Tóm tắt Đất rừng phương Nam là yêu cầu đầu tiên của phần Sau khi đọc khi học đoạn trích tiểu thuyết của Đoàn Giỏi ở Bài 8 sách Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo. Đoạn trích thuộc chương 9, kể chuyến đi lấy mật của bé An cùng tía nuôi và thằng Cò ở rừng U Minh, được kể theo ngôi thứ nhất qua lời An. Bài viết gồm 7 mẫu: 4 mẫu tóm tắt đoạn trích trong sách giáo khoa và 3 mẫu tóm tắt toàn bộ tiểu thuyết, từ ngắn nhất đến chi tiết.
Lưu ý: đề tóm tắt văn bản trong sách chỉ yêu cầu tóm tắt đoạn trích (mẫu 1 – 4). Các mẫu tóm tắt tiểu thuyết (mẫu 5 – 7) giúp em hiểu đoạn trích nằm ở đâu trong cả câu chuyện.

Tóm tắt đoạn trích Đất rừng phương Nam ngắn nhất – mẫu 1
Một buổi sáng, An theo tía nuôi và thằng Cò vào rừng U Minh lấy mật. Dọc đường, An say sưa ngắm cảnh rừng và được chỉ cho cách nhận ra đàn ong mật. Tía nuôi dùng khói xua ong, thu về hơn năm mươi kèo mật, đồng thời dạy An không nên giết ong. Nghỉ ăn cơm, An tự hào nhận ra cách gác kèo nuôi ong ở U Minh là độc nhất.
Tóm tắt đoạn trích Đất rừng phương Nam ngắn gọn – mẫu 2
Đoạn trích kể về lần đầu An được theo tía nuôi và thằng Cò đi “ăn ong”. Cả nhà lên đường từ lúc gà gáy, mang theo gùi, thúng, dao rừng và con chó săn. Giữa đường nghỉ chân, Cò đố An tìm con ong mật, tía nuôi chỉ cho An thấy đàn ong bay qua kẽ lá. Rừng buổi sáng dần bừng tỉnh với tiếng chim, hương tràm, những con kì nhông đổi màu và cả bầy chim hàng nghìn con. Đến chỗ gác kèo, An nhớ lại lời má nuôi về cách chọn chỗ đặt kèo. Tía nuôi hun khói lấy mật; Cò bị ong đốt, An muốn đốt ong nhưng tía ngăn lại. Cuối ngày, mật đầy hai gùi, An ngồi ngẫm về cách nuôi ong độc đáo của vùng U Minh.
Tóm tắt đoạn trích Đất rừng phương Nam chi tiết – mẫu 3
Từ lúc gà vừa gáy canh tư, tía nuôi, thằng Cò và An đã chèo xuồng rồi đi bộ vào rừng U Minh. Tía đi trước, lưng mang gùi, bên hông đeo túi da beo, tay cầm dao phát lối; Cò đội thúng đựng nước và cơm; An mang chiếc gùi nhỏ má nuôi mượn giúp; con chó Luốc chạy lăng xăng. Đây là lần đầu An đi “ăn ong”. Cậu đã nghe má kể về cách gác kèo nhưng vẫn chưa hình dung được, bởi sách vở ở trường chẳng hề nói đến.
Thấy An mệt, tía cho dừng lại nghỉ. Cò khoe khả năng nhìn ong, đố An tìm ra con ong mật; An chịu thua, tía phải cầm tay chỉ, cậu mới thấy đàn ong nối nhau bay qua khoảng trống giữa các nhánh cây. Ăn cơm xong, nắng lên, rừng bừng tỉnh: chim hót, hương hoa tràm thơm ngây ngất, những con kì nhông đổi màu da theo chỗ nấp. Qua một trảng cỏ tranh, bầy chim hàng nghìn con vụt bay lên; An khen đẹp thì Cò chê là chim cỏ, bảo phải thấy “sân chim” mới biết. An tự ái nên không hỏi thêm.
Đến chỗ lấy mật, nhìn tổ ong trên cây tràm thấp, An nhớ lời má: phải chọn vùng rừng tốt, xem hướng gió, chặt nhánh tràm làm kèo, để kèo mất mùi sắt thì ong mới về làm tổ. Tía nuôi đứng trên hướng gió, hun khói cho ong bay đi. Cò bị ong đốt vào trán; An bứt cỏ khô định đốt ong, nhưng tía khuyên không nên giết ong, rồi bôi vôi cho Cò và đốt một thứ thuốc có mùi hắc để đuổi ong. Từ sáng đến chiều, tía lấy hơn năm mươi kèo, mật đầy hai gùi. Lúc nghỉ ăn cơm, An so sánh với cách nuôi ong ở nhiều nơi trên thế giới mà thầy giáo từng kể, và thấy không đâu có kiểu tổ ong trên nhánh kèo như ở U Minh.
Tóm tắt đoạn trích Đất rừng phương Nam theo lời An – mẫu 4
Hôm ấy là lần đầu tôi được theo tía nuôi và thằng Cò đi lấy mật. Chúng tôi đi từ khi trời còn tối, rừng buổi sớm yên tĩnh và mát lạnh lạ thường. Đi một quãng, tôi mệt, tía cho cả bọn ngồi nghỉ. Thằng Cò đố tôi tìm con ong mật, tôi dán mắt nhìn mãi mà chịu thua, phải nhờ tía chỉ mới thấy. Rồi nắng lên, chim hót, bầy kì nhông đổi màu trước mắt, bầy chim trên trảng cỏ tranh bay rợp trời. Tôi muốn hỏi thằng Cò về cái “sân chim” nó vừa nhắc nhưng lại sợ nó chê mình dốt.
Tới chỗ gác kèo, tôi nhớ lại lời má nuôi dặn về cách chọn cây, chọn hướng gió. Tía hun khói, ong bay ào ra như vỡ tổ, thằng Cò bị đốt kêu oai oái. Tôi vội đưa tía nắm cỏ khô để đốt ong thì tía cười, bảo đừng giết chúng. Hôm đó, chúng tôi lấy được đầy hai gùi mật. Ngồi nhìn kèo ong, tôi nhớ những kiểu tổ ong thầy giáo kể và thấy tự hào: chỉ ở U Minh người ta mới gác kèo cho ong về làm tổ.
Tóm tắt tiểu thuyết Đất rừng phương Nam ngắn nhất – mẫu 5
Trong những năm thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ, bé An lạc mất cha mẹ khi chạy giặc. Cậu lưu lạc khắp vùng sông nước miền Tây, được dì Tư Béo rồi gia đình ông lão bán rắn cưu mang. Sống cùng tía nuôi, má nuôi và thằng Cò, An lớn lên giữa rừng U Minh, chứng kiến tinh thần chống giặc của người dân và cuối cùng đi theo những người du kích.
Tóm tắt tiểu thuyết Đất rừng phương Nam ngắn gọn – mẫu 6
Đất rừng phương Nam kể về cuộc đời phiêu bạt của cậu bé An. Sau Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp trở lại đánh chiếm Nam Bộ, An theo ba má chạy hết vùng này sang vùng khác rồi lạc mất gia đình. Ở một xóm chợ, An được dì Tư Béo nhận về giúp việc quán ăn. Tại đây cậu gặp nhiều người, từ anh cán bộ tuyên truyền, lão Ba Ngù đến vợ chồng Tư Mắm – bọn Việt gian. An vô tình biết bí mật của chúng nên phải bỏ trốn. Sau đó, An gặp lại cha con ông lão bán rắn và được nhận làm con nuôi. Những ngày ở rừng U Minh bên tía nuôi, má nuôi và thằng Cò, An được đi câu rắn, lấy mật, gặp chú Võ Tòng gan dạ. Võ Tòng hi sinh vì bị kẻ xấu chỉ điểm. Khi giặc chiếm U Minh Thượng, gia đình An phải dời xuống phía Nam, trải qua nhiều vùng đất. Cuối cùng, An gặp lại dì Tư Béo và đi theo các anh du kích.
Tóm tắt tiểu thuyết Đất rừng phương Nam chi tiết – mẫu 7
Câu chuyện bắt đầu sau ngày độc lập năm 1945. Thực dân Pháp quay lại xâm lược, đánh vào các thành phố Nam Bộ. An cùng ba má bỏ nhà chạy giặc, cứ ở yên được ít hôm thì giặc lại kéo tới. Trong một lần giặc đánh bất ngờ, An lạc mất gia đình và trở thành đứa trẻ lang thang.
Ở một xóm chợ nhỏ, An được dì Tư Béo thương tình cho ở lại, phụ việc trong quán ăn. Quán là nơi tụ tập của đủ hạng người: anh Sáu tuyên truyền, các anh bộ đội, lão Ba Ngù chất phác, cha con ông lão bán rắn đang đi tìm một người tên Võ Tòng, và vợ chồng Tư Mắm buôn mắm dọc kênh rạch. Nhờ đọc được mấy chữ Pháp, An phát hiện vợ chồng Tư Mắm là Việt gian. Bị chúng nghi ngờ, An phải trốn đi, quán của dì Tư cũng bị đốt.
An tiếp tục lưu lạc, rồi gặp lại cha con ông lão bán rắn. Ông nhận An làm con nuôi, An thành anh em với thằng Cò. Tuy nghèo, gia đình nuôi rất thương An. Cậu theo tía và Cò đi câu rắn, đi lấy mật ong trong rừng U Minh – đây chính là chương được trích trong sách Ngữ văn 10 – và được tía dẫn đến lều của chú Võ Tòng, người đàn ông sống cô độc giữa rừng. Sau đó, An còn trải qua cảnh rừng cháy, lần chạm trán với hổ.
Võ Tòng tham gia chống giặc, phục kích diệt tên Việt gian, nhưng rồi bị mụ Tư Mắm chỉ điểm và bị giặc bắn chết. Kẻ phản bội về sau cũng phải đền tội. Khi giặc chiếm U Minh Thượng, gia đình tía nuôi đưa An xuống U Minh Hạ, theo phường săn cá sấu, qua Sóc Miên, sân chim, rừng đước Cà Mau. Tại vùng đất cực Nam, An gặp lại dì Tư Béo, sống giữa những người du kích và cùng họ lên đường chiến đấu.
Kết luận
Khi tóm tắt đoạn trích Đất rừng phương Nam, em cần giữ đủ các sự việc chính theo trình tự: lên đường, nghỉ chân và ngắm rừng, lấy mật (Cò bị ong đốt, tía không cho giết ong), suy ngẫm của An về nghề gác kèo. Kiến thức về tác giả, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật em xem thêm ở các bài dưới đây.
Xem thêm:
- Soạn bài Đất rừng phương Nam (Chân trời sáng tạo)
- Đi lấy mật (Đoàn Giỏi): tóm tắt, đề tài, sơ đồ tư duy
- Phân tích Đi lấy mật, đặc điểm nhân vật An, tía nuôi, Cò
- Những tác phẩm tiêu biểu của Đoàn Giỏi