Câu “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” nay được treo ở trường học, in trên băng rôn, nhắc trong diễn văn, nhưng không nhiều người nhớ tên người viết. Thân Nhân Trung (1418 – 1499), tự Hậu Phủ, là tiến sĩ, văn thần đời Lê Thánh Tông, phó nguyên súy hội Tao đàn, và là người soạn bài kí khắc trên tấm bia tiến sĩ đầu tiên ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám (dựng năm 1484), nơi có câu nói ấy. Đoạn trích bài kí được học ở Ngữ văn 10 với nhan đề Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.
Người làng Nếnh đỗ tiến sĩ khi đã ngoài năm mươi

| Tên, tự | Thân Nhân Trung (申仁忠), tự Hậu Phủ (厚甫) |
| Năm sinh – năm mất | 1418 – 1499 (có tài liệu ghi năm sinh 1419) |
| Quê | Làng Yên Ninh (tục gọi làng Nếnh), phủ Bắc Giang xưa; trước năm 2025 thuộc Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh) |
| Học vị | Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu 1469 (năm Quang Thuận thứ 10) |
| Chức vụ | Hàn lâm viện Thừa chỉ, Đông các Đại học sĩ, Tế tửu Quốc Tử Giám; Thượng thư (bộ Lễ, có tài liệu ghi bộ Lại) |
| Thể loại | Văn bia, thơ chữ Hán, thơ Nôm xướng họa |
| Tác phẩm tiêu biểu | Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1442) và khoa Đinh Mùi (1487); văn bia Chiêu Lăng; thơ trong Quỳnh uyển cửu ca, Hồng Đức quốc âm thi tập |
| Trong SGK | Hiền tài là nguyên khí của quốc gia – Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập một |
Ông đỗ muộn: khoa thi năm Kỷ Sửu (1469), lúc đã ngoài năm mươi tuổi, ông mới đỗ tiến sĩ. Một số tài liệu còn ghi ông đỗ đầu kỳ thi Hội năm ấy. Trước đó cuộc đời ông gần như không để lại dấu vết trong sử sách; có ý kiến cho rằng ông thuộc dòng dõi Thân Thừa Quý, phò mã đời Lý ở Lạng Sơn, nhưng đó chỉ là phỏng đoán. Gần như mọi điều ta biết về ông đều bắt đầu từ năm 1469.
Ba mươi năm làm văn thần của triều Hồng Đức
Ngay sau khi đỗ, ông vào Hàn lâm viện, rồi lần lượt giữ các chức Hàn lâm viện Thừa chỉ, Đông các Đại học sĩ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, tức người đứng đầu nhà học cao nhất nước. Vua Lê Thánh Tông tin dùng ông ở việc văn chương và khoa cử: nhiều khoa thi Đình trong niên hiệu Hồng Đức có ông làm độc quyển, người đọc và xếp hạng bài thi trình vua. Đại Việt sử ký toàn thư, chép việc năm 1496, vẫn ghi đầy đủ chức danh của ông: Hàn lâm viện Thừa chỉ, Đông các Đại học sĩ kiêm Quốc Tử Giám Tế tửu.
Ông cũng là một trong các văn thần được giao biên soạn bộ sách lớn Thiên Nam dư hạ tập (khởi soạn năm 1483), ghi chép điển chế, luật lệ, văn thư của triều đình. Năm 1495, khi Lê Thánh Tông lập hội Tao đàn và tự xưng Tao đàn nguyên súy, Thân Nhân Trung cùng Đỗ Nhuận được cử làm phó nguyên súy, tức người đứng thứ hai trong hội thơ của triều đình, sau nhà vua. Sau khi vua Thánh Tông mất (1497), ông cùng một số đại thần soạn văn bia Chiêu Lăng ghi công đức nhà vua. Ông mất năm 1499, đời Lê Hiến Tông.
Đọc lý lịch ấy sẽ thấy chân dung một người làm việc chữ nghĩa của nhà nước: chấm thi, soạn sách, viết bia, xướng họa. Thơ văn riêng của ông còn lại rất ít; tên ông sống được đến nay chủ yếu nhờ một bài văn bia.
Bài kí trên tấm bia khoa Nhâm Tuất
Năm 1484 (Hồng Đức thứ 15), Lê Thánh Tông cho dựng bia đá khắc tên các tiến sĩ ở Văn Miếu, truy dựng cho các khoa từ năm 1442 trở đi. Khoa đầu tiên được dựng bia là khoa Nhâm Tuất, năm Đại Bảo thứ ba (1442) đời Lê Thái Tông: khoa có 33 người đỗ, trạng nguyên là Nguyễn Trực, trong số người đỗ có Ngô Sĩ Liên, người về sau soạn Đại Việt sử ký toàn thư; giám khảo khoa ấy có Nguyễn Trãi, chỉ ít tháng trước vụ án Lệ Chi Viên. Bài kí cho tấm bia này được giao cho Thân Nhân Trung.
Bài văn bia đề danh có một khuôn khá cố định, và bài của ông theo đúng khuôn ấy:
- Lý do dựng bia: kể việc các vua Lê từ Thái Tổ đến Thánh Tông chăm lo khoa cử nhưng chưa kịp dựng bia.
- Luận về hiền tài: đoạn được trích vào SGK, mở bằng câu khẳng định hiền tài là nguyên khí của quốc gia; nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu.
- Ý nghĩa của tấm bia: các vinh dự khác chỉ rạng rỡ một thời, bia đá thì lưu lâu dài; người tốt lấy đó mà gắng, kẻ xấu lấy đó mà răn.
- Danh sách tiến sĩ: tên, quê quán những người đỗ khoa ấy.
Câu nổi tiếng nhất vì thế không phải là một khẩu hiệu tách rời mà là tiền đề cho một lập luận: vì hiền tài quan trọng như vậy nên phải trọng đãi, và vì phải trọng đãi lâu dài nên mới dựng bia. Cũng bài kí ấy còn nhắc chuyện có người đỗ đạt rồi vì tham của mà hỏng cả thân danh, một chi tiết cho thấy tấm bia vừa để vinh danh vừa để răn. Ông còn soạn bài kí cho bia khoa Đinh Mùi (1487).
Tấm bia khoa Nhâm Tuất là tấm sớm nhất trong số 82 bia tiến sĩ hiện còn ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội), dãy bia ghi các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779. Đứng trước tấm bia ấy hôm nay, người xem đọc được cùng lúc ba lớp thời gian: khoa thi năm 1442, năm dựng bia 1484 và câu văn của Thân Nhân Trung vẫn còn được nhắc đến sau hơn năm trăm năm.
“Nhị Thân phụ tử”: ba đời, bốn tiến sĩ
Người đỗ muộn lại mở đầu cho một dòng khoa bảng. Con thứ của ông là Thân Nhân Vũ (có tài liệu ghi Thân Tông Vũ) đỗ tiến sĩ khoa 1481; cháu nội là Thân Cảnh Vân đỗ Thám hoa khoa 1487 khi mới 25 tuổi; còn con trưởng Thân Nhân Tín đến khoa 1490, năm mươi hai tuổi, mới đỗ tiến sĩ, tức là đỗ sau cả con trai mình. Ba đời, bốn người đỗ đại khoa, đều dưới triều Lê Thánh Tông.
Nhà vua từng có câu thơ nhắc đến hai cha con ông (Thân Nhân Trung và Thân Nhân Vũ), đặt cạnh mười anh em họ Trịnh: câu sau có bốn chữ “Nhị Thân phụ tử”, đại ý hai cha con họ Thân cùng được hưởng ơn vinh (các bản chép khác nhau một chữ ở cuối câu). Thân Nhân Vũ về sau cũng có mặt trong hội Tao đàn.
Bài kí của ông trong chương trình Ngữ văn 10
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (trích bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba) | Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập một, Bài 3: Nghệ thuật thuyết phục trong văn nghị luận | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Tóm tắt · Phân tích |
Bài 3 dùng văn bản này để dạy về nghệ thuật thuyết phục: luận đề nêu ngay đầu đoạn, các luận điểm nối nhau theo quan hệ nhân quả, lời văn trang trọng mà vẫn cụ thể. Khi làm bài, nên ghi đúng: tác giả Thân Nhân Trung, bài kí soạn năm 1484 cho khoa thi năm 1442, nhan đề trong SGK do người biên soạn đặt. Nếu chỉ cần hiểu nghĩa câu nói, có thể đọc nhanh bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia là câu nói của ai.
Những điều chưa rõ về Thân Nhân Trung
Với một người có câu nói được nhắc nhiều như vậy, những gì còn lại về ông lại khá ít. Năm sinh có hai cách ghi, 1418 hoặc 1419; năm mất 1499 được nhiều tài liệu chép, nhưng không rõ tháng ngày. Tác phẩm riêng gần như không còn tập nào, chỉ có các bài văn bia và mấy chục bài thơ xướng họa nằm trong các tập chung của hội Tao đàn.
Ngày nay nhiều trường học, đường phố mang tên ông. Nếu muốn hiểu không khí văn chương triều đình mà ông là một gương mặt chính, có thể đọc thêm về hội Tao đàn trong chân dung vua Lê Thánh Tông, hoặc đặt ông bên những người cùng viết văn nghị luận thời trung đại như Lý Công Uẩn, tác giả Chiếu dời đô.