Soạn bài Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm theo hai bộ sách: Bài 6 “Hành trình tri thức” sách Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo (tập 2, trang 9 – 11) và Bài 5 “Nghị luận xã hội” sách Ngữ văn 9 Cánh diều (tập 1, trang 115 – 118). Mỗi bộ sách có một phần riêng, trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm từng câu hỏi. Thông tin chi tiết về tác giả, bố cục, giá trị văn bản có ở bài tác giả, tác phẩm Bàn về đọc sách.
Tóm tắt nội dung văn bản Bàn về đọc sách
Trước khi trả lời câu hỏi, em cần nắm vài thông tin cốt lõi về văn bản.

- Tác giả: Chu Quang Tiềm (1897 – 1986), nhà mĩ học và lí luận văn học nổi tiếng của Trung Quốc, quê ở huyện Đồng Thành, tỉnh An Huy (nhiều tài liệu phiên là Đông Thành).
- Thể loại: văn bản nghị luận (nghị luận về một vấn đề đời sống); bản trong sách giáo khoa là văn bản dịch, được lược trích.
- Vấn đề nghị luận: tầm quan trọng của việc đọc sách và cách chọn sách, đọc sách cho có hiệu quả.
- Bản Chân trời sáng tạo 7 ngắn hơn (ba đoạn chính); bản Cánh diều 9 dài hơn, có thêm phần bàn về việc chia sách thành sách phổ thông và sách chuyên môn.
Bố cục văn bản gồm 3 phần:
- Phần 1 (đoạn đầu): khẳng định đọc sách là một con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn.
- Phần 2 (đến “tự tiêu hao lực lượng”): hai cái hại thường gặp khi sách quá nhiều – đọc không chuyên sâu và dễ lạc hướng.
- Phần 3 (còn lại): phương pháp chọn sách và đọc sách.
Câu văn thể hiện rõ nhất quan điểm của tác giả nằm ở đầu phần 3: “Đọc sách không cốt lấy nhiều, quan trọng nhất là phải chọn cho tinh, đọc cho kĩ.”
Soạn bài Bàn về đọc sách – Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo
Chuẩn bị đọc
Câu 1: Theo em, thế nào là đọc sách có hiệu quả? (trang 9)
Trả lời:
Đọc sách có hiệu quả là sau khi đọc, em hiểu được nội dung chính của cuốn sách, ghi nhớ được những điều có ích và biết vận dụng chúng vào việc học, việc sống. Muốn vậy cần chọn sách phù hợp với mục đích và trình độ, đọc tập trung, vừa đọc vừa suy nghĩ, ghi chép; đọc ít mà hiểu sâu còn hơn đọc nhiều mà không đọng lại gì.
Trải nghiệm cùng văn bản
Câu 1: Hai trở ngại trong việc đọc sách được nêu trong đoạn văn này là gì? (trang 10)
Trả lời:
Đoạn văn thứ hai nêu hai trở ngại (hai “cái hại”) khi sách vở tích lũy ngày càng nhiều:
- Một là, sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu: đọc lướt rất nhiều nhưng đọng lại rất ít.
- Hai là, sách nhiều dễ khiến người đọc lạc hướng: tham đọc nhiều sách vô bổ mà bỏ lỡ những cuốn cơ bản, quan trọng.
Suy ngẫm và phản hồi
Câu 1: Văn bản trên viết ra nhằm mục đích gì? (trang 11)
Trả lời:
Văn bản nhằm thuyết phục người đọc rằng đọc sách là con đường quan trọng để tích lũy, nâng cao học vấn; đồng thời chỉ ra những cách đọc sai (đọc nhiều mà hời hợt, đọc tràn lan) để hướng người đọc tới cách đọc đúng: chọn sách cho tinh và đọc cho kĩ.
Câu 2: Vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa các ý kiến, lí lẽ, bằng chứng trong văn bản (trang 11)
Trả lời:
Em có thể vẽ sơ đồ gồm ba nhánh ý kiến, mỗi ý kiến được làm rõ bằng lí lẽ và bằng chứng như sau:

- Ý kiến 1: Đọc sách là một con đường quan trọng của học vấn.
- Lí lẽ: học vấn là thành quả tích lũy của toàn nhân loại; sách ghi chép, lưu giữ các thành quả ấy.
- Bằng chứng: nếu xóa bỏ những thành quả của quá khứ, con người sẽ lùi điểm xuất phát về mấy trăm, thậm chí mấy nghìn năm trước.
- Ý kiến 2: Sách nhiều có thể gây trở ngại cho việc đọc.
- Lí lẽ: sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu; sách nhiều dễ khiến người đọc lạc hướng.
- Bằng chứng: học giả Trung Hoa thời cổ đọc ít mà nghiền ngẫm kĩ; học giả trẻ ngày nay khoe đọc hàng vạn cuốn nhưng “đọng lại” rất ít; người mới học tham nhiều nên lãng phí thời gian vào sách vô thưởng vô phạt.
- Ý kiến 3: Đọc sách phải chọn cho tinh, đọc cho kĩ.
- Lí lẽ: đọc mười quyển mà chỉ lướt qua không bằng lấy một quyển đọc mười lần; đọc ít mà kĩ sẽ hình thành nếp suy nghĩ sâu xa.
- Bằng chứng: hai câu thơ khuyên đọc đi đọc lại sách hay; hình ảnh đọc nhiều mà không nghĩ “như cưỡi ngựa qua chợ”, về tay không.
Câu 3: Tác dụng của việc sắp xếp lí lẽ theo trình tự “một là…”, “hai là…” ở đoạn thứ hai (trang 11)
Ở đoạn văn thứ hai, việc tác giả sắp xếp các lí lẽ theo trình tự “một là…”, “hai là…” có tác dụng gì?
Trả lời:
Cách sắp xếp này giúp các lí lẽ được tách bạch, rõ ràng, người đọc dễ theo dõi và dễ ghi nhớ từng cái hại của việc đọc sách. Nó cũng làm lập luận chặt chẽ hơn: sau khi nêu “ít nhất có hai cái hại”, tác giả lần lượt chứng minh từng cái, không bỏ sót, nhờ đó tăng sức thuyết phục cho văn bản.
Câu 4: Có cần lưu ý đến tốc độ đọc và số lượng sách được đọc không? (trang 11)
Theo em, để tích lũy tri thức qua việc đọc sách, ta có cần lưu ý đến tốc độ đọc và số lượng sách được đọc không? Vì sao?
Trả lời:
Có, nhưng không nên đặt tốc độ và số lượng lên hàng đầu. Tốc độ đọc hợp lí giúp em đọc được nhiều tài liệu cần thiết trong thời gian có hạn; số lượng sách giúp mở rộng hiểu biết. Tuy vậy, như Chu Quang Tiềm đã chỉ ra, đọc nhanh, đọc nhiều mà không hiểu sâu thì kiến thức không đọng lại. Vì vậy cần linh hoạt: với sách tra cứu, sách giải trí có thể đọc nhanh, đọc lướt; với sách cơ bản, có giá trị thì phải đọc chậm, đọc kĩ, đọc lại nhiều lần. Chất lượng hiểu mới là điều quyết định.
Câu 5: Thiết kế sản phẩm giới thiệu phương pháp đọc sách hiệu quả (trang 11)
Từ những ý tưởng trong văn bản, em hãy thiết kế một sản phẩm sáng tạo (bài đăng trang web, infographic, tờ rơi, sơ đồ tư duy) để giới thiệu với các bạn phương pháp đọc sách hiệu quả, gồm: tâm thế đọc; không gian đọc; mục đích đọc và cách lựa chọn sách; cách đọc, ghi chú; cách vận dụng điều đã đọc vào đời sống.
Trả lời:
Gợi ý nội dung một tờ infographic “5 bước đọc sách hiệu quả”:
| Nội dung | Gợi ý |
|---|---|
| Tâm thế đọc | Đọc chủ động, tò mò, sẵn sàng suy nghĩ và đặt câu hỏi; tắt điện thoại khi đọc. |
| Không gian đọc | Nơi yên tĩnh, đủ ánh sáng, ngồi đúng tư thế; mỗi ngày dành một khung giờ cố định (ví dụ 30 phút trước khi ngủ). |
| Mục đích và chọn sách | Xác định đọc để học, để tra cứu hay để giải trí; ưu tiên sách có giá trị, phù hợp lứa tuổi, được thầy cô, người có chuyên môn giới thiệu. |
| Cách đọc, ghi chú | Đọc lướt mục lục trước, sau đó đọc kĩ từng chương; gạch chân ý chính, ghi chú bên lề hoặc vào sổ; tóm tắt mỗi chương bằng vài câu hoặc sơ đồ. |
| Vận dụng | Chọn một điều tâm đắc để thực hành; chia sẻ với bạn bè, viết cảm nhận; đọc lại những cuốn sách hay. |
Soạn bài Bàn về đọc sách – Ngữ văn 9 Cánh diều
Chuẩn bị (trang 115)
Yêu cầu: xem lại kiến thức về văn bản nghị luận xã hội (luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng); đọc trước văn bản, tìm hiểu về tác giả Chu Quang Tiềm; chuẩn bị ý kiến trao đổi về cách đọc sách hiệu quả.
Trả lời:
- Về tác giả: Chu Quang Tiềm (1897 – 1986) là nhà mĩ học, nhà lí luận văn học Trung Quốc, từng du học ở Anh và Pháp (tiến sĩ Đại học Strasbourg năm 1933); tác phẩm tiêu biểu: Tâm lí học văn nghệ, Bàn về thơ, Lịch sử mĩ học phương Tây.
- Ý kiến về cách đọc sách hiệu quả: xác định mục đích đọc; chọn sách có giá trị; đọc kĩ, vừa đọc vừa suy ngẫm, ghi chép; kết hợp đọc sâu sách chuyên môn với đọc rộng sách phổ thông.
Đọc hiểu (câu hỏi trong khi đọc)
Câu 1: Chú ý cách lập luận của tác giả khi đặt vấn đề (trang 115)
Trả lời:
Tác giả đặt vấn đề bằng cấu trúc “không chỉ… nhưng…”: thừa nhận đọc sách chưa phải là toàn bộ học vấn, rồi khẳng định đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn. Cách nói nhượng bộ trước, khẳng định sau khiến quan điểm khách quan, chừng mực mà vẫn dứt khoát. Ngay sau đó, tác giả giải thích bằng lí lẽ: học vấn là thành quả của cả nhân loại và được sách lưu giữ.
Câu 2: Quan điểm của tác giả được thể hiện như thế nào trong câu văn này? (trang 115)
Trả lời:
Ở câu văn bàn về ý nghĩa của việc đọc sách cuối phần 1, tác giả coi đọc sách là “trả món nợ” với thành quả nhân loại, là ôn lại kinh nghiệm, tư tưởng mà loài người tích lũy hàng nghìn năm. Quan điểm của ông là: đọc sách nối người đọc với quá khứ của nhân loại và chuẩn bị hành trang cho tương lai; có sự chuẩn bị ấy, con người mới đủ sức đi “cuộc trường chinh vạn dặm” trên con đường học vấn, phát hiện thế giới mới.
Câu 3: Chú ý cách tác giả lật ngược vấn đề để khẳng định ý kiến (trang 116)
Trả lời:
Sau khi ca ngợi giá trị của sách, sang phần 2 tác giả lật lại vấn đề: sách tất nhiên đáng quý, nhưng khi sách vở tích lũy quá nhiều thì chính sách lại có thể thành trở ngại cho việc nghiên cứu học vấn. Từ đó ông chỉ ra hai cái hại: đọc không chuyên sâu và dễ lạc hướng. Cách lật ngược này giúp người đọc nhìn vấn đề hai mặt, không tuyệt đối hóa số lượng sách, và chuẩn bị cho ý kiến chính ở phần 3: phải biết chọn sách và đọc kĩ.
Câu 4: Cách lập luận của tác giả có gì thú vị? (trang 116)
Trả lời:
- Tác giả dùng phép đối chiếu xưa – nay: học giả cổ đại đọc ít mà nghiền ngẫm kĩ; học giả trẻ ngày nay đọc lướt rất nhiều mà đọng lại rất ít.
- Tác giả dùng những so sánh gần gũi: đọc nhiều mà không tiêu hóa giống như ăn uống quá nhiều sinh bệnh dạ dày, thành lối “ăn tươi nuốt sống”; chiếm lĩnh học vấn giống như đánh trận, mục tiêu quá nhiều thì thành lối đánh “tự tiêu hao lực lượng”.
Những so sánh ấy biến vấn đề trừu tượng thành hình ảnh cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ và có phần hóm hỉnh.
Câu 5: Tác giả thể hiện thái độ như thế nào trước việc đọc sách? (trang 116)
Trả lời:
Tác giả rất coi trọng việc đọc sách nhưng đòi hỏi phải đọc đúng cách. Ông đề cao lối đọc chọn lọc, kĩ lưỡng (“chọn cho tinh, đọc cho kĩ”), không coi đọc nhiều là vinh dự, đọc ít là xấu hổ; đồng thời phê phán lối đọc lướt, đọc tràn lan, đọc để khoe khoang.
Câu 6: Chú ý câu văn, hình ảnh bộc lộ thái độ của tác giả (trang 117)
Trả lời:
Thái độ của tác giả bộc lộ rõ qua các hình ảnh: người đọc nhiều mà không nghĩ sâu “như cưỡi ngựa qua chợ”, châu báu phơi đầy mà rốt cuộc tay không trở về; người đọc sách chỉ để trang trí bộ mặt thì “như kẻ trọc phú khoe của”. Tác giả gọi cách đọc ấy là lừa mình dối người, thể hiện phẩm chất tầm thường, thấp kém. Đó là thái độ phê phán gay gắt lối đọc hình thức, chạy theo số lượng.
Câu 7: Quan điểm ở đây có mâu thuẫn với quan điểm ở phần trước không? Vì sao? (trang 117)
Trả lời:
Không mâu thuẫn. Ở phần trước, tác giả phản đối đọc nhiều mà hời hợt, tràn lan; ở phần này, ông khuyên đọc rộng sách phổ thông bên cạnh sách chuyên môn. “Đọc rộng” ở đây vẫn là đọc có chọn lọc: mỗi môn chỉ chọn vài quyển cơ bản để đọc kĩ, tổng số sách không nhiều. Hai quan điểm bổ sung cho nhau: đọc sâu mà không rộng sẽ bị bó hẹp, đọc rộng mà không sâu sẽ hời hợt; phải biết rộng rồi mới nắm chắc.
Câu 8: Chú ý tác dụng của những hình ảnh so sánh (trang 117)
Trả lời:
Hình ảnh người chỉ học một chuyên ngành mà không biết các tri thức liên quan được so sánh với “con chuột chui vào sừng trâu”, càng chui sâu càng hẹp, không tìm ra lối thoát. So sánh này giúp người đọc hình dung ngay tác hại của lối học khép kín, làm lời văn sinh động, dí dỏm và tăng sức thuyết phục cho lời khuyên phải biết rộng rồi mới chuyên sâu.
Câu hỏi sau khi đọc (trang 118)
Câu 1: Luận đề và các luận điểm của văn bản
Xác định luận đề của văn bản Bàn về đọc sách. Để triển khai luận đề này, tác giả đã đưa ra những luận điểm nào?
Trả lời:
- Luận đề: bàn về giá trị của sách và cách đọc sách cho có hiệu quả.
- Luận điểm 1: đọc sách là một con đường quan trọng của học vấn.
- Luận điểm 2: sách nhiều gây ra hai cái hại – đọc không chuyên sâu và dễ lạc hướng.
- Luận điểm 3: phương pháp chọn sách và đọc sách: chọn cho tinh, đọc cho kĩ; kết hợp đọc sách phổ thông và sách chuyên môn.
Câu 2: Những lí lẽ trong phần (1) và nhận xét
Chỉ ra những lí lẽ trong phần (1) của văn bản. Nhận xét về những lí lẽ đó.
Trả lời:
- Học vấn không phải việc riêng của một người mà là thành quả tích lũy lâu dài của toàn nhân loại.
- Các thành quả ấy còn được lưu giữ là nhờ sách; sách là kho tàng di sản tinh thần, là những cột mốc trên con đường phát triển học thuật.
- Muốn tiến lên phải lấy thành quả đã có làm điểm xuất phát; nếu xóa bỏ chúng, con người sẽ bị lùi lại hàng trăm, hàng nghìn năm.
- Đọc sách là kế thừa kinh nghiệm của nhân loại, là sự chuẩn bị để đi tiếp con đường học vấn.
Nhận xét: các lí lẽ đi từ khái quát đến cụ thể, nối tiếp nhau chặt chẽ, vừa có lí vừa dễ hiểu, làm sáng tỏ luận điểm đọc sách là con đường quan trọng của học vấn.
Câu 3: Bằng chứng làm sáng tỏ hai lí lẽ ở phần (2)
Trong phần (2), tác giả cho rằng “sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu”, “sách nhiều dễ khiến người đọc lạc hướng”. Tác giả đưa ra những bằng chứng nào? Em có đồng ý với các lí lẽ này không, vì sao?
Trả lời:
- Bằng chứng cho lí lẽ thứ nhất: học giả Trung Hoa cổ đại vì sách khó kiếm nên đọc rất ít, nhưng đọc kĩ, nghiền ngẫm đến thuộc lòng và dùng cả đời; ngược lại, học giả trẻ ngày nay khoe đọc hàng vạn cuốn nhưng “liếc qua” nhiều mà “đọng lại” ít, sinh ra thói hư danh nông cạn.
- Bằng chứng cho lí lẽ thứ hai: sách cơ bản của mỗi lĩnh vực chỉ vài nghìn, thậm chí vài quyển, nhưng nhiều người mới học tham nhiều, lãng phí thời gian vào sách vô thưởng vô phạt mà bỏ lỡ sách quan trọng; tác giả so sánh với việc đánh trận dàn trải mục tiêu, tự tiêu hao lực lượng.
Em đồng ý với các lí lẽ này. Ngày nay, sách in, sách điện tử và thông tin trên mạng còn nhiều hơn thời tác giả viết. Nếu không biết chọn lọc, người đọc rất dễ đọc lướt, đọc tràn lan, tiếp nhận cả thông tin kém chất lượng, mất thời gian mà hiểu biết không sâu thêm.
Câu 4: Quan hệ giữa phần (3) với phần (1), (2) và điều tâm đắc
Nội dung của phần (3) liên quan đến phần (1) và phần (2) như thế nào? Nêu lên một điều em tâm đắc nhất trong phần (3) và lí giải vì sao.
Trả lời:
Phần (1) khẳng định đọc sách quan trọng, phần (2) chỉ ra cái hại khi đọc sai cách; phần (3) là lời giải cho vấn đề đã đặt ra: phải chọn sách tinh, đọc kĩ, kết hợp đọc sâu và đọc rộng. Ba phần nối tiếp nhau theo trình tự nêu vấn đề – phân tích – giải quyết.
Điều em tâm đắc nhất là lời khuyên đọc mười quyển mà chỉ lướt qua “không bằng chỉ lấy một quyển mà đọc mười lần”. Em từng đọc rất nhiều truyện nhưng nhớ rất ít; chỉ những cuốn đọc lại nhiều lần mới thật sự để lại bài học. Đọc kĩ giúp em hiểu sâu và biến điều đã đọc thành suy nghĩ của mình.
Câu 5: Văn bản thuyết phục người đọc bởi những lí do nào?
Văn bản Bàn về đọc sách thuyết phục người đọc bởi những lí do nào? Phân tích một số bằng chứng để khẳng định câu trả lời của em.
Trả lời:
- Hệ thống luận điểm rõ ràng, sắp xếp hợp lí: tầm quan trọng – cái hại – phương pháp.
- Lí lẽ chặt chẽ, bằng chứng cụ thể: đối chiếu cách đọc của học giả cổ đại và học giả trẻ ngày nay cho thấy ngay giá trị của việc đọc kĩ.
- Nhiều so sánh sinh động, gần gũi: đọc không tiêu hóa như ăn uống sinh bệnh dạ dày; chiếm lĩnh học vấn như đánh trận; đọc nhiều không nghĩ như cưỡi ngựa qua chợ; học khép kín như con chuột chui vào sừng trâu.
- Giọng văn vừa khách quan vừa tâm tình, xuất phát từ trải nghiệm của một học giả uyên bác, nên lời khuyên có sức nặng.
Câu 6: Một ưu điểm và một hạn chế trong việc đọc sách của em
Từ những vấn đề được gợi ra trong văn bản, hãy nêu một ưu điểm và một hạn chế về việc đọc sách của bản thân em.
Trả lời:
- Ưu điểm: em có thói quen đọc sách đều đặn mỗi tối và thích đọc nhiều thể loại (truyện, sách khoa học phổ thông).
- Hạn chế: em thường đọc nhanh cho biết kết thúc, ít ghi chép và hiếm khi đọc lại, nên nhớ không lâu. Em sẽ khắc phục bằng cách chọn ít sách hơn nhưng đọc kĩ, ghi lại ý tâm đắc sau mỗi chương.
Kết luận
Bàn về đọc sách không chỉ dạy cách đọc mà còn dạy cách học và cách làm người: đọc để hiểu, để nghĩ, chứ không để khoe. Khi soạn bài, em nên nắm chắc ba luận điểm và những so sánh tiêu biểu vì đây là phần thường được hỏi trong bài kiểm tra.
Bài phân tích Bàn về đọc sách triển khai các luận điểm chính kèm dẫn chứng cụ thể từ văn bản.
Khi đề bài yêu cầu nêu nội dung chính, bài tóm tắt Bàn về đọc sách ngắn gọn là chỗ dựa gọn và đủ ý.
Xem thêm: