngày hội với sách có thể dựa vào Mẫu 7, Mẫu 8, Mẫu 9 và Mẫu 10; riêng kịch bản video ở Mẫu 8 cho thấy cách chia lời và hình theo từng giây. Dù chọn mẫu nào, hãy thay cuốn sách bằng cuốn em đã đọc thật: phần “vì sao đáng đọc” chỉ thuyết phục khi đó là lí do của chính em.
Xem thêm:
- Cùng Bài 10 Văn học – lịch sử tâm hồn: Soạn bài Thách thức đầu tiên: Đọc để trưởng thành
- Đề gần ở lớp 8: Viết bài văn giới thiệu một cuốn sách yêu thích (lớp 8), Viết một nhan đề và sáng tạo một tác phẩm mới (Bài 10 lớp 8); bàn về việc đọc: Soạn bài Bàn về đọc sách
- Tác giả các cuốn sách trong bài: Nguyễn Tuân, Đoàn Giỏi, Nguyên Hồng, Nguyễn Nhật Ánh
- Đọc thêm về các tác phẩm: Tóm tắt Đất rừng phương Nam, Người đàn ông cô độc giữa rừng, Phân tích Chữ người tử tù, Phân tích Trong lòng mẹ, Phong cách sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh
- Văn mẫu lớp 9 khác: Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, Phân tích một tác phẩm truyện (lớp 9), Viết truyện kể sáng tạo (lớp 9)
- Viết quảng cáo, tờ rơi về một sản phẩm hay hoạt động – Dàn ý + 10 bài mẫu (lớp 9)