Soạn bài Thách thức đầu tiên: Đọc để trưởng thành gợi ý trả lời các câu hỏi ở trang 116 – 124 sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức tập hai, Bài 10 Văn học – lịch sử tâm hồn. Phần học gồm hai văn bản đọc: Văn học Việt Nam từ khu vực ra thế giới, từ truyền thống đến hiện đại và Văn hóa đọc với nhà văn và độc giả trong thời đại công nghệ số, cùng hoạt động tự đọc, ghi phiếu cho dự án đọc sách.
Tìm hiểu chung về bài học Thách thức đầu tiên: Đọc để trưởng thành
Bài 10 được tổ chức như một dự án gồm nhiều chặng gọi là “thách thức”. Ở chặng đầu, em vừa đọc hiểu hai văn bản, vừa lên kế hoạch đọc những tác phẩm quan trọng của nền văn học nước nhà.

| Văn bản | Tác giả, nguồn | Kiểu văn bản |
|---|---|---|
| Văn học Việt Nam từ khu vực ra thế giới, từ truyền thống đến hiện đại | Trích Lược sử văn học Việt Nam (GS Trần Đình Sử chủ biên, NXB Đại học Sư phạm, 2021) | Nghị luận văn học, tổng thuật lịch sử văn học |
| Văn hóa đọc với nhà văn và độc giả trong thời đại công nghệ số | Cuộc trò chuyện giữa phóng viên Hà Ngân và nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, in trên tạp chí Văn học và Tuổi trẻ số tháng 5/2023 | Văn bản thông tin dạng phỏng vấn |
Trước khi đọc (trang 116)
Câu 1: Nguồn tìm sách và kinh nghiệm tìm sách (trang 116)
Em thường tìm sách để đọc từ những nguồn nào? Hãy chia sẻ một vài kinh nghiệm tìm sách để đọc của em.
Trả lời: Em tìm sách ở thư viện trường, tủ sách gia đình, hiệu sách, hội chợ sách và ứng dụng sách điện tử có bản quyền. Kinh nghiệm của em: ghi lại tên sách được thầy cô, bạn bè giới thiệu; đọc lời giới thiệu, mục lục và vài trang đầu trước khi mượn; chọn ấn bản của nhà xuất bản uy tín; thích tác giả nào thì tìm đọc tiếp các cuốn khác của người đó.
Câu 2: Mục tiêu và kế hoạch đọc sách trong dự án (trang 116)
Xây dựng mục tiêu và kế hoạch đọc sách của em trong dự án Văn học – lịch sử tâm hồn. Chú ý chọn đọc những tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam thuộc các bộ phận và thời kì, giai đoạn theo dòng lịch sử văn học.
Trả lời:
- Mục tiêu: trong hai tháng đọc ít nhất sáu cuốn, trải đều từ văn học dân gian, trung đại đến hiện đại; mỗi cuốn có một phiếu đọc; cuối dự án giới thiệu được một cuốn em tâm đắc.
- Kế hoạch: tuần 1 – 2 đọc truyện cổ tích, ca dao; tuần 3 – 4 đọc vài truyện trong Truyền kì mạn lục và đoạn trích Truyện Kiều; tuần 5 – 6 đọc truyện ngắn Nam Cao, một tập Thơ mới; tuần 7 – 8 đọc văn xuôi thời kháng chiến và sau Đổi mới. Mỗi ngày đọc 30 phút, cuối tuần trao đổi trong nhóm.
Văn bản 1: Văn học Việt Nam từ khu vực ra thế giới, từ truyền thống đến hiện đại
Văn bản nằm trong phần Đọc như một sự hồi tưởng. Tác giả là nhóm biên soạn do GS Trần Đình Sử (sinh năm 1940, nhà lí luận văn học, nhiều năm giảng dạy ở ĐHSP Hà Nội) đứng đầu. Bố cục gồm ba phần: văn học nước ta vừa lâu đời vừa trẻ; quá trình hình thành văn học viết qua ba loại chữ; diện mạo của văn học thế kỉ XX.
Các câu hỏi theo dõi bên lề (cổ xưa và non trẻ; văn học chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ; vị trí văn học thế kỉ XX) được trả lời gộp trong phần sau khi đọc.
Sau khi đọc: câu hỏi trang 120
Câu 1: Vì sao văn học Việt Nam “vừa cổ xưa vừa non trẻ”? (trang 120)
Vì sao có thể nhận định rằng nền văn học Việt Nam “vừa cổ xưa vừa non trẻ”?
Trả lời:
- Cổ xưa: cội nguồn văn học có từ thời các vua Hùng; kho tàng sáng tác dân gian lưu truyền bằng miệng qua hàng nghìn năm đã giữ gìn tâm hồn, trí tuệ, tiếng nói dân tộc và làm nền cho văn học viết.
- Non trẻ: văn học viết của ta chỉ bắt đầu vào thế kỉ X, khi đất nước vừa giành lại độc lập, trong khi văn học Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Hoa đã có từ trước Công nguyên; văn học hiện đại lại càng muộn, đến đầu thế kỉ XX mới định hình.
Câu 2: Các thời kì của văn học viết; chữ viết và thể loại (trang 120)
Nền văn học viết Việt Nam đã hình thành và phát triển qua những thời kì nào? Nêu rõ nguồn gốc, đặc điểm của chữ viết và thể loại ở từng thời kì.
Trả lời:
| Thời kì | Chữ viết | Thể loại |
|---|---|---|
| Trung đại (thế kỉ X – XIX), gồm bốn chặng: X – XIV, XV – XVII, XVIII – nửa đầu XIX, nửa cuối XIX | Chữ Hán vay mượn của Trung Hoa; chữ Nôm do người Việt dựa vào chữ Hán mà đặt ra để ghi tiếng mẹ đẻ | Thơ, phú, hịch, cáo, truyện truyền kì… mượn từ Trung Hoa nhưng dần mang hồn Việt; văn Nôm sáng tạo truyện thơ lục bát, ngâm khúc, hát nói |
| Hiện đại (đầu thế kỉ XX – nay), gồm ba chặng: đến 1945, 1945 – 1975, sau 1975 | Chữ quốc ngữ – dùng chữ cái La-tinh ghi âm tiếng Việt, do giáo sĩ phương Tây khởi tạo | Tiểu thuyết, truyện ngắn, Thơ mới, phóng sự, kịch nói… theo mô hình văn học châu Âu |
Câu 3: Quan hệ giữa văn học chữ Hán và chữ Nôm (trang 120)
Văn học viết bằng chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm có quan hệ với nhau như thế nào? Nêu rõ điểm tương đồng và khác biệt của hai bộ phận văn học này trong thời kì trung đại.
Trả lời:
- Quan hệ: song song tồn tại, bổ sung cho nhau; nhiều tác giả viết ở cả hai mảng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du.
- Tương đồng: cùng thấm tinh thần yêu nước, nhân đạo; cùng chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho, Phật, Lão và thi pháp Trung Hoa.
- Khác biệt: văn chữ Hán ra đời trước, giữ vị trí chính thống trong triều đình, thi cử; văn chữ Nôm ghi đúng lời nói người Việt, gần gũi đại chúng và khai sinh những thể loại mang tính dân tộc.
Câu 4: Yếu tố lịch sử, xã hội ảnh hưởng tới văn học thế kỉ XX (trang 120)
Những yếu tố lịch sử, xã hội nào có ảnh hưởng quan trọng, tạo nên các đặc điểm nổi bật của văn học Việt Nam thế kỉ XX?
Trả lời: Đó là: sự giao lưu với văn hóa Pháp và phương Tây thời thuộc địa, kèm theo báo chí, nghề in, chữ quốc ngữ phổ biến; Cách mạng tháng Tám năm 1945 khai sinh nhà nước mới; hai cuộc kháng chiến và cảnh đất nước chia cắt sau 1954, hình thành hai dòng văn học ở hai miền; thống nhất năm 1975 và công cuộc Đổi mới cuối năm 1986; thời kì hội nhập với in-tơ-nét, việc nước ta vào WTO năm 2007.
Câu 5: Biểu hiện của tính truyền thống và tính hiện đại (trang 120)
Tính truyền thống và hiện đại của nền văn học Việt Nam được biểu hiện rõ nhất qua những đặc điểm nào?
Trả lời: Tính truyền thống thể hiện ở mạch nguồn văn học dân gian và tiếng Việt, ở sự tiếp thu tinh hoa văn hóa Đông Á, ở hai cảm hứng lớn là yêu nước và nhân đạo. Tính hiện đại thể hiện ở chữ quốc ngữ, hệ thống thể loại và lối tư duy nghệ thuật học từ phương Tây, ở sự lên tiếng của cái tôi riêng tư và xu hướng đối thoại với văn học thế giới.
Viết kết nối với đọc (trang 120)
Câu 1: Đoạn văn với câu chủ đề cho trước (trang 120)
Viết đoạn văn (khoảng 10 – 15 câu) với câu chủ đề: “Trong mỗi thời kì, văn học Việt Nam đều có những tác phẩm tiêu biểu, độc đáo về nghệ thuật và chứa đựng giá trị nội dung sâu sắc”.
Trả lời:
Trong mỗi thời kì, văn học Việt Nam đều có những tác phẩm tiêu biểu, độc đáo về nghệ thuật và chứa đựng giá trị nội dung sâu sắc. Từ thuở dựng nước, ông cha ta gửi khát vọng chống ngoại xâm vào hình tượng người anh hùng làng Gióng lớn nhanh như thổi. Khi văn học viết ra đời, bài thơ Nam quốc sơn hà chỉ bốn câu chữ Hán mà vang lên như lời tuyên bố chủ quyền. Thế kỉ XV, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi kết hợp lí lẽ đanh thép với cảm hứng sử thi, được coi là áng thiên cổ hùng văn. Đến thế kỉ XVIII – XIX, chữ Nôm lên tới đỉnh cao với Truyện Kiều, nơi thể lục bát trở thành công cụ kể chuyện và khắc họa tâm lí bậc thầy. Bước sang thế kỉ XX, Thơ mới đem đến tiếng nói của cái tôi, còn văn xuôi của Nam Cao, Ngô Tất Tố phơi bày số phận người nông dân bằng ngòi bút tỉnh táo mà thấm đẫm yêu thương. Những năm kháng chiến, thơ văn ngợi ca người lính và con người Việt Nam kiên cường, lạc quan. Sau năm 1975, nhất là từ thời Đổi mới, văn học trở về với đời thường và những trăn trở của con người cá nhân. Mỗi tác phẩm như một tấm gương soi tâm hồn dân tộc ở từng chặng lịch sử. Vì vậy, đọc văn học Việt Nam theo dòng thời gian cũng là cách để chúng ta hiểu mình từ đâu đến và biết trân quý di sản cha ông.
Văn bản 2: Văn hóa đọc với nhà văn và độc giả trong thời đại công nghệ số
Văn bản nằm trong phần Đọc trong một thế giới đầy biến động. Đây là cuộc trò chuyện với Nguyễn Nhật Ánh – nhà văn của tuổi học trò, có nhiều truyện được dựng thành phim như Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Mắt biếc. Văn bản gồm lời dẫn nêu vấn đề, năm cặp hỏi – đáp và lời cảm ơn khép lại.
Gợi ý cho các câu hỏi theo dõi: người hỏi giới thiệu nhà văn và tác phẩm của ông rồi mới hỏi; nhà văn thừa nhận công nghệ số có tác động nhưng cho rằng sức ép lớn hơn dồn lên nhà xuất bản, nhà phát hành; từ chuyện thời gian đọc bị phim ảnh, âm nhạc, thể thao chia sẻ, cuộc trò chuyện chuyển sang so sánh sách với phim.
Sau khi đọc: câu hỏi trang 123
Câu 1: Vấn đề của cuộc phỏng vấn nằm ở phần nào? (trang 123)
Vấn đề mà cuộc phỏng vấn đề cập được trình bày ở phần nào của văn bản?
Trả lời: Ở phần mở đầu – lời dẫn của người phỏng vấn trước câu hỏi thứ nhất. Lời dẫn nêu bối cảnh công nghệ số, phương tiện nghe nhìn phát triển và đặt vấn đề về văn hóa đọc của người viết lẫn người đọc.
Câu 2: Số câu hỏi triển khai vấn đề chính và mối quan hệ của chúng (trang 123)
Vấn đề chính của cuộc phỏng vấn được triển khai bằng mấy câu hỏi? Nêu rõ mối quan hệ giữa vấn đề chính và các thông tin được triển khai trong hệ thống câu hỏi phỏng vấn.
Trả lời: Có 5 câu hỏi, lần lượt hướng tới: (1) suy nghĩ của nhà văn về việc đọc khi công nghệ chiếm nhiều thời gian; (2) những thay đổi đó ảnh hưởng ra sao tới công việc viết; (3) vì sao phim chuyển thể và nguyên tác hấp dẫn theo cách khác nhau; (4) lời nhắn gửi của nhà văn tới bạn đọc; (5) người cầm bút đứng ở đâu khi xã hội đổi thay. Mỗi câu soi vấn đề chính từ một góc – người đọc, người viết, quan hệ sách – phim, lời khuyên, tầm nhìn tương lai; câu sau phát triển từ câu trước, cùng làm rõ chủ đề văn hóa đọc.
Câu 3: Quan hệ giữa câu trả lời và vấn đề được hỏi (trang 123)
Câu trả lời của người được phỏng vấn có quan hệ như thế nào với vấn đề được nêu trong câu hỏi?
Trả lời: Câu trả lời bám sát từng câu hỏi, không lan man; nhà văn vừa đáp đúng điều được hỏi vừa bổ sung góc nhìn rút ra từ nghề viết, chẳng hạn chỉ ra rằng đọc sách thì người đọc tự quyết nhịp độ, còn xem phim là trải nghiệm liền mạch không ngắt quãng. Nhờ vậy, thông tin vừa trúng trọng tâm vừa có chiều sâu.
Câu 4: Yếu tố ngôn ngữ thể hiện phép lịch sự, sự tôn trọng (trang 123)
Những yếu tố ngôn ngữ nào thể hiện phép lịch sự và ý thức tôn trọng người được phỏng vấn trong cách đặt vấn đề, triển khai vấn đề và kết thúc cuộc phỏng vấn?
Trả lời: Khi đặt vấn đề, người hỏi giới thiệu nhà văn bằng giọng trân trọng, nêu đúng tên tác phẩm của ông. Khi triển khai, người hỏi dùng lối hỏi ý kiến, có lời xin phép trước câu hỏi tế nhị, không áp đặt. Khi kết thúc, có lời cảm ơn, lời chúc sức khỏe và mong chờ tác phẩm mới.
Viết kết nối với đọc (trang 123)
Câu 1: Đóng vai phỏng vấn một nhà văn, nhà thơ (trang 123)
Nếu được phỏng vấn một nhà văn hoặc nhà thơ về một vấn đề mà em quan tâm, em sẽ chọn vấn đề gì? Nêu 3 – 5 câu hỏi mà em dự định trao đổi với tác giả đó, đồng thời đóng vai tác giả để trả lời các câu hỏi vừa nêu.
Trả lời: Em chọn vấn đề làm sao để học sinh yêu thơ hơn, hình dung mình trò chuyện với một nhà thơ viết cho thiếu nhi (phần đáp là lời đóng vai).
- Hỏi: Thưa nhà thơ, vì sao nhiều bạn học sinh thấy thơ khó hiểu?
Đáp: Có lẽ vì các em thường gặp thơ cùng yêu cầu phân tích, nên quên rằng thơ trước hết để cảm. Hãy đọc to một bài vài lần, để âm thanh và hình ảnh tự ngấm. - Hỏi: Ông bắt đầu yêu thơ từ khi nào?
Đáp: Từ những câu ca dao bà ru tôi ngủ. Lớn lên, tôi chép bài mình thích vào một quyển sổ – đó là người thầy đầu tiên của tôi. - Hỏi: Mạng xã hội có khiến người trẻ xa thơ không, thưa ông?
Đáp: Nó vừa là đối thủ vừa là cơ hội. Nhiều bạn gặp một câu thơ hay qua đoạn video ngắn; điều quan trọng là từ câu thơ ấy, các em có tìm đến cả bài, cả tập thơ hay không.
Đọc để tự học và thực hành (trang 123 – 124)
Câu 1: Chọn đọc tác phẩm kinh điển, ghi phiếu đọc (trang 123)
Với hiểu biết của em về lịch sử văn học Việt Nam, hãy lên danh mục những tác phẩm tiêu biểu cần đọc trong từng thời kì. Chọn đọc một số tác phẩm mà em yêu thích và ghi chú thông tin vào phiếu đọc theo gợi ý: a. Mối quan hệ giữa tác phẩm và bối cảnh lịch sử, xã hội; b. Nguồn gốc thể loại, chữ viết, đề tài và hình tượng trong tác phẩm; c. Đặc điểm nổi bật về nghệ thuật, nội dung của tác phẩm; d. Dự đoán ảnh hưởng, tác động của môi trường văn học tới những yếu tố trong tác phẩm; e. Những thông điệp, bài học mà bản thân có thể rút ra từ việc đọc tác phẩm.
Trả lời:
Danh mục gợi ý: văn học dân gian (Thánh Gióng, Tấm Cám, ca dao); trung đại (Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Truyền kì mạn lục, Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương); đầu thế kỉ XX – 1945 (Thơ mới, Tắt đèn, Lão Hạc, Hai đứa trẻ); 1945 – 1975 (Đồng chí, Làng, Những ngôi sao xa xôi); sau 1975 (Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa).
Phiếu đọc mẫu – truyện ngắn Lão Hạc (Nam Cao):
- a. Truyện ra đời năm 1943, khi nông thôn kiệt quệ, nạn đói cận kề; lão Hạc là hình ảnh thu nhỏ của người nông dân nghèo thời ấy.
- b. Truyện ngắn hiện đại viết bằng chữ quốc ngữ, thể loại hình thành theo kiểu văn xuôi phương Tây; đề tài người nông dân trước Cách mạng; hình tượng trung tâm là ông lão nghèo mà giàu lòng tự trọng, gắn với cậu Vàng.
- c. Kể ở ngôi thứ nhất qua nhân vật ông giáo, đi sâu vào tâm lí, xen những đoạn triết lí trữ tình; vừa tố cáo xã hội dồn người lương thiện vào đường cùng, vừa ngợi ca phẩm giá con người.
- d. Thuộc dòng hiện thực 1930 – 1945, gần Tắt đèn về đề tài nhưng nghiêng hẳn về chiều sâu nội tâm, thể hiện cái nhìn nhân đạo của Nam Cao.
- e. Hãy nhìn người khác bằng sự thấu hiểu thay vì vội phán xét; giữ lòng tự trọng cả khi khốn khó nhất.
Câu 2: Gặp gỡ độc giả “đặc biệt” qua bài thơ Bên mộ cụ Nguyễn Du (trang 124)
Đọc văn bản Bên mộ cụ Nguyễn Du (Vương Trọng) hoặc sưu tầm, tìm đọc một số văn bản có nội dung, cảm xúc tương đồng và ghi chép các thông tin về những vấn đề sau: a. Mối quan hệ giữa thể loại, đề tài, hình tượng hoặc một số chi tiết nghệ thuật trong văn bản với những văn bản khác (mà em đã đọc, tìm hiểu); b. Tính chất “đặc biệt” của tác giả – độc giả trong văn bản.
Trả lời:
a. Mối quan hệ với những văn bản khác. Bài thơ viết theo thể lục bát – thể thơ của Truyện Kiều, như thể người viết đáp lời Nguyễn Du bằng chính giọng của ông. Đề tài viếng mộ danh nhân gần với nhiều bài thơ tưởng niệm như Viếng lăng Bác. Đặc biệt, bài thơ dệt bằng thi liệu của Nguyễn Du: hai câu mở đầu gợi cảnh Kiều viếng nấm mồ vô chủ của Đạm Tiên trong tiết thanh minh,
Tưởng rằng phận bạc Đạm Tiên
Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây
còn cụm từ thập loại chúng sinh nhắc tới Văn chiêu hồn; hoa lê, phong trần, thanh minh đều là hình ảnh quen thuộc trong Truyện Kiều.
b. Tính chất “đặc biệt” của tác giả – độc giả. Vương Trọng vừa là nhà thơ vừa là người đọc Nguyễn Du; bài thơ chính là cách một độc giả đặc biệt đối thoại với tác giả mình yêu mến. Cách gọi chuyển từ cụ Nguyễn Tiên Điền kính cẩn sang tiếng “con” thân thiết, rút ngắn khoảng cách hai thế kỉ bằng sự tri âm:
Thanh minh trong những câu Kiều
Rưng rưng con đọc với chiều Nghi Xuân.
Người đọc ấy còn là người lính thời chiến, mong ngày hòa bình được xây tượng đài cho cụ – tấm lòng biết ơn của cả một thế hệ. Đúng như lời dẫn của SGK, “đọc cũng là quá trình đồng sáng tạo”: qua những độc giả như thế, tác phẩm của Nguyễn Du tiếp tục sống.
Kết luận
Qua bài soạn Thách thức đầu tiên: Đọc để trưởng thành, em có cái nhìn hệ thống về lịch sử văn học dân tộc và những suy nghĩ mới về việc đọc trong thời đại số. Hãy biến những hiểu biết ấy thành kế hoạch đọc cụ thể, kiên trì ghi phiếu để sẵn sàng cho các chặng tiếp theo của dự án đọc.
Xem thêm: