Soạn bài Một thể thơ độc đáo của người Việt (Dương Lâm An) giúp em trả lời ngắn gọn, đủ ý năm câu hỏi sau khi đọc ở trang 52 thuộc Bài 2 Những cung bậc tâm trạng, sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức tập một. Đây là văn bản thông tin đứng sau hai bài đọc Nỗi niềm chinh phụ và Tiếng đàn mưa, có nhiệm vụ “giải mã” chính thể thơ mà em vừa gặp trong hai bài trước: song thất lục bát.
Tìm hiểu chung về văn bản Một thể thơ độc đáo của người Việt
Trước khi vào câu hỏi, em nên nắm mấy thông tin nền dưới đây để trả lời nhanh và chắc hơn.

- Tác giả: Dương Lâm An. SGK chỉ ghi tên tác giả, không kèm tiểu sử.
- Xuất xứ: bài viết đăng trên tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9 năm 2023 (theo phần chú thích SGK mà các trang giải chép lại).
- Thể loại: thuộc loại văn bản thông tin, giới thiệu một thể thơ; phương thức chính là thuyết minh, có xen nhận xét, đánh giá của người viết.
- Đối tượng được giới thiệu: thể song thất lục bát, gồm những khổ bốn dòng theo thứ tự hai câu bảy chữ, một câu sáu chữ và một câu tám chữ.
- Bố cục: có thể chia ba phần. Phần một (từ đầu đến “giàu nhạc tính”): nguồn gốc và luật thơ của song thất lục bát. Phần hai (tiếp theo đến hết đoạn dẫn thơ Khóc Dương Khuê): thể thơ trong ngâm khúc và các thể loại khác. Phần ba (còn lại): song thất lục bát trong thơ hiện đại và lời khẳng định giá trị.
- Nội dung chính: văn bản cho biết thời điểm ra đời, luật thanh và luật vần, chặng phát triển rực rỡ cũng như sức sống lâu bền của song thất lục bát, qua đó khẳng định đây là sáng tạo riêng của văn học dân tộc.
- Nghệ thuật: thông tin sắp xếp theo trình tự thời gian kết hợp trình tự logic; dẫn nhiều tên tác phẩm, tác giả kèm năm sinh năm mất; mỗi ý quan trọng đều có đoạn thơ minh họa; giọng văn khách quan, mạch lạc.
Luật thơ song thất lục bát tóm tắt từ văn bản
Phần luật thơ là chỗ nhiều bạn thấy rối nhất. Bảng sau gom các thông tin trong đoạn thứ hai của văn bản lại để em dễ đối chiếu khi làm Câu 2 và Câu 3.
| Dòng thơ | Số tiếng | Vị trí cần chú ý về thanh | Vần |
|---|---|---|---|
| Câu thất thứ nhất | 7 | Tiếng 5 bằng, tiếng 7 trắc | Có vần lưng và vần chân |
| Câu thất thứ hai | 7 | Tiếng 3 bằng, tiếng 5 trắc, tiếng 7 bằng | Có vần lưng và vần chân |
| Câu lục | 6 | Tiếng 2 bằng, tiếng 4 trắc, tiếng 6 bằng | Vần chân |
| Câu bát | 8 | Tiếng 2 bằng, tiếng 4 trắc, tiếng 6 bằng, tiếng 8 bằng | Vần lưng (thường ở tiếng 6, có khi tiếng 4) và vần chân |
Như vậy, trong một khổ bốn dòng (28 tiếng), thể thơ này có tới bảy tiếng mang vần. Nói cách khác, cứ khoảng bốn tiếng lại có một tiếng hiệp vần, mật độ dày hơn hẳn các thể thơ có trước.
Sau khi đọc: trả lời câu hỏi trang 52
SGK đặt năm câu hỏi sau khi đọc. Ba câu đầu kiểm tra khả năng tìm thông tin, Câu 4 yêu cầu chỉ ra lí do, còn Câu 5 mời em bày tỏ suy nghĩ riêng.
Câu 1 (trang 52): Thơ song thất lục bát ra đời khi nào?
Theo thông tin trong văn bản, thể thơ song thất lục bát ra đời khi nào?
Trả lời:
- Văn bản cho biết chưa thể xác định chính xác năm ra đời của tác phẩm song thất lục bát đầu tiên, nhưng có thể khẳng định thể thơ này được người Việt tạo ra trong quãng thế kỉ XV – XVI, gần như cùng lúc với thể lục bát.
- Căn cứ để nêu mốc thời gian là hai tác phẩm được coi là sớm nhất: Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa (khuyết danh, có lẽ ra đời vào thế kỉ XV), tiếp đến là bài Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn do Lê Đức Mao viết trước năm ông đỗ Tiến sĩ (1505).
- Chi tiết thú vị: bài văn của Lê Đức Mao cũng thuộc số ít bài viết sớm nhất trong văn học nước ta có xen các đoạn lục bát, cho thấy hai thể thơ “anh em” này lớn lên cạnh nhau.
Câu 2 (trang 52): Đặc điểm hình thức giúp thơ song thất lục bát giàu nhạc tính
Đặc điểm hình thức nào giúp thơ song thất lục bát giàu nhạc tính?
Trả lời: Theo văn bản, có ba yếu tố hình thức cùng tạo nên chất nhạc:
- Độ dài câu thơ thay đổi luân phiên: hai câu bảy chữ nối với một câu sáu chữ rồi một câu tám chữ. Câu dài, câu ngắn nối nhau khiến nhịp thơ lên xuống, không đều đều một kiểu như thơ chỉ có một loại câu.
- Vần dày đặc: bình quân chừng bốn tiếng đã có một tiếng gieo vần; mỗi câu thất lại có cả vần lưng lẫn vần chân. Văn bản nhấn mạnh: trước song thất lục bát, chưa có thể thơ nào đạt mật độ vần cao như vậy.
- Sự phối hợp nhịp nhàng giữa cặp song thất và cặp lục bát: các dòng thơ móc nối với nhau bằng vần và bằng trắc, tạo âm hưởng du dương, ngân nga, rất hợp để ngâm.
Câu 3 (trang 52): Điểm tương đồng và khác biệt giữa song thất lục bát và lục bát
Văn bản đề cập những điểm tương đồng và khác biệt nào giữa thể thơ song thất lục bát và thể thơ lục bát?
Trả lời:
| Phương diện | Thơ lục bát | Thơ song thất lục bát |
|---|---|---|
| Điểm giống | Ở cặp câu sáu – tám, cả hai thể dùng chung một luật: câu lục theo thế bằng – trắc – bằng, câu bát theo thế bằng – trắc – bằng – bằng; câu lục và câu bát đều có vần chân, câu bát có thêm vần lưng. | |
| Cấu tạo khổ thơ | Chỉ gồm các cặp sáu – tám nối tiếp nhau | Mỗi khổ có thêm cặp hai câu bảy chữ đứng trước cặp sáu – tám |
| Thanh điệu | Quy định ở các tiếng chẵn | Riêng cặp song thất lại chú ý các tiếng lẻ: câu thất đầu (tiếng 5, 7), câu thất sau (tiếng 3, 5, 7) |
| Vần | Trong 28 tiếng có sáu tiếng gieo vần | Trong 28 tiếng có bảy tiếng gieo vần, vì mỗi câu thất đều mang cả vần lưng và vần chân |
Tóm lại, chỗ khác nhau căn bản giữa hai thể thơ nằm ở cặp song thất: nó vừa đổi cách đặt bằng trắc vừa làm vần dày thêm.
Câu 4 (trang 52): Vì sao thơ song thất lục bát vẫn được dùng trong thời hiện đại?
Theo văn bản, vì sao thể thơ song thất lục bát vẫn được sử dụng để sáng tác trong thời kì hiện đại?
Trả lời:
- Lí do cốt lõi mà văn bản nêu ra là vẻ đẹp và sức truyền cảm riêng của thể thơ. Nhờ nhạc điệu ngân nga, song thất lục bát có thể chuyển tải những rung động sâu kín mà người đọc dễ cảm nhận.
- Thể thơ còn đổi mới được theo thời đại: nếu xưa kia nó gắn với nỗi buồn thương của người chinh phụ, cung nữ, thì các nhà thơ hiện đại đã đưa vào đó những tâm trạng tươi mới. Văn bản dẫn đoạn thơ của Tố Hữu trong Ba mươi năm đời ta có Đảng như một ví dụ về giọng vui, khỏe của nước Việt Nam mới.
- Với người Việt, các khổ thơ bảy – bảy – sáu – tám vẫn gợi cảm giác gần gũi, thân thương. Vì thế Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải rồi Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Bích Khê, Hồ Dzếnh, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu… Tất cả đều từng tìm đến thể thơ này.
Câu 5 (trang 52): Suy nghĩ về nhận định của tác giả
Trình bày suy nghĩ của em về nhận định của tác giả đối với thể thơ song thất lục bát: “Đó thực sự là một thể thơ đặc sắc mà người Việt đã sáng tạo nên để có thể gửi gắm vào trong đó tâm hồn sâu lắng của mình”.
Trả lời:
- Em tán thành ý kiến của tác giả, vì nó được rút ra từ chính những dữ kiện mà văn bản đã trình bày, chứ không phải lời khen chung chung.
- Thứ nhất, đây là sáng tạo của người Việt. Thơ chữ Hán vay mượn từ Trung Hoa có câu bảy chữ nhưng không có kiểu kết hợp bảy – bảy – sáu – tám. Việc ghép câu thất với cặp lục bát vốn bắt nguồn từ ca dao là một cách tạo hình rất riêng của ông cha ta.
- Thứ hai, thể thơ phù hợp để giãi bày tâm trạng. Nhịp thơ lúc dồn, lúc giãn và vần dày giúp những cảm xúc buồn thương, nhớ nhung, xót xa được ngân dài. Không phải ngẫu nhiên mà các khúc ngâm nổi tiếng nhất như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc đều viết bằng thể thơ này. Đọc hai câu mở đầu đoạn Nguyễn Khuyến khóc bạn, em cảm nhận được nỗi đau nghẹn ngào chỉ qua âm điệu:
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta. - Thứ ba, thể thơ vẫn còn sống. Từ thơ trung đại đến thơ hiện đại, song thất lục bát luôn có người tiếp nối, chứng tỏ nó đáp ứng được nhu cầu biểu đạt của nhiều thế hệ.
- Từ đó, em hiểu rằng học về song thất lục bát không chỉ là thuộc luật bằng trắc mà còn là trân trọng một phần di sản tinh thần của dân tộc.
Gợi ý đọc hiểu văn bản thông tin về một thể thơ
Văn bản của Dương Lâm An là mẫu tốt để em học cách viết và đọc một bài giới thiệu về thể loại văn học. Khi gặp dạng bài tương tự, em có thể dựa vào mấy điểm sau:
- Tìm mốc ra đời và tác phẩm tiêu biểu: người viết thường nêu tác phẩm sớm nhất làm căn cứ, kèm lưu ý nếu tư liệu chưa chắc chắn.
- Tách riêng phần luật thơ: số tiếng, thanh điệu, vần, nhịp. Nên kẻ bảng hoặc sơ đồ để không nhầm vị trí các tiếng.
- Chú ý đoạn thơ minh họa: mỗi ví dụ trong văn bản (Chinh phụ ngâm, Ai tư vãn, Khóc Dương Khuê, thơ Tố Hữu) được chọn để chứng minh một ý cụ thể: luật vần, khả năng diễn tả bi thương, sức truyền cảm, hơi thở thời đại mới.
- Phân biệt thông tin và đánh giá: năm tháng, tên tác phẩm là thông tin khách quan; các cụm như “độc đáo”, “đặc sắc”, “sâu lắng” là đánh giá của tác giả. Câu 5 chính là câu hỏi về phần đánh giá ấy.
Sau bài này, SGK yêu cầu viết bài văn phân tích một bài thơ song thất lục bát. Em có thể ôn lại hai văn bản cùng bài qua soạn bài Nỗi niềm chinh phụ và soạn bài Tiếng đàn mưa để có sẵn dẫn chứng khi viết.
Kết luận
Qua bài soạn, em cần nhớ: văn bản Một thể thơ độc đáo của người Việt giới thiệu thể song thất lục bát từ nguồn gốc (thế kỉ XV – XVI), luật thơ (khổ bảy – bảy – sáu – tám, vần dày, chú trọng các tiếng lẻ ở cặp song thất) đến chặng cực thịnh trong ngâm khúc thế kỉ XVIII – XIX và sức sống trong thơ hiện đại. Nắm vững những thông tin này, em sẽ hiểu sâu hơn đoạn trích Chinh phụ ngâm và bài thơ Tiếng đàn mưa và tự tin hơn khi viết bài phân tích thơ song thất lục bát.
Xem thêm: