Năm 1960, ở căn cứ Tỉnh ủy Khánh Hòa dưới chân núi Hòn Dù, một cán bộ ba mươi mốt tuổi nhận tin vợ con bị bắt và thủ tiêu, rồi ngồi viết một mạch bài thơ về người con gái làng mình. Người ấy là Giang Nam (1929 – 2023), tên thật Nguyễn Sung, nhà thơ quê Ninh Hòa, Khánh Hòa; bài thơ là Quê hương, với câu kết mà nhiều thế hệ học trò thuộc lòng. Cái tin dữ hôm ấy hóa ra không đúng, nhưng phải hơn một năm sau ông mới biết.
Nguyễn Sung, làng Bình Trị và bốn bút danh

| Tên khai sinh | Nguyễn Sung |
| Bút danh | Giang Nam; ngoài ra Châu Giang, Hà Trung, Lê Minh |
| Năm sinh – năm mất | 2/2/1929 – 23/1/2023 (mùng 2 Tết Quý Mão) |
| Quê quán | Làng Bình Trị, xã Ninh Bình, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa (địa danh cũ) |
| Thể loại | Thơ, trường ca, truyện ngắn, hồi ký |
| Tác phẩm tiêu biểu | Bài thơ Quê hương (1960); các tập Quê hương, Hạnh phúc từ nay (1978), Thành phố chưa dừng chân (1985); trường ca Người anh hùng Đồng Tháp (1969) |
| Giải thưởng | Giải Nhì cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ 1961; Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu; Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật (đợt I, 2001) |
| Trong SGK | Quê hương từng được dạy trong nhà trường, nay không còn trong chương trình |
Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo ở vùng quê Ninh Hòa. Cái tên Giang Nam xuất hiện từ tháng 5/1948, khi chàng trai mười chín tuổi về làm báo Thắng của Ty Thông tin Khánh Hòa; người Khánh Hòa vẫn nhắc ông là thư ký tòa soạn đầu tiên của tờ báo này, tiền thân của Báo Khánh Hòa. Báo Thanh Niên kể ông chọn bút danh vì mê câu thơ “Trăng đêm Dương Tử mây chiều Giang Nam” của Hồ Dzếnh, nhưng chi tiết ấy chưa thấy nguồn thứ hai.
Ba bút danh còn lại gắn với một giai đoạn khác hẳn, khi ông phải viết dưới tên người khác.
Những năm sống bằng tên giả (1954 – 1959)
Ông tham gia cách mạng từ năm 1945 (Tin buồn của gia đình ghi tháng 3, hồ sơ của Bảo tàng Văn học ghi tháng 8) và vào Đảng năm 1948. Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước, nhiều người tập kết ra Bắc; Giang Nam ở lại Khánh Hòa. Năm 1956, ông cưới bà Phan Thị Chiều, người Cửa Bé (Vĩnh Trường, Nha Trang). Đám cưới ở Lạc An chỉ có ít bánh kẹo và nước trà. Hôm sau, vợ về Vĩnh Trường hoạt động hợp pháp, chồng về căn cứ Đá Bàn.
Có lúc ông mang tên Nguyễn Sớm, làm thuê cho một xưởng cưa phía nam cầu Hà Ra; có lúc ở Biên Hòa, vợ bán bánh bò ngoài chợ, chồng làm thuê cho thầu khoán. Ông vẫn viết. Những bài ký tên Châu Giang, Hà Trung, Lê Minh đăng trên các báo công khai ở Nha Trang, Sài Gòn thời 1956 – 1959, kín đáo nói về kháng chiến và hòa bình. Theo báo Người Lao Động, tờ Gió Mới ở Nha Trang in bài kêu gọi hòa bình của “Lê Minh” được hơn mười số thì bị đóng cửa. Năm 1959, truyện ngắn Những người thợ đá của ông được giải Ba trên báo Thống Nhất.
Một giờ viết Quê hương dưới chân núi Hòn Dù
Năm 1960, đang ở căn cứ Tỉnh ủy dưới chân núi Hòn Dù, Giang Nam nhận tin vợ và con gái bị bắt rồi bị thủ tiêu. Kể với báo Tuổi Trẻ năm 2019, ông nói đã viết Quê hương trong tâm trạng tưởng mất hết tất cả; Báo Khánh Hòa ghi bài thơ xong trong chừng một tiếng, hồi ức đăng trên trang Hội Nhà văn thì nói ông viết một mạch, không xóa sửa.
Bài thơ đi theo ba chặng đời một cô gái: cô bé nhà bên cười khúc khích khi cậu học trò trốn học bị mẹ bắt, cô du kích gặp lại giữa cuộc hành quân, rồi người con gái bị giặc bắn. Hỏi cô bé ấy là ai, ông trả lời gọn: “Đó là vợ tôi”. Ông cũng cho biết không thể viết thẳng là vợ mình vì sẽ lộ, nên trong hình ảnh ấy có cả những cô du kích khác ông từng gặp. Bốn câu kết là chỗ cả bài dồn lại:
Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi…
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi.
Năm 1961, bài thơ được giải Nhì cuộc thi thơ của tạp chí Văn nghệ và lan ra miền Bắc. Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu phổ nhạc. Đọc lại đủ cả bài trong tuyển tập thơ Giang Nam.
Cuối năm 1961: vợ con vẫn còn sống
Tin dữ năm 1960 là tin sai. Cuối năm 1961, khi đã lên căn cứ ở Củ Chi, Giang Nam mới biết vợ và con còn sống, chỉ bị bắt giam. Ông viết tiếp Ngày mai đi đón em và Con còn sống. Nơi bà Chiều bị giam được kể khác nhau (nhà tù ở Sài Gòn, Phú Lợi, Chí Hòa), thời điểm hai người gặp lại cũng vậy: vài báo ghi năm 1973 ở Củ Chi, còn chính ông kể với Tuổi Trẻ rằng gia đình chỉ đoàn tụ hẳn sau ngày 30/4/1975. Báo Người Lao Động kể bà đã đọc bài thơ của chồng ngay trong tù.
Câu chuyện ấy giải thích vì sao Quê hương được đọc như một bài thơ tình hơn là bài thơ chiến đấu: nó viết về nỗi đau riêng của một người chồng, kể bằng giọng kể chuyện mộc mạc, có chen những lời ngoài lề trong ngoặc đơn như người đang nói chuyện. Lối viết giản dị, đậm tự sự ấy được phân tích kỹ hơn ở bài phong cách sáng tác của Giang Nam.
Từ Văn nghệ Giải phóng đến ghế Phó Chủ tịch tỉnh
Năm 1963, ông được điều về Trung ương Cục miền Nam, làm Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam kiêm Tổng biên tập báo Văn nghệ Giải phóng, đồng thời là Ủy viên Ban Tuyên huấn khu Sài Gòn – Gia Định. Cuối năm 1977, Văn nghệ Giải phóng sáp nhập vào tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam; Giang Nam làm Tổng biên tập tuần báo này từ 1978 đến 1980. Như vậy ông từng đứng đầu cả hai tờ báo văn nghệ lớn nhất của hai miền, ở hai thời điểm khác nhau.
| Thời gian | Công việc |
|---|---|
| 1948 | Thư ký tòa soạn báo Thắng (Ty Thông tin Khánh Hòa) |
| Từ 1963 | Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam, Tổng biên tập Văn nghệ Giải phóng |
| 1978 – 1980 | Tổng biên tập tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) |
| Khóa II, III | Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Trưởng ban Đối ngoại |
| Khóa VI | Đại biểu Quốc hội |
| 1984 – 1989 | Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Phú Khánh, rồi Khánh Hòa |
| 1989 – 1993 | Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa |
Những năm cuối đời ông sống ở Nha Trang, trong căn nhà trên đường Yersin.
Sáu mươi năm cầm bút: thơ, trường ca, hồi ký
Tập đầu tay Thơ Giang Nam in năm 1949. Sau đó là Tháng Tám ngày mai (1962), tập Quê hương (Bảo tàng Văn học ghi năm 1965, Wikipedia ghi 1962), Vầng sáng phía chân trời (1975 theo Bảo tàng Văn học, có nơi ghi 1978), Hạnh phúc từ nay (1978), Thành phố chưa dừng chân (1985), Thơ với tuổi thơ (2001), Lắng nghe thời gian (2008) và Tuyển tập thơ Giang Nam (2013).
Ông viết nhiều trường ca: Người anh hùng Đồng Tháp (1969), Ánh chớp đêm giao thừa (1998), Sông Dinh mùa trăng khuyết (2002). Mảng văn xuôi ít người nhắc hơn: Vở kịch cô giáo (1962) dù tên nghe như kịch nhưng là một tập truyện ngắn, rồi Người Giồng Tre (1969), truyện ký Trên tuyến lửa (1984), Rút từ sổ tay chiến tranh (1987), và hai cuốn hồi ký Tôi đã học văn theo kiểu của mình (1995), Sống và viết ở chiến trường (2004). Ngoài Quê hương, các bài Nghe em vào đại học và Tiếng nói Việt Nam cũng từng được dạy ở nhà trường.
Năm 2013, bà Chiều mất. Ông viết bài Cám ơn em, cám ơn mùa xuân để tiễn người vợ đã đi cùng mình qua cả bài thơ nổi tiếng nhất.
Quê hương trong sách giáo khoa cũ và một “Giang Nam” khác ở Ngữ văn 7
Sau giải thưởng năm 1961, Quê hương được đưa vào sách giáo khoa và dạy trong nhiều năm. Qua các lần đổi sách, bài thơ không còn trong chương trình phổ thông; nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nhận xét bài thơ vẫn sống trong trí nhớ nhiều thế hệ dù đã ra khỏi sách. Hai sự trùng tên dễ làm học sinh lẫn:
| Văn bản | Tác giả | Sách | Trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Quê hương (“Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường”) | Nhà thơ Giang Nam | Sách giáo khoa cũ, nay không còn trong chương trình | Tuyển tập thơ Giang Nam |
| Quê hương (“Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới”) | Tế Hanh | Ngữ văn 7 Kết nối tri thức, Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo và Cánh diều | Soạn bài Quê hương (Tế Hanh) |
| Cách gọt củ hoa thủy tiên | Giang Nam (tác giả bài báo trên Nhân Dân điện tử, 31/1/2021) | Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo, tập hai, Bài 8 | Tác giả, tác phẩm · Soạn bài |
Người ký tên Giang Nam dưới bài báo về thú gọt thủy tiên của người Hà Nội đăng năm 2021 chưa có tài liệu nào xác nhận là nhà thơ Khánh Hòa, khi ấy đã ngoài chín mươi tuổi; học sinh không nên đồng nhất hai người.
Giải thưởng Nhà nước 2001 và chuyện Giải thưởng Hồ Chí Minh
Tập thơ Quê hương nhận Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Năm 2001, ông được Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt I, theo Bảo tàng Văn học là cho ba tập Quê hương, Hạnh phúc từ nay, Thành phố chưa dừng chân. Ông còn được tặng Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất cùng nhiều huân, huy chương khác.
Giải thưởng Hồ Chí Minh thì ông không nhận được. Năm 2018, báo Người Lao Động ghi ông tự thấy mình chưa đủ tiêu chuẩn để làm hồ sơ. Năm 2022, tỉnh Khánh Hòa đề nghị xét đặc cách; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trả lời luật không có hình thức này và đợt xét năm 2021 đã xong. Vài tháng sau, ông mất.
Ra đi ngày mùng 2 Tết Quý Mão
Giang Nam mất sáng 23/1/2023, tức mùng 2 Tết Quý Mão, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa, thọ 94 tuổi, an táng ở nghĩa trang Phước Đồng, Nha Trang. Tiễn ông, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều viết rằng ông “sống hiền như cây, kiên định như cây, mạnh mẽ như cây và nở hoa kết trái như cây trong gió bão”. Năm 2025, tỉnh Khánh Hòa trình đề xuất đặt tên đường Giang Nam ở thị xã Ninh Hòa, quê ông.
Nếu chỉ đọc một bài của ông, hãy đọc Quê hương cùng câu chuyện phía sau: một bài thơ khóc vợ được viết khi người vợ ấy vẫn đang sống trong tù, và ông phải mất hơn một năm mới biết điều đó.