Viết một truyện kể sáng tạo dựa trên một truyện đã đọc là đề Viết lớp 9 ở cả ba bộ sách: Bài 6 Giải mã những bí mật (tập hai) sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, Bài 4 Con người trong thế giới kì ảo (tập một) sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo và Bài 6 Truyện truyền kì và truyện trinh thám (tập hai) sách Ngữ văn 9 Cánh diều; sách Chân trời sáng tạo còn trở lại kiểu bài này ở Bài 7 Hành trình khám phá sự thật. Bên dưới là những điều sách từng bộ yêu cầu, một dàn ý chung áp dụng cho đề nào cũng được và 11 truyện mẫu tự viết, mỗi truyện xuất phát từ một truyện khác nhau: truyện truyền kì, truyện trinh thám, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn. Các truyện gốc đều là truyện đã đọc trong sách hoặc truyện dân gian quen thuộc; phần sáng tạo (ngôi kể, nhân vật thêm, đoạn viết tiếp) là của người viết.

Yêu cầu của kiểu bài truyện kể sáng tạo dựa trên truyện đã đọc
Truyện kể sáng tạo là văn bản tự sự có hư cấu: người viết dựa vào một truyện đã đọc nhưng không chép lại nó, mà làm ra một phiên bản mới. Cái mới có thể nằm ở nội dung (viết tiếp phần sau, đổi kết thúc, thêm nhân vật, thêm sự việc, chuyển bối cảnh) hoặc ở cách kể (đổi ngôi kể, để một nhân vật phụ lên tiếng, kể từ cuối ngược lên, xen độc thoại). Truyện viết xong phải đứng được một mình: người chưa đọc truyện gốc vẫn hiểu.
| Tiêu chí | Bài viết đạt khi |
|---|---|
| Dựa trên truyện đã đọc | Nhận ra được truyện gốc, nhưng phần lớn câu chữ, chi tiết mới là của em; giữ đúng tính cách nhân vật gốc trừ khi em cố ý đổi và có lí do. |
| Điểm sáng tạo | Có ít nhất một điểm mới rõ ràng: ngôi kể khác, nhân vật mới, đoạn viết tiếp, kết thúc khác hoặc bối cảnh khác. |
| Ngôi kể | Kể bằng giọng “tôi” hay đứng ngoài kể về “họ” đều được, miễn giữ nhất quán; nếu nhập vai, lời kể phải đúng giọng nhân vật ấy. |
| Mở đầu | Cho người đọc biết chuyện xảy ra khi nào, ở đâu, với ai, và điều gì đã khởi động nó. |
| Diễn biến | Chuỗi sự việc sắp xếp hợp lí, có chi tiết tiêu biểu, có đối thoại; nhân vật hiện lên qua xuất thân, dáng vẻ, việc làm, lời ăn tiếng nói và những điều họ nghĩ. |
| Miêu tả, biểu cảm | Có đoạn tả cảnh, tả người; có cảm xúc, suy nghĩ của người kể hoặc nhân vật, đặt đúng chỗ cao trào. |
| Kết thúc | Giải quyết được tình huống hoặc để ngỏ có chủ ý; gợi suy ngẫm, không giảng giải dài. |
| Bộ sách | Vị trí | Điểm cần lưu ý |
|---|---|---|
| Kết nối tri thức | Tập 2, Bài 6 Giải mã những bí mật (trang 30) | Cho phép viết dựa trên một truyện đã đọc (kể cả chuyển thể từ truyện tranh) hoặc tự nghĩ cốt truyện. Bài tham khảo trong sách là một truyện có yếu tố trinh thám. Văn bản đọc cùng bài: Ba chàng sinh viên, Bài hát đồng sáu xu. |
| Chân trời sáng tạo | Tập 1, Bài 4 Con người trong thế giới kì ảo (trang 114) | Đề cho tự chọn đề tài, viết phỏng theo một truyện em đã đọc, dài chừng 1.000 chữ, có đan xen tả và bộc lộ cảm xúc. Sách gợi ý sáng tạo về nội dung (đào sâu hoặc chỉnh lại chủ đề, thêm nhân vật, sự việc, đổi bối cảnh) hoặc về hình thức (đổi ngôi kể, đối thoại, độc thoại). Bài 7 tập hai có thêm đề viết truyện kể sáng tạo với đề tài tự chọn. |
| Cánh diều | Tập 2, Bài 6 Truyện truyền kì và truyện trinh thám (trang 24) | Bài tập: nhập vai Me-ri, người cha dượng hoặc mẹ của Me-ri trong Vụ cải trang bất thành để kể lại phần 3 của văn bản. Mẫu 7 dưới đây làm theo đúng đề này, nhập vai người cha dượng. |
Về độ dài: đề Chân trời sáng tạo gợi ý khoảng 1.000 chữ; khi làm bài trên lớp, thầy cô thường chấp nhận 500–800 chữ. Các truyện mẫu dưới đây dài khoảng 400–800 chữ để dễ học; muốn dài hơn, em mở rộng phần diễn biến bằng đối thoại và miêu tả, đừng kéo dài phần mở đầu.
Dàn ý truyện kể sáng tạo dựa trên một truyện đã đọc
Bước chuẩn bị (ghi ra nháp)
– Truyện gốc: tên truyện, tác giả, tóm tắt trong ba câu.
– Điểm sáng tạo em chọn: đổi ngôi kể? viết tiếp? thêm nhân vật? đổi kết thúc? đổi bối cảnh?
– Thông điệp em muốn gửi: giữ chủ đề cũ, khơi sâu hay nắn lại?
1. Mở đầu truyện
– Lúc nào, ở đâu (kèm một hai nét tả).
– Nhân vật chính, người kể; tình huống khơi ra câu chuyện.
2. Diễn biến truyện
– Chuỗi sự việc xếp theo một trật tự hợp lí (theo thời gian, hoặc bắt đầu từ cuối rồi quay lại).
– Mỗi sự việc có chi tiết tiêu biểu, đối thoại; để nhân vật tự bộc lộ bằng việc họ làm, câu họ nói, điều họ nghĩ.
– Xen miêu tả cảnh, người và biểu cảm ở những chỗ quan trọng; cao trào là nơi cảm xúc đậm nhất.
3. Kết thúc truyện
– Cách giải quyết tình huống, hoặc một kết thúc mở có chủ ý.
– Suy ngẫm gợi ra từ câu chuyện, nói ngắn hoặc gửi vào một hình ảnh.
Mẹo chọn điểm sáng tạo: hỏi xem trong truyện gốc có ai im lặng nhiều nhất. Bé Đản, người cha dượng, con dế, hai cô chị của Sọ Dừa… đều biết nhiều hơn những gì họ nói ra. Cho họ cất lời là cách nhanh nhất để có một câu chuyện mới mà vẫn bám truyện gốc.
Truyện kể sáng tạo từ truyện truyền kì
Mẫu 1: Cái bóng trên vách (bé Đản kể lại Chuyện người con gái Nam Xương)
Năm tôi mười lăm tuổi, cha dẫn tôi ra bến Hoàng Giang thắp hương. Cha đứng rất lâu, không nói gì, chỉ nhìn mặt sông. Tối hôm ấy, ngồi một mình bên ngọn đèn dầu, tôi thấy bóng mình in trên vách đất, và tôi quyết định kể lại câu chuyện mà cả làng Nam Xương đều biết, nhưng chưa ai nghe từ miệng tôi.
Hồi tôi còn bé lắm, nhà chỉ có mẹ, bà nội và tôi. Cha đi lính đánh giặc ở phía nam từ khi tôi còn chưa biết mặt. Bà nội ốm một trận dài rồi mất; mẹ lo thuốc thang, ma chay, một tay gánh cả nhà. Tối nào mẹ cũng ngồi khâu bên đèn. Có lần tôi hỏi cha tôi ở đâu, mẹ cười, chỉ lên cái bóng của mẹ in trên tường, bảo đó là cha Đản: cha đi đâu cũng có hai mẹ con, tối nào cũng về ngồi với con. Từ đó, tối nào tôi cũng chào cái bóng. Mẹ ngồi thì nó ngồi, mẹ đứng thì nó đứng. Tôi tin nó là cha thật, một người cha kiệm lời nhưng không bao giờ bỏ đi.
Rồi một buổi chiều, một người lạ bước vào sân, áo bạc màu, da sạm nắng. Người ta bảo đó là cha tôi. Ông bế tôi lên, tôi khóc thét. Ông dỗ, tôi càng vùng ra, nói rằng cha tôi không phải ông, cha tôi tối nào cũng đến, chỉ ngồi im chứ chẳng bế tôi bao giờ. Tôi nhớ mắt ông lúc ấy: tối sầm lại, như mặt ao khi mây kéo qua. Tôi không hiểu mình vừa nói gì.
Những ngày sau, nhà tôi lạnh như có ai mới mất. Cha mắng mẹ, đập phá. Mẹ khóc, ôm tôi rất chặt, rồi một buổi mẹ tắm gội sạch sẽ, ra bến sông. Người ta không tìm thấy mẹ nữa.
Một đêm, cha ngồi với tôi bên ngọn đèn. Bóng cha đổ lên vách. Tôi reo lên, chỉ vào đó, bảo cha Đản lại đến rồi kìa. Cha quay lại nhìn cái bóng. Tôi chưa bao giờ thấy một người lớn run rẩy như thế. Cha ôm mặt, vai rung lên từng hồi, không ra tiếng.
Mãi sau này tôi mới hiểu hết. Tôi không có lỗi, bà con trong làng bảo vậy. Một đứa trẻ chỉ nói điều nó thấy. Nhưng tôi vẫn nghĩ: nếu hôm ấy tôi nói thêm một câu, rằng cái bóng ấy là của mẹ, thì có lẽ mẹ đã không phải ra sông. Còn cha, ông đã nghe điều ông sợ nghe nhất, chứ không nghe điều tôi thật sự muốn nói.
Năm cha lập đàn giải oan, tôi đứng sát mép nước. Giữa dòng có thứ gì như một chiếc kiệu hoa, rồi tan trong khói sóng. Tôi không chắc mình có thấy mẹ không. Tôi chỉ biết từ đó, mỗi lần thắp đèn, tôi không bao giờ để bóng mình in lên vách. Tôi đặt ngọn đèn ở giữa nhà, để ánh sáng chia đều cho mọi phía.
Mẫu 2: Người thầy ở làng chài (viết tiếp Truyện lạ nhà thuyền chài)
Sau đêm Thất tịch năm ấy, làng chài ven biển Đông chỉ còn lại những mái nhà xiêu và mùi rong mục. Ngọa Vân đã hóa rồng bay đi, để lại cho chồng một gói thuốc và mấy lời hát từ biệt. Thúc Ngư ngồi ở mũi thuyền suốt ba ngày, nhìn về phía chân trời nơi vợ biến mất.
Sáng ngày thứ tư, anh đứng dậy, đi vào làng. Lũ trẻ con mồ côi sau trận nước lớn ngồi co ro dưới gốc phi lao. Một đứa ngước lên hỏi anh bao giờ thì biển hết giận. Thúc Ngư không trả lời được. Anh nhớ ngày xưa cha mẹ bắt đi học, anh cãi rằng sách vở chẳng bắt được con cá nào. Bây giờ anh hiểu, có những điều phải biết chữ mới giữ được: lời dặn của người đi trước, dấu hiệu của con nước, cả tên những người đã mất trong trận lụt.
Thúc Ngư lặn lội lên huyện tìm thầy đồ, xin học. Thầy cười vì người học trò đã ngoài hai mươi, tay chai sần, đọc chữ “nhân” thành chữ “nhập”. Anh vẫn ngồi cuối lớp, ngày học chữ, tối về làng dạy lại cho lũ trẻ trên bãi cát. Không có giấy, anh lấy que vạch lên cát ướt; sóng xóa đi thì viết lại. Bọn trẻ thuộc mặt chữ nhanh lạ thường, như thể con nước cũng biết nhắc bài.
Nhưng Thúc Ngư không chỉ dạy chữ. Anh nhớ gói thuốc của vợ: ai uống sẽ không bao giờ chết đuối. Thuốc chỉ đủ cho một người, và anh đã uống. Anh nghĩ, mình không thể chia thuốc cho cả làng, nhưng có thể chia điều mà thuốc không làm được. Mỗi chiều nước lặng, anh dẫn lũ trẻ ra chỗ nông, dạy chúng nín thở, thả nổi, bơi ngửa. Đứa nào sợ, anh để nó bám vào vai mình. Mùa hè năm sau, cả làng không còn đứa trẻ nào không biết bơi.
Mười năm trôi qua. Thúc Ngư thành “thầy Ngư”, người làng chài đầu tiên viết được tờ đơn xin quan cho đắp kè chắn sóng. Có đêm trăng, anh ngồi trên kè nhìn ra biển, thấy xa xa có vệt sáng uốn lượn như vảy cá. Anh không gọi tên vợ. Anh chỉ giơ cao tấm bảng gỗ có chữ học trò viết, như muốn khoe với người ở dưới sóng: em xem, những đứa trẻ này, biển không cướp được nữa rồi.
Mẫu 3: Tôi là con dế màu tía (con trai Thành kể lại Dế chọi)
Tôi nhớ nhất cái lạnh của nước giếng. Nó không giống nước sông tôi vẫn tắm mùa hè, mà lạnh từ đáy lên, đặc quánh như bóng tối. Trước đó một khắc, tôi còn đứng trong nhà, nhìn con dế lớn mà cha tôi khó nhọc lắm mới bắt được nằm im trong chậu, một cái chân gãy, đầu ngoẹo sang bên. Tôi chỉ định mở nắp ngắm nó một lần. Nó vọt ra, tôi chụp vội, và thế là hết.
Cha tôi tên Thành, làm lí chính ở huyện Hoa Âm, một người hiền lành đến mức không biết đòi ai một đồng tiền. Từ khi trong cung ưa chọi dế, nhà nào ở huyện cũng phải lo nộp dế. Cha không nỡ thu tiền dân, đành bán dần ruộng nhà, lại ngày ngày lặn lội ngoài bờ tường đổ, bụi cỏ hoang, bị đánh đòn vì nộp chậm đến mức không đứng được. Con dế lớn ấy là hi vọng cuối cùng của cả nhà, và tôi đã làm chết nó.
Mẹ tôi tái mặt, mắng tôi một câu. Tôi chạy. Tôi không định nhảy xuống giếng, chỉ là chân tôi cứ chạy đến chỗ không ai nhìn thấy mình.
Khi tỉnh lại, tôi đang đứng trên một bậu cửa, nhưng mọi thứ to lớn kì lạ. Tôi có sáu cái chân, một đôi râu dài, toàn thân màu tía. Tôi nghe thấy tiếng cha thở dài trong nhà, tiếng mẹ khóc khe khẽ bên một đứa trẻ nằm bất động. Đứa trẻ ấy là tôi. Tôi hiểu ngay mình phải làm gì. Tôi kêu thật to để cha nghe thấy, nhảy lên tay áo cha, đậu đúng chỗ cha giơ tay ra.
Cha thất vọng vì tôi nhỏ quá. Người hàng xóm có con dế lừng danh trong thôn cười cha. Nhưng khi hai con dế bị thả vào chậu, tôi nhớ đến những trận đòn trên lưng cha, và tôi lao vào. Tôi thắng. Rồi tôi thắng con này đến con khác. Có lần một con gà mổ xuống, tôi nhảy lên mào nó mà cắn, cả sân cười ồ. Quan huyện dâng tôi lên trên, người ta đem tôi vào tận cung. Ở đó, tôi đánh thắng mọi con dế quý từ khắp nơi gửi tới; nghe tiếng đàn, tôi còn biết nhảy theo nhịp. Vua vui lòng, ban thưởng cho quan, quan lại thưởng cho cha tôi.
Tôi không nhớ mình là dế bao lâu. Chỉ biết một sáng, tôi mở mắt và thấy mái tranh nhà mình, nghe mẹ gọi tên tôi lạc cả giọng. Hơn một năm đã qua. Nhà tôi bây giờ có ruộng, có ngựa, cha mặc áo lành. Người ta khen cha tôi gặp vận may.
Tôi không cãi lại ai. Nhưng mỗi lần thấy người lớn bắt trẻ con đi tìm dế cho vui, tôi lại đứng lặng. Một con dế nhỏ đã cứu được một nhà. Còn bao nhiêu nhà khác ở Hoa Âm, nơi không có đứa trẻ nào hóa được thành dế?
Mẫu 4: Người khách lạ đầu làng (Từ Thức trở về, kể qua mắt một đứa trẻ)
Chiều ấy tôi đang chăn trâu ở gò đầu làng thì thấy một người đàn ông đi tới. Ông mặc áo kiểu lạ, tay áo rộng, vạt áo thêu những bông hoa tôi chưa thấy bao giờ, mặt trẻ mà mắt lại buồn như mắt người già. Ông hỏi tôi đường về nhà họ Từ.
Tôi dẫn ông về xóm trên. Ông đi đến đâu cũng dừng lại nhìn: cây đa đầu làng, giếng nước, cái cổng gạch. Ông bảo giếng này ngày trước có thành đá, cây đa ngày trước chỉ cao ngang mái đình. Tôi nghĩ ông nói nhầm, vì ông nội tôi kể từ hồi ông còn bé, cây đa đã to như bây giờ.
Đến nhà họ Từ, ông hỏi người trong nhà về ông Từ Thức, tri huyện Tiên Du. Cụ già nhất họ ngẫm nghĩ hồi lâu rồi bảo, nghe cha ông kể lại, ngày xưa có một ông tổ làm quan, bỏ quan đi chơi núi, rồi lạc vào núi đã tám mươi năm, tính ra là ông cố ba đời của họ. Người khách đứng sững. Ông lẩm bẩm rằng ông chỉ đi có một năm.
Tối đó, ông ngồi ở hiên đình, tôi mang cho ông bát nước chè. Ông kể với tôi, chắc vì chẳng còn ai khác để kể: ngày còn làm quan, ông đi xem hội hoa mẫu đơn, thấy một cô gái làm gãy cành hoa bị nhà chùa giữ lại, ông cởi chiếc áo cừu đang mặc để chuộc cho cô. Về sau, ông gặp lại cô ở một nơi rất xa, giữa núi và mây, nơi không ai già đi. Ông kể về những bữa tiệc, những tiếng đàn, về người vợ tên Giáng Hương. Rồi ông nhớ nhà, xin về một lần.
– Ta tưởng về để thấy mẹ ta, bạn ta – ông nói. – Hóa ra về để biết rằng không ai còn đợi ta nữa.
Sáng hôm sau, ông không còn ở đình. Người ta bảo thấy ông đi về phía núi. Tôi chạy theo đến tận chân dốc, chỉ nhặt được một cánh hoa khô màu hồng nhạt rơi trên đường. Tôi kẹp nó vào trong sách. Lớn lên, mỗi lần muốn bỏ đi đâu thật xa, tôi lại giở trang sách ấy ra, và tự hỏi: ở chỗ ta sắp đến, liệu có ai đợi ta như ở chỗ ta đang bỏ lại?
Mẫu 5: Lời khai cuối cùng của viên Bách hộ họ Thôi (Chuyện chức phán sự đền Tản Viên)
Ta là viên Bách hộ họ Thôi, người phương Bắc, theo quân sang đánh nước Nam rồi chết trận ở đất Yên Dũng. Bây giờ ta đang ở ngục Cửu U, nơi không có ngày, không có đêm. Ngồi đây lâu, ta chỉ còn biết nghĩ, và nghĩ mãi một câu: vì sao ta thua một gã thư sinh?
Khi ta chết, hồn ta không muốn về quê. Đường về xa, mà quê thì nghèo. Ta thấy trong làng có ngôi đền thờ vị Thổ công, hương khói đều đặn. Ta đuổi ông ta đi, chiếm lấy đền, đội lốt thần mà làm điều ác: dân làng mất gà, mất lợn, nhà nào ốm đau thì phải cúng ta. Ai cũng sợ. Ta tưởng sợ là thứ có thể giữ người ta mãi.
Rồi một hôm, gã Ngô Tử Văn đến. Hắn khấn trời xong là phóng một mồi lửa, thiêu rụi ngôi đền. Cả làng đứng xem, lo thay cho hắn, còn hắn thì không. Ta hiện ra, đội mũ trụ, giả làm một cư sĩ hiền lành, đòi hắn dựng lại đền, dọa sẽ kiện xuống âm phủ. Hắn ngồi đó, mặt không đổi sắc, mặc kệ ta. Đấy là lần đầu tiên ta thấy sự sợ hãi không ăn được vào một người.
Ta kiện thật. Ở Minh ti, ta khóc lóc, tâu rằng mình là thần đất bị kẻ vô lễ phá đền. Ta đã đút lót thần linh quanh vùng, đã quen đường đi lối lại, ta tưởng mình chắc thắng. Nhưng gã thư sinh không chịu cúi đầu. Hắn khai rõ từng việc, và xin Diêm Vương cho người đến đền Tản Viên hỏi chứng. Ta nghe chữ “Tản Viên” mà lạnh cả sống lưng. Ta biết ông Thổ công thật đang nương náu ở đó.
Giấy tờ đến, sự thật rõ ra. Diêm Vương nổi giận, sai giam ta vào ngục này. Ông Thổ công được trở về đền cũ. Còn Ngô Tử Văn, nghe nói sau này được giao chức phán sự ở đền Tản Viên, ngồi xét những việc như việc của ta.
Bây giờ ta đã hiểu. Ta thua không phải vì hắn khỏe hơn, giỏi hơn. Ta thua vì hắn không sợ. Những kẻ như ta sống được nhờ nỗi sợ của người khác; chỉ cần một người đứng thẳng, cái đền ta dựng lên bằng dọa nạt cháy rụi trong một buổi chiều.
Truyện kể sáng tạo từ truyện trinh thám
Mẫu 6: Ba tờ đề trên bàn cô giáo (truyện học đường phỏng theo Ba chàng sinh viên)
Câu chuyện dưới đây xảy ra ở một lớp 9 giả định, trong tuần trước kì thi chọn học sinh giỏi Toán của trường. Tôi là người kể, còn người làm thám tử là Quân, bạn ngồi cùng bàn với tôi, đứa đọc hết bộ Sơ-lốc Hôm từ năm lớp 7.
Chiều thứ Năm, cô Thanh Mai dạy Toán gọi chúng tôi lên phòng tổ chuyên môn. Cô kể, trưa nay cô in đề thi chọn đội tuyển, để trên bàn, rồi xuống căng tin khoảng nửa tiếng. Lúc quay lại, cô thấy cửa phòng khép hờ, ba tờ đề bị xếp lại không đúng thứ tự, trên bàn có mấy vụn tẩy màu hồng và một vết ố tròn như đáy cốc nước. Sáng mai đã thi. Cô có thể in đề khác, nhưng cô muốn biết ai đã vào, và vì sao.
Quân không vội đoán. Cậu đứng ở cửa, nhìn quanh căn phòng như người ta nhìn một bức tranh lạ, rồi chỉ ra ô cửa sổ trông ra hành lang.
– Mép kính cao ngang cằm tớ. Người đứng ngoài mà đọc được tờ đề trên bàn thì phải cao hơn tớ ít nhất một cái đầu.
Cậu cúi xuống vết ố, ngửi rồi nhăn mặt:
– Trà sữa trân châu. Căng tin trường mình đâu có bán thứ này.
Trong lớp có ba bạn được gọi thi đội tuyển và có tiết trống buổi trưa: Đạt cao nhất lớp, chơi bóng rổ; Hoàng nhỏ con, ít nói, bao giờ cũng mang theo một cục tẩy hồng to bằng bao diêm; còn Lâm thì nổi tiếng hay đi muộn, hay cãi, và trưa nào cũng mua trà sữa ở quán ngoài cổng. Ai cũng nghi Lâm. Tôi cũng vậy.
Quân thì im lặng suốt buổi chiều. Cậu hỏi bác bảo vệ xem trưa nay có ai gửi đồ ở phòng bác không, hỏi chị lao công xem đã lau hành lang lúc mấy giờ. Đến tối, cậu nhắn cho tôi đúng một dòng: biết rồi, nhưng mong là mình đoán sai.
Sáng thứ Sáu, Quân xin cô Thanh Mai cho gặp ba bạn trước giờ thi. Cậu nói chậm rãi: cốc trà sữa của Lâm, nhưng người cầm nó vào phòng không phải Lâm, vì trưa qua Lâm bị giữ lại phòng giám thị vì đi muộn, bác bảo vệ còn giữ hộ cốc trà sữa của cậu ấy ở bàn ngoài cổng. Người lấy cốc là người đi ngang qua, cao đủ để thấy tờ đề qua ô kính. Cục tẩy hồng là của Hoàng, nhưng Hoàng cho Đạt mượn từ tiết Văn buổi sáng, cả lớp đều thấy.
Đạt cúi đầu rất lâu. Rồi cậu rút trong cặp ra một tờ giấy đã viết sẵn từ tối qua. Cậu xin rút tên khỏi đội tuyển. Cậu kể, cậu chỉ định nhìn qua, rồi thấy cửa không khóa, rồi tay cứ thế cầm lên. Đọc được nửa đề thì cậu nghe tiếng bước chân, vội xếp lại, đặt cốc xuống bàn quên cả cầm theo.
– Cả đêm qua em không làm nổi bài tập nào – Đạt nói. – Em biết đề rồi, nhưng nếu mai em có giải thì đó đâu phải giải của em.
Cô Thanh Mai thay đề mới. Đạt không thi. Nhưng chiều hôm ấy, tôi thấy cô ngồi với Đạt ở ghế đá rất lâu, và tuần sau Đạt vẫn đến lớp bồi dưỡng như thường.
Trên đường về, tôi hỏi Quân vì sao lại mong mình sai. Cậu đá một hòn sỏi:
– Tìm ra người làm sai thì dễ. Khó là làm sao để người ta còn muốn làm đúng sau đó.
Tôi nghĩ ông Hôm mà nghe câu ấy chắc cũng gật gù.
Mẫu 7: Lời thú nhận của người cha dượng (nhập vai trong Vụ cải trang bất thành)
Tên tôi là Giêm Uyn-đi-banh. Tôi kể chuyện này không phải để ai thương hại, mà vì từ buổi chiều ngồi trong phòng ông Hôm, tôi không ngủ được một đêm nào trọn vẹn.
Tôi lấy mẹ của Me-ri khi bà góa chồng, hơn tôi nhiều tuổi. Me-ri được hưởng một khoản tiền lãi hằng năm từ gia tài người chú để lại. Chừng nào cô còn ở nhà, khoản tiền ấy còn đi qua tay gia đình tôi. Me-ri hiền, dễ tin, và đã đến tuổi người ta tìm tới hỏi cưới. Tôi sợ. Nỗi sợ ấy nghĩ ra một kế mà bây giờ nhớ lại, tôi vẫn thấy mình như một kẻ khác.
Tôi dán ria mép, đeo kính màu, đổi giọng nói thành tiếng thì thầm như người đau họng, rồi xuất hiện trước mặt Me-ri với cái tên Hót-mơ Ên-giô, một nhân viên thu ngân trầm lặng. Vợ tôi biết, và giúp tôi. Me-ri cận thị, lại chưa bao giờ ngờ người cha dượng của mình. Cô yêu “Ên-giô”. Thư gửi cô, tôi gõ hết bằng máy chữ, từ lời lẽ tới tên kí ở cuối, và không bao giờ ghi chỗ ở. Đến ngày cưới, tôi để hai mẹ con lên một cỗ xe, mình lên cỗ xe khác, rồi lẻn xuống ở phía bên kia trước khi xe dừng ở nhà thờ. Tôi đã bắt cô hứa sẽ chung thủy với tôi, dù có chuyện gì xảy ra. Tôi tin cô sẽ đợi mãi, và khoản tiền sẽ ở lại với chúng tôi mãi.
Tôi không ngờ cô tìm đến Sơ-lốc Hôm.
Khi nhận được thư mời, tôi đã cẩn thận đánh máy thư trả lời. Tôi nghĩ một con người không thể đọc được những con chữ in giống hệt nhau. Ông Hôm mời tôi ngồi, giọng nhã nhặn, rồi đặt lên bàn hai lá thư: lá của tôi và lá của “Ên-giô”. Ông chỉ cho tôi thấy chữ “e” mờ nhòe, chữ “r” cụt đuôi, và mấy dấu hiệu nhỏ khác giống nhau đến từng li. Cùng một chiếc máy chữ. Tôi đứng bật dậy định đi, thì ông đã khóa cửa.
Tôi ngồi xuống. Tay tôi lạnh ngắt. Ông Hôm kể lại toàn bộ kế hoạch của tôi, rành mạch như thể ông đã đứng sau lưng tôi suốt mấy tháng. Bác sĩ Oát-xơn nhìn tôi như nhìn một con vật lạ. Tôi chỉ nói được rằng pháp luật không làm gì được tôi. Ông Hôm đồng ý. Nhưng ông bảo, nếu Me-ri có anh em trai, tôi đã phải trả giá, và ông sẽ không để tôi yên nếu còn dám làm hại cô. Rồi ông mở cửa. Tôi chạy xuống cầu thang như chạy khỏi đám cháy.
Tôi thoát được luật pháp. Nhưng tôi không thoát được đôi mắt của Me-ri khi cô đứng ở cửa nhà thờ, ôm bó hoa, chờ một người không bao giờ có thật. Ông Hôm bảo Me-ri có lẽ sẽ không tin nếu ông nói sự thật. Tôi thì nghĩ khác: một ngày nào đó cô sẽ biết. Và từ ngày ấy, tôi sẽ là người duy nhất trong nhà không dám nhìn thẳng vào ai.
Mẫu 8: Đêm tuyết ấy (A-thơ kể lại Chiếc mũ miện dát đá be-rô)
Cha tôi tin rằng tôi đã lấy chiếc mũ miện. Tôi để cha tin như thế, suốt một đêm và một ngày. Đó là thời gian dài nhất đời tôi.
Đêm ấy, tôi không ngủ được, đi xuống nhà dưới. Qua khe cửa, tôi thấy em họ tôi là Me-ry đứng bên cửa sổ, lặng lẽ đưa ra ngoài một vật gì sáng lóe. Ngoài trời, trên nền tuyết trắng, có một bóng đàn ông. Tôi nhận ra hắn: huân tước Gioóc Bơn-queo, kẻ tôi từng dẫn về nhà, kẻ mà cha tôi chưa bao giờ ưa. Vật sáng lóe trong tay Me-ry chính là chiếc mũ miện người ta đem cầm cố cho cha, báu vật mà cả nước Anh biết tiếng.
Tôi chạy ra, chân trần trên tuyết. Bơn-queo bỏ chạy, tôi đuổi kịp, túm lấy vạt áo hắn. Hai chúng tôi giằng co, tôi đánh trúng mắt hắn và giật được chiếc mũ. Có tiếng rắc khẽ. Tôi chạy vào nhà, không biết chiếc mũ đã cong và ba viên đá đã gãy theo tay hắn. Đúng lúc ấy, cha tôi bước xuống cầu thang, thấy tôi cầm chiếc mũ, mặt mày tái nhợt.
Cha gọi tôi là đồ ăn cắp. Tôi há miệng định nói, rồi nhìn lên chỗ Me-ry đứng. Cô ngất đi. Tôi yêu Me-ry từ lâu, dù cô đã từ chối lời cầu hôn của tôi. Nếu tôi nói ra, cô sẽ mang tiếng suốt đời. Thế nên tôi im lặng, và cha gọi cảnh sát.
Sáng hôm sau, ông Sơ-lốc Hôm đến. Ông không hỏi tôi nhiều. Ông đi quanh nhà, cúi xuống những dấu chân còn in trên tuyết: dấu giày của một người đàn ông, dấu chân trần của tôi, dấu ủng của cô hầu gái và người yêu cô ta. Tôi thấy ông lặng lẽ gật đầu, như một người đọc thư.
Một ngày sau, cha tôi đến xin lỗi tôi. Me-ry đã bỏ đi theo Bơn-queo, để lại một lá thư. Ông Hôm đã chuộc lại ba viên đá. Cha ôm tôi, run run nói cha đã sai. Tôi không giận cha. Tôi chỉ thấy lạ: người hiểu tôi nhất trong chuyện này lại là một ông thám tử chỉ gặp tôi có vài phút. Ông đọc được sự thật trên tuyết, còn cha tôi, người nuôi tôi từ lúc lọt lòng, chỉ đọc được những gì cha sợ.
Bây giờ, mỗi mùa đông, khi tuyết phủ trắng khu vườn, tôi lại ra đứng chỗ cửa sổ ấy. Tuyết giữ dấu chân rất lâu. Tôi mong lòng người cũng vậy: giữ lâu những bước chân tử tế, và để những bước chân xấu tan đi cùng mùa xuân.
Truyện kể sáng tạo từ truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn
Mẫu 9: Mị Nương kể chuyện những mùa nước (sáng tạo từ Sơn Tinh, Thủy Tinh)
Năm nào cũng vậy, cứ vào giữa mùa mưa là tôi lại nghe tiếng sóng đập vào chân núi Tản Viên. Người ta gọi đó là Thủy Tinh đánh ghen. Tôi, Mị Nương, con gái vua Hùng thứ mười tám, đã nghe tiếng ấy suốt bao nhiêu mùa, và tôi muốn kể câu chuyện của mình bằng giọng của chính mình, một lần thôi.
Ngày ấy, cha tôi kén rể. Hai chàng trai cùng đến: một người từ núi, một người từ biển. Tôi đứng sau rèm, thấy cả hai đều đẹp, đều tài, và tôi biết mình không được chọn. Cha tôi ra điều kiện bằng một danh sách sính lễ mà người miền núi kiếm dễ hơn: một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao. Trời vừa sáng, người miền núi đã có mặt với đủ lễ vật. Tôi theo chàng về núi.
Tôi chưa kịp ngoái lại thì phía sau đã nổi giông. Mưa trắng trời, nước dâng ngập đồng, cuốn trôi nhà cửa. Tôi thấy những mái tranh nổi lềnh bềnh, những đứa trẻ ôm cột nhà khóc. Chồng tôi đứng trên đỉnh núi, phép thần mạnh mẽ, núi đồi theo tay chàng mà vươn cao chặn sóng. Cuối cùng Thủy Tinh rút đi. Người ta mở hội mừng. Tôi cũng mừng, nhưng lòng tôi nặng trĩu.
Vì tôi biết, trận nước ấy không phải lỗi của những người dân dưới đồng. Họ không kén rể, không đem sính lễ, không thắng hay thua ai. Họ chỉ ở đó, và gánh lấy cơn giận của người khác.
Từ đó, mỗi năm nước lên, tôi không đứng trên núi nhìn xuống nữa. Tôi xin chồng cho tôi xuống đồng cùng dân làng đắp đê, khiêng đá. Tôi dạy các cô gái cách buộc bè chuối, dạy trẻ con nhận ra mùi đất trước mưa lớn. Sơn Tinh bảo tôi là công chúa, không cần làm vậy. Tôi trả lời: chính vì tôi là lí do của trận nước đầu tiên, nên tôi phải là người đứng ở hàng đầu.
Đến nay, Thủy Tinh vẫn chưa nguôi. Nhưng mỗi mùa nước, những con đê lại dày thêm một chút, người ta lại biết thêm một cách giữ nhà. Có lẽ đó mới là chiến thắng thật sự: không phải núi cao hơn sóng, mà người biết đứng cạnh nhau trước sóng.
Mẫu 10: Năm ông thầy bói gặp lại con voi (viết tiếp Thầy bói xem voi)
Mười năm sau buổi cãi nhau to ở chợ, năm ông thầy bói lại tình cờ gặp nhau dưới gốc đa đầu huyện. Ông nào cũng đã bạc tóc, vết sẹo hôm đánh nhau vẫn còn trên trán ông thầy sờ vòi. Vừa lúc ấy, có tiếng chuông lục lạc: một con voi đi qua.
Ông sờ ngà cười khà khà:
– Lần này ta không đánh nhau nữa. Ai sờ chỗ nào cứ nói chỗ ấy, rồi ghép lại xem sao.
Cả năm ông đồng ý. Ông thứ nhất sờ vòi, bảo nó sun sun như con đỉa. Ông thứ hai sờ ngà, bảo nó chần chẫn như cái đòn càn. Ông thứ ba sờ tai, nói bè bè như cái quạt thóc. Ông thứ tư ôm chân, bảo sừng sững như cái cột đình. Ông cuối cùng nắm đuôi, kêu tun tủn như cái chổi sể cùn.
Lần này, không ai bảo ai sai. Họ ngồi xuống, vẽ lên đất: một cái cột, rồi bốn cái cột, trên đặt cái quạt thóc, phía trước một con đỉa dài, hai bên hai cái đòn càn, phía sau một cái chổi. Vẽ xong, ông sờ chân vuốt râu, lắc đầu bảo con vật này kì quá, chẳng giống thứ gì.
Một cậu bé chăn trâu đứng xem nãy giờ bật cười. Cậu bảo các ông ghép đúng hết, chỉ thiếu một điều: con voi to hơn tất cả những gì các ông sờ được. Nó còn có cái lưng rộng như cái phản, có đôi mắt hiền, có tiếng kêu vang cả bến sông, mà chẳng ai trong các ông chạm tới. Năm ông lặng người. Rồi ông sờ vòi chậm rãi nói:
– Thì ra mười năm trước, cái sai không phải vì ta sờ nhầm, mà vì ta tưởng chỗ mình sờ là cả con voi.
Từ đó, mỗi lần có người tìm đến xem bói hay hỏi chuyện đời, năm ông đều dặn thêm rằng cái mình biết là thật nhưng chưa phải là tất cả; muốn thấy hết, hãy hỏi thêm người đứng ở chỗ khác. Người làng bảo, từ bao giờ không biết, năm ông thầy bói ấy xem bói kém đi mà nói chuyện lại hay hơn.
Mẫu 11: Lời người chị cả (sáng tạo từ cổ tích Sọ Dừa)
Người ta kể chuyện Sọ Dừa, ai cũng thương cô em út tôi, ghét hai chị. Tôi là chị cả. Tôi không xin ai thương mình. Tôi chỉ muốn kể vì sao một người chị lại có thể đẩy em mình xuống biển.
Ngày Sọ Dừa đến nhà tôi chăn bò, tôi chê cậu ta xấu, chẳng ra hình người, cứ lăn lông lốc như cái sọ dừa. Tôi sai cậu ta, mắng cậu ta, như cách người ta vẫn đối xử với một đứa ở. Chỉ có cô em út mang cơm cho cậu ta tử tế. Rồi một hôm, cậu ta đòi cưới con gái phú ông. Cả nhà cười. Cha tôi thách cưới thật nặng, tưởng cậu ta sẽ bỏ đi. Vậy mà sính lễ mang đến đủ cả.
Tôi từ chối, em thứ hai từ chối, em út nhận lời. Hôm cưới, Sọ Dừa hiện ra là một chàng trai khôi ngô. Tôi đứng sau nhà, lòng như có lửa. Không phải vì tôi tiếc chàng trai ấy. Mà vì tôi đã đánh giá sai một con người, và vì người được hưởng phần thưởng lại là đứa em tôi vẫn coi là khờ khạo nhất.
Lòng ghen làm người ta mù hơn cả sự xấu xí. Khi chồng em út đi sứ, tôi và em hai rủ em út đi chơi thuyền, ra tới chỗ nước sâu thì xô em xuống. Nước khép lại trên mái tóc em rất nhanh. Tôi tưởng mình sẽ nhẹ nhõm. Không, tôi chưa ngủ yên một đêm nào sau đó.
Rồi em út trở về, còn sống, đứng cạnh chồng trong bữa tiệc mừng. Em không nói một lời trách móc. Chính sự im lặng ấy làm tôi xấu hổ hơn trăm câu mắng. Tôi bỏ đi ngay đêm đó, đi thật xa, đến nơi không ai biết mình là ai.
Bây giờ tôi đã già. Tôi ngồi đây, ở một làng chài lạ, kể chuyện này cho những người trẻ còn chịu nghe một bà già lắm lời: đừng nhìn ai bằng cái vỏ ngoài, và đừng để lòng ghen tị dẫn tay mình làm điều không thể rút lại.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi hay gặp | Sửa thế nào |
|---|---|
| Kể lại gần nguyên truyện gốc, chỉ đổi “tôi” thành tên nhân vật. | Xác định trước điểm sáng tạo; truyện gốc chỉ là cái nền, phần chính phải là điều truyện gốc chưa kể (suy nghĩ của nhân vật phụ, đoạn sau kết thúc, một bối cảnh mới). |
| Đổi ngôi kể nhưng giọng kể không đổi: bé Đản nói như người lớn, kẻ xấu tự khen mình hết lời. | Hình dung nhân vật ấy bao nhiêu tuổi, biết gì và không biết gì vào lúc kể; chỉ để họ kể những điều họ có thể biết. |
| Làm sai lệch nhân vật gốc mà không có lí do (Ngô Tử Văn sợ hãi, Sơ-lốc Hôm đoán bừa). | Giữ tính cách cốt lõi; nếu muốn đổi, để sự thay đổi có nguyên nhân trong truyện. |
| Thiếu miêu tả, biểu cảm, chỉ có sự việc nối tiếp. | Ở mỗi sự việc chính, thêm một chi tiết nhìn thấy được (vết ố trên bàn, dấu chân trên tuyết) và một câu cảm xúc của người kể. |
| Kết thúc bằng một đoạn giảng đạo đức dài. | Gửi bài học vào một hình ảnh hoặc một câu nói của nhân vật; một hai câu là đủ. |
| Chép lời văn trong sách, chép truyện mẫu trên mạng. | Gấp sách lại, kể theo dàn ý của mình; chỉ giữ tên riêng và vài chi tiết đặc trưng của truyện gốc. |
| Truyện trinh thám không có manh mối, thủ phạm lộ ra bất ngờ không lí do. | Cài manh mối từ đầu (một vật, một lời nói), cho người đọc cơ hội đoán, rồi để thám tử giải thích bằng lập luận. |
Gợi ý bài nói: kể lại truyện sáng tạo của em
- Mở đầu bằng một câu hỏi gây tò mò về truyện gốc (chẳng hạn hỏi các bạn đã bao giờ nghĩ con dế trong Dế chọi muốn nói gì chưa), rồi giới thiệu điểm sáng tạo của mình.
- Không đọc thuộc lòng bài viết; kể theo các mốc sự việc ghi trên một tấm thẻ nhỏ.
- Đổi giọng ở lời thoại của từng nhân vật, ngừng một nhịp trước chi tiết bất ngờ.
- Kết thúc bằng câu hỏi dành cho người nghe hoặc một câu nói ngắn của nhân vật, rồi mời các bạn nhận xét điểm sáng tạo.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Học sách Chân trời sáng tạo với chủ đề truyện kì ảo, em đọc kĩ Mẫu 1 đến Mẫu 5: có truyện đổi ngôi kể (Mẫu 1, 3, 5), có truyện viết tiếp (Mẫu 2), có truyện thêm nhân vật mới (Mẫu 4). Học sách Kết nối tri thức với chủ đề trinh thám, Mẫu 6 cho thấy cách mượn lối quan sát, loại trừ của ông Hôm để dựng một vụ việc mới ở trường. Học sách Cánh diều, Mẫu 7 làm đúng bài tập nhập vai trong Vụ cải trang bất thành; em có thể thử viết lại cùng phần truyện ấy bằng giọng của Me-ri hoặc mẹ Me-ri. Mẫu 10 và Mẫu 11 ngắn, hợp để luyện viết trong một tiết.
Đề cuối kì không chỉ hỏi về một văn bản mà còn kiểm tra cả tiếng Việt và kĩ năng viết; đề cương ôn tập học kì II văn 9 Cánh diều tổng hợp đủ các phần ấy.
Xem thêm:
- Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương
- Soạn bài Truyện lạ nhà thuyền chài (Lê Thánh Tông)
- Soạn bài Sơn Tinh – Thủy Tinh (Nguyễn Nhược Pháp)
- Soạn bài Ba chàng sinh viên (Cô-nan Đoi-lơ)
- Soạn bài Vụ cải trang bất thành (Cô-nan Đoi-lơ)
- Soạn bài Chiếc mũ miện dát đá be-rô (Cô-nan Đoi-lơ)
- Soạn bài Ngôi mộ cổ (Phạm Cao Củng)
- Hóa thân thành bé Đản kể lại Chuyện người con gái Nam Xương
- Đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích (lớp 6)