Ôn tập giữa học kì 2 là Bài 27 trong sách Tiếng Việt lớp 2 Cánh diều tập 2, trang 73–79, gồm 10 tiết. Bài giải đi lần lượt từ Tiết 1, 2 đến Tiết 9, 10, có gợi ý trả lời mọi câu hỏi, cách kể chuyện Bác sóc đãng trí và đoạn văn mẫu viết về đồ vật, đồ chơi em yêu thích.

Tuần ôn tập giữa học kì 2 gồm những gì?
SGK gọi phần này là “Đánh giá và luyện tập tổng hợp”. Các tiết gồm:
- Tiết 1 đến tiết 8: mỗi đợt 2 tiết. Phần A là đọc thành tiếng hoặc đọc thuộc lòng bài đã học. Phần B là đọc bài mới và làm bài tập: bài thơ Con vỏi con voi (tiết 3, 4), bài văn Cây đa quê hương (tiết 5, 6), nghe kể chuyện Bác sóc đãng trí và luyện đặt dấu chấm (tiết 7, 8).
- Tiết 9, 10 (bài luyện tập đánh giá kĩ năng đọc hiểu và viết): đọc thầm bài thơ Luỹ tre rồi làm bài tập; nghe – viết bài thơ Hoa đào, hoa mai; viết 4 – 5 câu về một đồ vật, đồ chơi.
Kiến thức được ôn: đặt câu hỏi cho bộ phận câu (Thế nào?, Làm gì?, Cái gì?), câu hỏi Khi nào?, Ở đâu?, mẫu câu Ai thế nào?, dấu chấm và cách viết hoa chữ đầu câu.
Tiết 1, 2: Đọc thành tiếng, học thuộc lòng (trang 73)
Yêu cầu của SGK: “Mỗi học sinh đọc một đoạn văn, đoạn thơ khoảng 60 tiếng hoặc đọc thuộc lòng một đoạn thơ (bài thơ) đã học.”
Em ôn lại 16 bài đọc từ Bài 19 đến Bài 26 của tập 2:
| Bài | Bài đọc 1 | Bài đọc 2 |
| Bài 19 | Đàn gà mới nở | Bồ câu tung cánh |
| Bài 20 | Con trâu đen lông mượt | Con chó nhà hàng xóm |
| Bài 21 | Tiếng vườn | Cây xanh với con người |
| Bài 22 | Mùa lúa chín | Chiếc rễ đa tròn |
| Bài 23 | Chim én | Chim rừng Tây Nguyên |
| Bài 24 | Bờ tre đón khách | Chim sơn ca và bông cúc trắng |
| Bài 25 | Sư tử xuất quân | Động vật “bế” con thế nào? |
| Bài 26 | Hươu cao cổ | Ai cũng có ích |
Cách ôn hiệu quả:
- Mỗi ngày đọc to 2 – 3 bài; chọn đoạn khoảng 60 tiếng, đọc rõ từng tiếng, ngắt hơi ở dấu phẩy, nghỉ ở dấu chấm.
- Với bài thơ đã học thuộc lòng (9 dòng đầu Con trâu đen lông mượt, 10 dòng đầu Bờ tre đón khách…), em đọc lại cho thật trôi chảy.
- Tập trả lời một câu hỏi ngắn về đoạn vừa đọc, vì thầy cô thường hỏi thêm sau khi em đọc.
Các bài đọc học kì 1 em có thể xem lại ở Ôn tập giữa học kì 1 lớp 2 Cánh diều và Ôn tập cuối học kì 1 lớp 2 Cánh diều.
Tiết 3, 4: Đọc và làm bài tập – Con vỏi con voi (trang 73–74)
Phần A giống tiết 1, 2. Phần B: đọc đoạn trích bài thơ Con vỏi con voi của nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn. Bài có 5 khổ, mỗi khổ 4 dòng, mỗi dòng 5 chữ. Khổ 1: mời bạn nhỏ ở Thủ đô ra công viên xem voi để biết rừng là thế nào. Các khổ sau giải thích một cách vui nhộn vì sao voi có vòi, da dày, tai to, ngà dài và có đuôi. SGK giải nghĩa: chửa biết là chưa biết.
Câu 1 (trang 74): Đọc các khổ thơ 2, 3, 4 và cho biết:
a) Mỗi khổ thơ nói về những bộ phận nào của con voi?
b) Bộ phận ấy có đặc điểm gì?
c) Theo tác giả, vì sao bộ phận ấy có đặc điểm như vậy?
Trả lời:
| Khổ thơ | a) Bộ phận | b) Đặc điểm | c) Vì sao (theo tác giả) |
| Khổ 2 | Vòi | dài, khoẻ, bẻ gãy cành cây dễ dàng | vì rừng có rất nhiều cây mọc chen chúc, voi cần vòi để dọn đường |
| Khổ 3 | Da, chân | da rất dày; chân giẫm lên gì cũng nát | vì đường rừng nhiều gai, lòng suối nhiều đá sắc |
| Khổ 4 | Tai, ngà | tai to như cái quạt; ngà dài | tai để quạt đuổi muỗi rừng; ngà để chống lại kẻ ác trong rừng |
Câu 2 (trang 74): Đọc khổ thơ 5 và cho biết:
a) Theo tác giả, vì sao con voi có đuôi?
b) Qua cách giải thích của tác giả, em thấy con voi giống ai?
c) Em có cách giải thích nào khác không?
Trả lời:
- a) Theo tác giả, rừng vắng vẻ quá, voi cũng thấy buồn, nên voi có cái đuôi để làm đồ chơi.
- b) Con voi giống một em bé: cũng biết buồn, cũng thích có đồ chơi cho vui.
- c) Em có thể giải thích khác, ví dụ: voi vẫy đuôi để đuổi ruồi, muỗi bám vào người; voi con còn nắm đuôi mẹ bằng vòi để đi theo mẹ khỏi bị lạc.
Câu 3 (trang 74): Dựa vào bài thơ, nói 3 – 4 câu tả con voi.
Trả lời: Ví dụ: Con voi to lớn như một ngôi nhà nhỏ. Nó có cái vòi dài, khoẻ, bẻ cành cây dễ như không. Da voi dày, bốn chân to như bốn cột nhà, đi đến đâu đất rung đến đó. Đôi tai voi phe phẩy như hai chiếc quạt, còn cặp ngà thì dài và trắng muốt.
Câu 4 (trang 74): Nghe – viết: Con vỏi con voi (2 khổ thơ đầu)
Trả lời: Em viết 8 dòng thơ của khổ 1 và khổ 2. Chú ý: viết hoa chữ đầu dòng và tên riêng Thủ đô; cuối dòng 4 có dấu hai chấm, cuối khổ 2 có dấu chấm; viết đúng dấu ba chấm và dấu ngoặc kép quanh tiếng “rắc”. Tiếng dễ sai: chửa (dấu hỏi), xúm xít (x), vướng (ươ), bẻ (dấu hỏi).
Tiết 5, 6: Đọc và làm bài tập – Cây đa quê hương (trang 74–76)
Bài văn viết theo Nguyễn Khắc Viện, gồm 3 đoạn: đoạn 1 nói cây đa gắn với tuổi thơ của tác giả; đoạn 2 tả thân, cành, ngọn, rễ cây đa và tiếng gió trong vòm lá; đoạn 3 tả cảnh đồng quê buổi chiều nhìn từ gốc đa.
Từ ngữ SGK giải nghĩa: Cổ kính: cũ và có vẻ đẹp trang nghiêm. Chót vót: (cao) vượt lên hẳn những vật xung quanh. Lững thững: (đi) chậm, từng bước một.
Câu 1 (trang 75): Câu văn nào cho biết cây đa đã sống rất lâu?
Trả lời: Đó là câu mở đầu bài, bắt đầu bằng “Cây đa nghìn năm…” (cả đoạn 1 chỉ có một câu này), câu cho biết cây đa đã ở bên các bạn nhỏ từ thuở ấu thơ. Hai chữ nghìn năm cho thấy cây đa đã sống rất lâu.
Câu 2 (trang 75): Các bộ phận của cây đa được tả bằng những hình ảnh nào? Ghép đúng:
a) Thân cây – b) Cành cây – c) Ngọn cây – d) Rễ cây
1) lớn hơn cột đình – 2) chót vót giữa trời xanh – 3) chín, mười đứa trẻ ôm không xuể – 4) nổi lên mặt đất thành những hình thù quái lạ, như những con rắn hổ mang
Trả lời: a – 3 (thân cây to, chín, mười đứa trẻ ôm không xuể); b – 1 (cành to hơn cả cột đình); c – 2 (ngọn cao vút lên giữa trời); d – 4 (rễ nổi lên mặt đất, ngoằn ngoèo như rắn hổ mang).
Câu 3 (trang 76): Ngồi hóng mát dưới gốc đa, tác giả và bạn bè còn thấy những cảnh đẹp nào của quê hương?
Trả lời: Các bạn nhỏ còn thấy cánh đồng lúa chín vàng gợn sóng; xa xa, đàn trâu thong thả đi về; bóng sừng trâu in dài trên ruộng đồng yên ả trong nắng chiều.
Câu 4 (trang 76): Đặt câu hỏi cho bộ phận câu in đậm:
a) Lúa vàng gợn sóng.
b) Cành cây lớn hơn cột đình.
c) Đám trẻ ngồi dưới gốc đa hóng mát.
Trả lời:
- a) Lúa vàng thế nào?
- b) Cành cây thế nào?
- c) Đám trẻ làm gì?
Câu 5 (trang 76): Đặt câu theo mẫu Ai thế nào? để:
a) Nói về cây đa trong bài đọc trên.
b) Nói về tình cảm của tác giả với quê hương.
Trả lời:
- a) Cây đa (cái gì?) rất to và cổ kính (thế nào?).
- b) Tác giả (ai?) rất yêu quê hương và cây đa của làng (thế nào?).
Tiết 7, 8: Luyện tập (trang 76–77)
Câu 1 (trang 76): Nghe, kể lại mẩu chuyện sau: Bác sóc đãng trí (365 chuyện kể mỗi ngày)
Tranh: bác sóc đeo kính, gãi đầu suy nghĩ, xung quanh là quyển sổ, những hạt dẻ và giỏ quả. Gợi ý:
a) Bác sóc hay quên như thế nào?
b) Ai khuyên bác sóc nên ghi việc đã làm vào sổ và tặng bác một quyển sổ?
c) Bác sóc đã làm theo lời khuyên đó như thế nào?
d) Vì sao quyển sổ ấy vẫn không giúp được bác sóc?
Trả lời: Em nghe thầy cô kể, rồi kể lại theo 4 gợi ý. Bài kể tham khảo:
- a) Bác sóc rất hay quên. Mùa thu, bác chăm chỉ đi nhặt hạt dẻ, quả thông, đem giấu thật kĩ để dành. Thế nhưng mùa đông đến, bác chẳng nhớ nổi mình đã cất thức ăn ở chỗ nào.
- b) Ông cú thông thái biết chuyện, khuyên bác nên chép hết mọi việc vào sổ, rồi tặng bác một quyển sổ thật đẹp.
- c) Bác sóc mừng lắm. Từ hôm ấy, làm việc gì bác cũng cẩn thận ghi vào sổ.
- d) Nhưng rồi bác vẫn không tìm được thức ăn, vì bác… quên mất mình đã cất quyển sổ ở đâu!
Câu chuyện vui nhắc em: làm việc gì cũng cần cẩn thận, đồ dùng nên để đúng chỗ.
Câu 2 (trang 76–77): Em cần đặt dấu chấm vào những chỗ nào để ngắt đoạn văn sau thành 3 câu? Chữ đầu câu cần viết thế nào?
Con mèo rơi từ gác cao đến đâu cũng đặt được cả bốn chân xuống trước con chó chỉ đánh hơi cũng biết người lạ, người quen chim bồ câu dù thả xa nhà hàng chục ngày đường, vẫn bay được về đúng cái tổ có hai lỗ cửa tròn treo lưng cau nhà mình. (Theo Tô Hoài)
Trả lời: Đặt dấu chấm sau xuống trước và sau người quen; viết hoa chữ đầu câu: Con chó…, Chim bồ câu…
- Câu 1 nói về con mèo (rơi từ trên cao vẫn chạm đất bằng bốn chân).
- Câu 2 nói về con chó (đánh hơi nhận ra người lạ, người quen).
- Câu 3 nói về chim bồ câu (bay xa vẫn nhớ đường về tổ).
Tiết 9, 10: Đánh giá kĩ năng đọc hiểu và viết (trang 77–79)
Phần A: đọc thầm bài thơ Luỹ tre của nhà thơ Nguyễn Công Dương (4 khổ, mỗi dòng 5 chữ), tả luỹ tre làng từ sáng sớm, buổi trưa, buổi tối đến lúc trời rạng sáng. SGK giải nghĩa: Rì rào: những âm thanh êm nhẹ, phát ra đều đều, liên tiếp. Gọng vó: khung của chiếc vó (một dụng cụ đánh bắt tôm, cá). Bần thần: nét mặt biểu hiện sự mệt mỏi hoặc đang băn khoăn, lo nghĩ.
Câu 1 (trang 78): Mỗi khổ thơ tả luỹ tre vào buổi nào trong ngày? Nối đúng:
a) Khổ thơ 1 – b) Khổ thơ 2 – c) Khổ thơ 3 – d) Khổ thơ 4
1) Tả luỹ tre vào buổi trưa. 2) Tả luỹ tre vào buổi sáng. 3) Tả luỹ tre vào rạng sáng. 4) Tả luỹ tre vào buổi tối.
Trả lời: a – 2 (khổ 1: sớm mai, tre kéo Mặt Trời lên); b – 1 (khổ 2: trưa nắng, trâu nằm nghỉ); c – 4 (khổ 3: Mặt Trời lặn, trăng sao lên); d – 3 (khổ 4: gà gáy, đêm chuyển dần về sáng).
Câu 2 (trang 78): Đánh dấu √ vào ô trống trước câu trả lời đúng:
a) Dòng thơ nào gợi tả một buổi sáng trời có gió? (Mỗi sớm mai thức dậy / Luỹ tre xanh rì rào / Ngọn tre cong gọng vó / Kéo Mặt Trời lên cao)
b) Dòng thơ nào gợi tả một buổi trưa trời lặng gió? (Những trưa đồng đầy nắng / Trâu nằm nhai bóng râm / Tre bần thần nhớ gió / Chợt về đầy tiếng chim)
c) Em hiểu nội dung bài thơ thế nào? (Bài thơ chỉ tả luỹ tre. / Bài thơ chỉ tả cảnh vật ở nông thôn. / Bài thơ nói lên tình yêu với luỹ tre, với quê hương.)
Trả lời:
- a) √ dòng thứ hai: Luỹ tre xanh rì rào (tre phát ra tiếng rì rào là vì có gió thổi).
- b) √ dòng thứ ba: Tre bần thần nhớ gió (không có gió nên tre đứng im, như đang nhớ gió).
- c) √ Bài thơ nói lên tình yêu với luỹ tre, với quê hương.
Câu 3 (trang 78): Đặt câu hỏi cho bộ phận câu in đậm:
a) Luỹ tre xanh rì rào trước gió.
b) Trâu nằm nghỉ dưới bóng tre.
c) Sao đêm như những ngọn đèn thắp sáng trên cành tre.
Trả lời:
- a) Luỹ tre xanh thế nào?
- b) Trâu làm gì?
- c) Cái gì như những ngọn đèn…?
Câu 4 (trang 78): Đặt 2 câu tả luỹ tre:
a) Một câu có bộ phận trả lời cho câu hỏi Khi nào?.
b) Một câu có bộ phận trả lời cho câu hỏi Ở đâu?.
Trả lời: Ví dụ:
- a) Mỗi buổi sớm, luỹ tre làng em đung đưa trong gió nhẹ. (Khi nào?)
- b) Luỹ tre xanh mọc dày quanh làng em. (Ở đâu?)
Câu 1 (trang 79): Nghe – viết: Hoa đào, hoa mai
Trả lời: Phần B (Viết). Bài thơ của Lệ Bình có 3 khổ, mỗi khổ 4 dòng, mỗi dòng 4 chữ, nói về hoa đào, hoa mai cùng nở khi xuân sang. Khi viết:
- Viết tên bài giữa dòng; chữ đầu mỗi dòng viết hoa, các dòng thẳng hàng; hết mỗi khổ để cách một dòng.
- Chú ý dấu chấm cuối khổ 1, dấu ba chấm cuối khổ 2, dấu phẩy trong khổ 3.
- Tiếng dễ sai: rét, lấm tấm, chỉ say, dát vàng, rộ, hội tụ, chồi.
Câu 2 (trang 79): Hãy viết 4 – 5 câu về một đồ vật, đồ chơi em yêu thích.
Gợi ý: Đó là đồ vật, đồ chơi gì (cặp sách, bàn học, gối bông hình con vật; đồ chơi hình con vật bằng bông hoặc bằng nhựa, lá, gỗ,…)? Đặc điểm (hoặc tác dụng) của đồ vật, đồ chơi đó. Tình cảm của em với đồ vật, đồ chơi đó. (Ảnh: chó bông, trâu lá đa, thỏ bông, cặp sách.)
Trả lời: Đoạn văn tham khảo:
Hè vừa rồi về quê, ông nội làm cho em một con trâu bằng lá đa. Ông gấp chiếc lá làm thân, cắt hai mẩu cuống lá làm sừng, thêm que tre làm chân. Con trâu xanh mướt, đứng vững trên mặt bàn trông rất ngộ nghĩnh. Em đặt nó cạnh góc học tập và giữ gìn cẩn thận. Mỗi lần nhìn con trâu lá đa, em lại nhớ ông nội.
Tuần ôn tập khép lại nửa đầu học kì 2. Bài học tiếp theo là Bài 28: Các mùa trong năm.