Ít lâu trước khi mất năm 2007, Kim Lân kể với báo Tiền Phong rằng anh cu Tràng trong Vợ nhặt cũng là ông. Khi viết truyện ấy, ông vừa cưới vợ thì gặp năm đói; vợ ông cũng đi buôn cám, và mẹ ông tên là bà Tam, sang truyện thành bà Tứ. Lời tâm sự ấy mở ra cách hiểu gọn nhất về phong cách sáng tác của Kim Lân. Kim Lân (1920 – 2007) là nhà văn viết truyện ngắn về làng quê Bắc Bộ, và ông viết về người nông dân như viết về chính mình: từ bên trong, bằng giọng của người trong cuộc.

Người trong làng kể chuyện làng
Nhiều nhà văn hiện thực trước 1945 nhìn người nông dân từ xa, qua con mắt thương cảm hoặc phê phán. Kim Lân thì đứng hẳn trong làng. Ông là con nhà nghèo ở Phù Lưu, học hết tiểu học đã phải đi làm thợ sơn, thợ khắc; chợ quê, hội làng, chiếu tuồng chiếu chèo là trường học của ông. Vì thế người quê trong truyện của ông hiếm khi là “đối tượng” để quan sát. Họ là hàng xóm, là người nhà.
Điều này thấy rõ ở cách ông chọn chi tiết. Không có những bức tranh làng quê thơ mộng, cũng không có những trang tả cái khổ cho thật thảm. Thay vào đó là những thứ chỉ người sống trong làng mới để ý: tiếng khoe làng của một ông già đi tản cư, nồi cháo cám được mẹ chồng gọi là “chè khoán”, cái gánh hàng, cái nón rách. Ông nhìn bằng con mắt thân thuộc ấy cả khi làng quê đổi thay theo thời cuộc, từ những năm tản cư kháng chiến đến những ngày hợp tác hóa.
Thú quê và cái kiêu hãnh của người nhà quê
Trước Cách mạng, Kim Lân gây chú ý bằng một mảng đề tài lạ: những thú chơi của làng Kinh Bắc. Con mã mái kể chuyện chơi gà chọi, Người kép già viết về một người kép hát. Các truyện này in trên Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật, cùng thời với những truyện ngắn đầu tay như Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô đầu.
Đọc những truyện ấy sẽ thấy một người nông dân khác với hình ảnh quen thuộc trong văn hiện thực cùng thời. Họ nghèo, nhưng có lúc ung dung; có tài, có thú vui riêng, và có cả cái kiêu hãnh của người sành chơi. Đây là nét Kim Lân đóng góp cho văn học viết về nông thôn: cùng với cái khổ, người làng còn có một đời sống tinh thần phong phú, có văn hóa, có phong tục, có niềm vui.
Cái kiêu hãnh ấy đi theo các nhân vật của ông về sau. Ông Hai trong Làng đi tản cư vẫn tối nào cũng sang nhà hàng xóm khoe làng Chợ Dầu của mình, khoe như khoe một gia tài. (Truyện viết năm 1948, giữa những ngày kháng chiến; xem hoàn cảnh ra đời của Làng.) Bà cụ Tứ trong Vợ nhặt nghèo đến mức phải nấu cháo cám, vẫn giữ được sự ý tứ của một người mẹ biết thương con, thương người.
Một tình huống lạ là đủ cho cả truyện
Truyện của Kim Lân thường ngắn, ít nhân vật, ít sự kiện. Sức hút nằm ở tình huống. Ông có biệt tài tìm ra một tình huống vừa đời thường vừa éo le, đặt nhân vật vào đó và để tình huống tự nói.
| Truyện | Tình huống | Điều tình huống làm lộ ra |
|---|---|---|
| Làng (1948) | Ông Hai, người mê làng nhất, nghe tin làng mình theo giặc | Tình yêu làng và lòng yêu nước giằng co rồi hòa làm một |
| Vợ nhặt (in 1962) | Anh Tràng nghèo, xấu, giữa nạn đói 1945 bỗng “nhặt” được vợ chỉ sau mấy câu đùa và bốn bát bánh đúc | Giữa cái đói, con người vẫn khao khát hạnh phúc và đùm bọc nhau |
Cả hai tình huống đều bắt đầu từ một chuyện tưởng nhỏ: một cái tin đồn, một câu hò đùa trên đường kéo xe. Nhưng chúng đẩy nhân vật đến chỗ phải bộc lộ phần sâu nhất của mình. Kết Làng, khi tin đồn được cải chính, ông Hai đi khoe khắp nơi rằng nhà mình bị Tây đốt rồi, “Đốt nhẵn!”, như khoe một tin mừng. Chi tiết ngược đời ấy chỉ có nghĩa khi người đọc đã theo trọn tình huống từ đầu.
Tâm lý hiện ra qua dáng điệu và lời nói
Kim Lân hiếm khi đứng ra giải thích nhân vật nghĩ gì. Ông để tâm trạng lộ ra qua cử chỉ, nét mặt, lời ăn tiếng nói. Lúc ông Hai nghe người tản cư dưới xuôi lên kể làng Chợ Dầu theo giặc, nhà văn chỉ viết:
Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân.
Một câu tả thân thể mà nói đủ cú sốc tinh thần. Những ngày sau đó, ông Hai không dám ra ngoài, nằm nghe ngóng từng tiếng động, rồi tự nhủ: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Đỉnh điểm là đoạn ông thủ thỉ với đứa con út, hỏi nó là con ai, nhà ở đâu, ủng hộ ai. Không ai nghe ông tâm sự, ông nói với một đứa trẻ chưa hiểu chuyện, và chính vì thế người đọc nghe rõ nỗi đau của ông.
Ở Vợ nhặt, cũng lối viết ấy. Tràng dẫn vợ về, “tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”; người vợ nhặt thì rón rén, e thẹn, khác hẳn cái vẻ chao chát lúc ngồi ăn bánh đúc. Bà cụ Tứ về đến nhà, thấy người đàn bà lạ, cúi đầu nín lặng rồi mới nói được những lời vừa thương con vừa thương dâu. Mỗi nhân vật được khắc họa bằng vài nét ngoại hình và vài câu nói, không cần những đoạn phân tích dài.

Tiếng nói của người làng Kinh Bắc
Ngôn ngữ là chỗ dễ nhận ra Kim Lân nhất. Lời nhân vật của ông đậm khẩu ngữ nông thôn Bắc Bộ: tiếng chửi đổng, câu thành ngữ, lối nói vòng vo, những câu nói lặp lại như người ta vẫn nói ngoài đầu ngõ. Ông Hai nói như một ông lão nhà quê thật, nói lặp, nói dài, lúc giận thì văng tục. Bà cụ Tứ an ủi con dâu bằng câu tục ngữ “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”, một cách nghĩ rất nông dân về sự may rủi của đời người.
Lời người kể cũng không xa lời nhân vật. Kim Lân kể chậm, giản dị, nhiều câu ngắn, xen chút hóm hỉnh, ít khi dùng từ sách vở. Ngay cả khi tả cảnh đói, người chết “như ngả rạ”, người đói đi lại “như những bóng ma”, ông vẫn dùng những so sánh quen thuộc với người nhà quê. Nhờ vậy cái giọng của truyện và cái giọng của nhân vật hòa làm một: cả câu chuyện như do một người làng kể lại.
Giữa cái đói vẫn hướng về sự sống
Viết về nạn đói năm Ất Dậu, Kim Lân chọn một hướng ít người chọn. Ông từng giải thích: nhiều người nghĩ khi đói thì người ta chỉ nghĩ đến cái chết, còn ông muốn viết về những con người ở sát bên cái chết mà vẫn nghĩ đến sự sống. Vợ nhặt vì vậy không dừng ở cảnh thê thảm. Bữa cơm đầu tiên có nàng dâu chỉ có cháo loãng và nồi cháo cám, nhưng bà mẹ nói toàn chuyện vui, chuyện làm ăn. Truyện khép lại bằng tiếng trống thúc thuế, tin đoàn người đi phá kho thóc Nhật, và hình ảnh “lá cờ đỏ bay phấp phới” hiện lên trong óc Tràng.
Đây là nét nhân đạo riêng của Kim Lân: ông tin vào phần tốt đẹp của người nghèo một cách giản dị, không cần lý lẽ. Tại buổi kỷ niệm 100 năm sinh ông năm 2020, nhà thơ Hữu Thỉnh cho rằng cái đọng lại sâu nhất trong văn Kim Lân là “hồn cốt của tình người”, chứ không phải những kịch tính dữ dằn. Nhà văn Nguyễn Quang Thiều, khi giới thiệu tuyển tập Người kép già (2021), viết rằng cách sống, ngôn ngữ và hành xử của ông với cuộc đời luôn là “những trang viết đau đớn, yêu thương và kiêu hãnh”.
Đặt cạnh Nam Cao: hai cách viết về người nông dân
Kim Lân và Nam Cao là bạn thân, cùng viết về nông thôn Bắc Bộ, cùng có truyện được học trong nhà trường. So sánh hai người giúp thấy rõ nét riêng của mỗi bên. Bảng dưới là nhận xét của người biên tập, dùng làm gợi ý khi lập dàn ý:
| Phương diện | Nam Cao | Kim Lân |
|---|---|---|
| Điều nhà văn tìm ở người nông dân | Phần người bị cái đói, cái ác làm tha hóa | Vẻ đẹp tâm hồn, tình người, cái thú, cái kiêu hãnh |
| Giọng kể | Tỉnh táo, lạnh, nhiều chiêm nghiệm | Mộc mạc, hồn hậu, có chút hóm |
| Cách dựng tâm lý | Độc thoại nội tâm, phân tích dài | Cử chỉ, nét mặt, lời nói |
| Kết truyện | Thường bi thảm (Chí Phèo, Lão Hạc) | Thường mở ra hy vọng (Làng, Vợ nhặt) |
Muốn đọc kỹ phía Nam Cao, xem bài phong cách sáng tác của Nam Cao. Một chi tiết thú vị: năm 1982, chính Kim Lân là người đóng vai lão Hạc trong phim Làng Vũ Đại ngày ấy.
Viết ít mà kỹ: đọc Làng và Vợ nhặt trong sách giáo khoa
Cả đời Kim Lân chỉ in vài tập truyện ngắn, nổi bật là Nên vợ nên chồng và Con chó xấu xí. Tại hội thảo năm 2020, giáo sư Phong Lê cho rằng ông viết ít nhưng hợp với quy luật nghệ thuật, theo tinh thần quý hồ tinh. Học sinh hiện gặp ông ở Làng (Ngữ văn 9 Cánh diều) và Vợ nhặt (Ngữ văn 11 Kết nối tri thức). Khi phân tích, nên bám vào ba chỗ: tình huống truyện, những chi tiết cử chỉ – lời nói làm lộ tâm lý, và cái kết hướng về phía ánh sáng.
Tài liệu trên Văn VN: soạn bài Làng, tóm tắt truyện Làng, phân tích nhân vật ông Hai, soạn bài Về truyện “Làng” của Kim Lân, soạn bài Vợ nhặt và phân tích Vợ nhặt. Cuộc đời ông, từ làng Phù Lưu đến những vai diễn trên màn ảnh, có trong bài giới thiệu nhà văn Kim Lân.